Bản dịch
THA -ap81 — Ký Sự về Trưởng Lão Ṭhitañjaliya
Ṭhitañjaliyattheraapadāna
BJT 1464Trong thời quá khứ, tôi đã là thợ săn thú rừng ở trong khu rừng hoang rậm. Tại nơi ấy, tôi đã nhìn thấy bậc Toàn Giác có tướng mạo quý cao Tissa.
BJT 1465Ngài đang ngồi ở nơi không xa, trên chiếc thảm lá của mình. Tôi đã chắp tay lại đối với Ngài rồi đã ra đi, mặt hướng phía đông.
BJT 1466Sau đó, tia sét đánh xuống vào lúc ấy đã giáng vào đầu của tôi. Vào thời điểm mệnh chung, tôi đây đã thực hiện việc chắp tay lần nữa.
BJT 1467Kể từ khi tôi đã thực hiện việc chắp tay trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc chắp tay.
BJT 1468(Trước đây) năm mươi bốn kiếp, (tôi đã là) vị có tên Migaketu, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1469Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Ṭhitañjaliyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
9. Ṭhitañjaliyattheraapadānaṃ
9. The Apadāna of the Elder Ṭhitañjaliya.
9. Phẩm truyện Trưởng lão Ṭhitañjaliya
42.
42.
42.
‘‘Migaluddo pure āsiṃ, araññe kānane ahaṃ;
Tattha addasaṃ † sambuddhaṃ, bāttiṃsavaralakkhaṇaṃ.
Formerly, I was a deer hunter in the wilderness, in the great forest. There I saw the Perfectly Enlightened One, possessing the thirty-two excellent marks.
“Thuở xưa, tôi đã là người thợ săn thú trong khu rừng hoang vắng. Tại nơi ấy, tôi đã nhìn thấy đức Chánh Đẳng Giác, bậc có ba mươi hai tướng tốt của bậc vĩ nhân.”
43.
43.
43.
‘‘Tatthāhaṃ añjaliṃ katvā, pakkāmiṃ pācināmukho;
Avidūre nisinnassa, niyake paṇṇasanthare.
There, having made the añjali gesture, I departed facing east. While I was sitting not far away on my own spread of leaves,
“Tại đó, tôi đã chắp tay, rồi đi về hướng đông. (Khi ấy) ngài đang ngồi ở nơi không xa, trên tấm lót bằng lá cây của mình.”
44.
44.
44.
‘‘Tato me asanīpāto, matthake nipatī tadā;
Sohaṃ maraṇakālamhi, akāsiṃ punarañjaliṃ.
Then a thunderbolt fell upon my head; at the time of my death, I again made the reverential salutation.
Khi ấy, một tia sét đã đánh xuống đầu tôi; vào lúc lâm chung, tôi đã chắp tay lại một lần nữa.
45.
45.
45.
‘‘Dvenavute ito kappe, añjaliṃ akariṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, añjalissa idaṃ phalaṃ.
In the ninety-two aeons since I made that añjali gesture, I know of no woeful state; this is the fruit of that añjali.
“Cách đây chín mươi hai kiếp, vào lúc ấy tôi đã chắp tay; tôi không còn biết đến khổ cảnh, đây là quả của việc chắp tay.”
46.
46.
46.
‘‘Catupaṇṇāsakappamhi, migaketusanāmako;
Sattaratanasampanno, cakkavattī mahabbalo.
In the fifty-fourth aeon from this one, I was a wheel-turning monarch named Migaketu, endowed with the seven treasures and of great strength.
“Cách đây năm mươi bốn kiếp, tôi đã là vị Chuyển luân vương tên là Migaketu, đầy đủ bảy báu, có đại oai lực.”
47.
47.
47.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, these eight liberations, and the six supernormal powers have been realized. The teaching of the Buddha has been fulfilled.
“Bốn Tuệ phân tích ... (v.v.) ... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā ṭhitañjaliyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus, indeed, the Venerable Elder Ṭhitañjaliya spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Ṭhitañjaliya đã nói những câu kệ này.
Ṭhitañjaliyattherassāpadānaṃ navamaṃ.
The ninth Apadāna of the Elder Ṭhitañjaliya is concluded.
Phẩm truyện Trưởng lão Ṭhitañjaliya, phần thứ chín.