Bản dịch
THA -ap83 — Ký Sự về Trưởng Lão Timirapupphiya
Timirapupphiyattheraapadāna
BJT 1497Tôi đi xuôi theo dòng nước ở bờ sông Candabhāgā và tôi đã nhìn thấy vị Sa-môn đang ngồi, thanh tịnh, không bị chộn rộn.
BJT 1498Tại nơi ấy, sau khi làm cho tâm được tịnh tín, vào lúc ấy tôi đã suy nghĩ như vầy: “Đã vượt qua, vị này sẽ giúp cho vượt qua. Đã rèn luyện, vị này sẽ giúp cho rèn luyện.
BJT 1499Đã được tự tại, (vị này) sẽ giúp cho tự tại. Đã được an tịnh, (vị này) sẽ giúp cho an tịnh. Đã giải thoát, (vị này) sẽ giúp cho giải thoát. Và đã Niết Bàn, (vị này) sẽ giúp cho Niết Bàn.”
BJT 1500Sau khi đã tự mình suy nghĩ như thế, tôi đã cầm lấy bông hoa timira và đã rải rắc lên đỉnh đầu của bậc Đại Ẩn Sĩ Siddhattha.
BJT 1501Tôi đã chắp tay lên và đã đi nhiễu vòng quanh. Sau khi đảnh lễ ở bàn chân của bậc Đạo Sư, tôi đã ra đi về hướng khác.
BJT 1502Vừa mới ra đi không bao lâu, (con sư tử) vua của loài thú đã tấn công tôi. Trong lúc đi lần theo triền núi, tôi đã ngã xuống ngay tại chỗ ấy.
BJT 1503(Kể từ khi) tôi đã dâng lên bông hoa trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 1504(Trước đây) năm mươi sáu kiếp, đã có đúng bảy vị có danh vọng lớn lao là các đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1505Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Timirapupphiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
1. Timirapupphiyattheraapadānaṃ
1. The Apadāna of the Elder Timirapupphiya
1. Thiên Thí dụ về Trưởng lão Timirapupphiya
1.
1.
1.
‘‘Candabhāgānadītīre, anusotaṃ vajāmahaṃ;
Nisinnaṃ samaṇaṃ disvā, vippasannamanāvilaṃ.
On the bank of the Candabhāgā river, I was going downstream; having seen the ascetic seated, exceedingly serene and untroubled.
“Tôi đang đi xuôi theo dòng ở trên bờ sông Candabhāgā. Sau khi nhìn thấy vị Sa-môn đang ngồi, tâm trí trong sáng và không bị khuấy động.
2.
2.
2.
‘‘Tattha cittaṃ pasādetvā †, evaṃ cintesahaṃ tadā;
Tārayissati tiṇṇoyaṃ, dantoyaṃ damayissati.
Having gladdened my mind toward him, I then thought thus: 'Having crossed over, he will help others cross; being tamed, he will tame others.'
Ở nơi ấy, sau khi làm cho tâm tịnh tín, tôi đã suy nghĩ như vầy: 'Bậc này đã vượt qua bờ kia, Ngài sẽ giúp kẻ khác vượt qua; bậc này đã được điều phục, Ngài sẽ giúp kẻ khác được điều phục'.
3.
3.
3.
‘‘Assāsissati assattho, santo ca samayissati;
Mocayissati mutto ca, nibbāpessati nibbuto.
The comforted one will comfort others; the peaceful one will pacify others; the freed one will free others; and the extinguished one will extinguish the defilements of others.
“‘Vị này đã được an ổn, sẽ giúp (chúng sanh) được an ổn. Vị này đã được tịch tịnh, sẽ giúp (chúng sanh) được tịch tịnh. Vị này đã được giải thoát, sẽ giúp (chúng sanh) được giải thoát. Vị này đã được dập tắt, sẽ giúp (chúng sanh) được dập tắt.’
4.
4.
4.
‘‘Evāhaṃ cintayitvāna, siddhatthassa mahesino;
Gahetvā timirapupphaṃ, matthake okiriṃ ahaṃ †.
Having thought thus, I took a timira flower and scattered it upon the head of the Great Sage Siddhattha.
“Sau khi đã suy nghĩ như thế, tôi đã lấy đóa hoa timira và đã rải lên trên đầu của bậc Đại ẩn sĩ Siddhattha.”
5.
5.
5.
‘‘Añjaliṃ paggahetvāna, katvā ca naṃ padakkhiṇaṃ;
Vanditvā satthuno pāde, pakkāmiṃ aparaṃ disaṃ.
Having raised my hands in reverence and having circumambulated him, I paid homage to the Teacher’s feet and departed to the western direction.
“Sau khi đã chắp tay lên, và sau khi đã đi quanh vị ấy theo chiều bên phải, sau khi đã đảnh lễ hai bàn chân của bậc Đạo Sư, tôi đã đi về hướng khác.”
6.
6.
6.
‘‘Aciraṃ gatamattaṃ maṃ, migarājā viheṭhayi;
Papātamanugacchanto, tattheva papatiṃ ahaṃ.
Not long after I had gone, the king of beasts assailed me. Fleeing towards a precipice, I fell right there.
“Không bao lâu sau khi vừa mới ra đi, chúa tể của loài thú đã hãm hại tôi. Trong khi đi dọc theo bờ vực thẳm, tôi đã bị té ngã ngay tại nơi ấy.”
7.
7.
7.
‘‘Catunnavutito kappe, yaṃ pupphamabhiropayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, pupphapūjāyidaṃ † phalaṃ.
Ninety-four aeons ago, when I offered that flower, I have not known any woeful state; this is the fruit of offering a flower.
“Cách đây chín mươi bốn đại kiếp, khi tôi đã dâng lên đóa hoa, tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc cúng dường hoa.”
8.
8.
8.
‘‘Chappaññāsamhi kappamhi, sattevāsuṃ mahāyasā †;
Sattaratanasampannā, cakkavattī mahabbalā.
In the fifty-sixth aeon from now, there were seven of great fame, endowed with the seven treasures, wheel-turning monarchs of great strength.
“Cách đây năm mươi sáu đại kiếp, đã có bảy vị Chuyển Luân Vương có danh tiếng lớn, có đại oai lực, và được thành tựu bảy báu vật.”
9.
9.
9.
‘‘Paṭisambhidā catasso, vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, these eight liberations, and the six direct knowledges have been realized; the Buddha’s teaching has been fulfilled.
“Bốn Tuệ phân tích, tám giải thoát này, và sáu thắng trí đã được tôi chứng ngộ, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā timirapupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Timirapupphiya spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Timirapupphiya đã nói những câu kệ này.
Timirapupphiyattherassāpadānaṃ paṭhamaṃ.
The first Apadāna of the Elder Timirapupphiya is finished.
Ký sự về Trưởng lão Timirapupphiya là phần thứ nhất.
2. Gatasaññakattheraapadānaṃ
2. The Apadāna of the Elder Gatasaññaka
2. Phẩm truyện Trưởng lão Gatasaññaka
10.
10.
10.
‘‘Jātiyā sattavassohaṃ, pabbajiṃ anagāriyaṃ;
Avandiṃ satthuno pāde, vippasannena cetasā.
At seven years of age, I went forth into homelessness; with a serene mind, I paid homage at the Teacher’s feet.
Lúc sanh ra được bảy tuổi, tôi đã xuất gia, sống không gia đình. Tôi đã đảnh lễ đôi chân của bậc Đạo Sư với tâm ý vô cùng trong sạch.
11.
11.
11.
‘‘Sattanaṅgalakīpupphe, ākāse ukkhipiṃ ahaṃ;
Tissaṃ buddhaṃ samuddissa, anantaguṇasāgaraṃ.
I tossed seven naṅgalakī flowers into the sky, dedicating them to the Buddha Tissa, an ocean of infinite virtues.
Hướng tâm đến đức Phật Tissa, là biển cả của các đức hạnh vô biên, tôi đã tung lên hư không bảy đóa hoa naṅgalakī.
12.
12.
12.
‘‘Sugatānugataṃ maggaṃ, pūjetvā haṭṭhamānaso;
Añjaliñca † tadākāsiṃ, pasanno sehi pāṇibhi.
Joyful in mind, having honored the path followed by the Sugata, then, being serene, I made an añjali with my own hands.
Với tâm ý hoan hỷ, tôi đã cúng dường con đường mà đức Thiện Thệ đã đi theo. Khi ấy, do sự trong sạch, tôi đã chắp tay bằng chính đôi tay của mình.
13.
13.
13.
‘‘Dvenavute ito kappe, yaṃ kammamakariṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Ninety-two aeons from now, when I performed that deed, I have not known any woeful state; this is the fruit of honoring the Buddha.
Cách đây chín mươi hai kiếp, tôi đã thực hiện nghiệp ấy vào lúc bấy giờ. Tôi không hề biết đến đọa xứ. Đây là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
14.
14.
14.
‘‘Ito aṭṭhamake kappe, tayo aggisikhā ahu;
Sattaratanasampannā, cakkavattī mahabbalā.
In the eighth aeon from now, there were three named Aggisikhā, endowed with the seven treasures, wheel-turning monarchs of great strength.
Cách đây vào kiếp thứ tám, đã có ba vị Chuyển Luân vương tên là Aggisikhā, các vị ấy được thành tựu bảy báu vật và có đại oai lực.
15.
15.
15.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges... the Buddha’s teaching has been fulfilled.
Bốn Tuệ phân tích ... (v.v.) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā gatasaññako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Gatasaññaka spoke these verses.
Như vậy, Đại đức Trưởng lão Gatasaññaka đã nói lên những câu kệ này.
Gatasaññakattherassāpadānaṃ dutiyaṃ.
The second Apadāna of the Elder Gatasaññaka is finished.
Phẩm truyện về Trưởng lão Gatasaññaka là phần thứ hai.