Bản dịch
THA -ap8 — Ký Sự về Trưởng Lão Upāli
Upālittheraapadāna
BJT 446Ở thành phố Haṁsavatī, vị Bà-la-môn tên Sujāta có sự tích lũy tám mươi koṭi, có dồi dào tài sản và lúa gạo.
BJT 447Là vị giảng huấn, thông thạo về chú thuật, thông suốt về ba tập Vệ-đà, đã đạt đến sự toàn hảo về (khoa) tướng mạo, về truyền thống, và về giáo lý (của Bà-la-môn).
BJT 448Khi ấy, các du sĩ ngoại đạo có một ngọn lửa, các Thinh Văn của đức Phật Gotama, các vị lang thang, và cả các đạo sĩ khổ hạnh du hành ở trái đất.
BJT 449Bọn họ cũng tháp tùng theo tôi (cho rằng): ‘Vị Bà-la-môn nổi tiếng.’ Nhiều người tôn vinh tôi, tôi không tôn vinh bất cứ người nào.
BJT 450Tôi không nhìn thấy bậc xứng đáng sự tôn vinh, khi ấy tôi ngã mạn và ương ngạnh. Khi đấng Chiến Thắng còn chưa xuất hiện thì không có từ ngữ ‘Đức Phật.’
BJT 451Bao ngày đêm trôi qua, đấng Lãnh Đạo Padumuttara, bậc Hữu Nhãn, sau khi xua đi tất cả tăm tối, đã xuất hiện ở thế gian.
BJT 452Vào lúc Giáo Pháp được phổ biến rộng rãi, được biết nhiều, và trở thành phổ thông, khi ấy đức Phật đã đi đến đến thành phố tên Haṁsa.
BJT 453Khi ấy, vì lợi ích của người cha, đức Phật bậc Hữu Nhãn ấy đã thuyết giảng Giáo Pháp. Vào thời điểm ấy, đám đông ở xung quanh là một do-tuần.
BJT 454Khi ấy, được thỏa thuận trong số mọi người, vị đạo sĩ khổ hạnh tên Sunanda ấy đã che phủ hết thảy hội chúng của đức Phật bằng những bông hoa.
BJT 455Và trong khi bậc Tối Thượng đang công bố bốn Sự Thật ở nơi mái che bằng bông hoa, đã có sự lãnh hội Giáo Pháp của một trăm ngàn koṭi người.
BJT 456Đức Phật đã đổ mưa những cơn mưa Giáo Pháp trong bảy ngày đêm. Khi đạt đến ngày thứ tám, đấng Chiến Thắng đã tán dương vị Sunanda rằng:
BJT 457“Người này trong khi luân hồi ở cõi hữu, dầu ở thế giới chư Thiên hay loài người, sẽ trở thành bậc ưu tú trong số tất cả và sẽ luân hồi ở các cõi.
BJT 458Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 459(Người này) sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, có tên là Puṇṇo Mantāniputta.”
BJT 460Lúc bấy giờ, trong khi làm cho tất cả dân chúng vui mừng, trong khi thị hiện năng lực của chính mình, bậc Toàn Giác đã tán dương đạo sĩ khổ hạnh Sunanda như thế.
BJT 461Dân chúng chắp tay lễ bái vị đạo sĩ khổ hạnh Sunanda (nghĩ rằng): “Sau khi thể hiện sự tôn kính đến đức Phật, vị ấy đã làm trong sạch cảnh giới tái sanh của bản thân.”
BJT 462Tại nơi ấy, sau khi lắng nghe lời nói của bậc Hiền Trí, tôi đã có sự suy tư rằng: “Ta cũng sẽ thể hiện sự tôn kính giống như ta nhìn thấy vị Gotama.”
BJT 463Sau khi suy nghĩ như thế, tôi đã suy nghĩ về hành động của tôi rằng: “Ta sẽ thực hành việc làm gì ở Phước Điền vô thượng?”
BJT 464Và vị tỳ khưu này là vị trì tụng trong số tất cả các vị trì tụng trong Giáo Pháp, và đã được chọn lựa là vị đứng đầu về Luật, tôi đã ước nguyện vị thế ấy.
BJT 465Tài sản này của tôi là vô lượng, không thể bị xao động tợ như biển cả. Với của cải ấy tôi đã cho xây dựng tu viện dành cho đức Phật.
BJT 466Có khu vườn tên là Sobhana ở phía Đông của thành phố. Sau khi đã mua bằng một trăm ngàn, tôi đã cho thực hiện tu viện dành cho Hội Chúng.
BJT 467Sau khi đã xây dựng các nhà mái nhọn, các lầu đài, các mái che, các tòa nhà, các hang động, các đường kinh hành khéo được tạo lập, tôi đã cho thực hiện tu viện dành cho Hội Chúng.
BJT 468Sau khi đã cho xây dựng nhà tắm hơi, nhà đốt lửa, rồi giếng nước, nhà tắm, tôi đã dâng cúng đến Hội Chúng tỳ khưu.
BJT 469Tôi đã dâng cúng mọi thứ này (gồm có) các ghế dài, các ghế đẩu, các vật dụng, các son nồi, và thuốc men dành cho tu viện.
BJT 470Sau khi đã thiết lập sự phòng hộ, tôi đã cho xây dựng tường thành vững chắc, không cho bất cứ việc gì quấy rầy đến những bậc có tâm thanh tịnh như thế ấy.
BJT 471Tôi đã cho xây dựng một trăm ngàn chỗ ngụ ở tu viện dành cho Hội Chúng. Sau khi bố trí đầy đủ tiện nghi, tôi đã cống hiến đến bậc Toàn Giác.
BJT 472“Bạch bậc Hiền Trí, xin Ngài hãy tiếp nhận ngôi tu viện đã được con hoàn thành. Bạch đấng Anh Hùng, con sẽ dâng cúng đến Ngài. Bạch đấng Hữu Nhãn, xin Ngài hãy chấp thuận.”
BJT 473Bậc Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đấng Lãnh Đạo sau khi biết được tâm tư của tôi đã chấp thuận.
BJT 474Sau khi biết được sự chấp thuận của bậc Đại Ẩn Sĩ, đấng Toàn Tri, sau khi đã chuẩn bị thức ăn, tôi đã thông báo về thời điểm.
BJT 475Khi thời điểm đã được thông báo, đấng Lãnh Đạo Padumuttara đã đi đến tu viện của tôi cùng với một ngàn bậc Vô Lậu.
BJT 476Biết được lúc Ngài đã ngồi xuống, tôi đã làm toại ý Ngài với cơm ăn và nước uống. Biết được lúc Ngài đã thọ thực xong, tôi đã nói lời nói này:
BJT 477“Bạch đấng Hiền Trí, tu viện tên Sobhana đã được mua bằng một trăm ngàn và đã được cho xây dựng với chừng cỡ ấy, xin Ngài hãy tiếp nhận.
BJT 478Do sự dâng cúng tu viện này và do các nguyện lực của tác ý, trong khi sanh ra ở cõi hữu, mong sao con đạt được điều con đã ước nguyện.”
BJT 479Sau khi thọ nhận tu viện dành cho Hội Chúng đã được xây dựng khéo léo, đấng Toàn Giác đã ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu và đã nói lời nói này:
BJT 480“Người nào đã dâng lên tu viện dành cho Hội Chúng đã được xây dựng khéo léo đến đức Phật, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói.
BJT 481Các con voi, các con ngựa, các cỗ xe, các binh lính và quân đội gồm bốn binh chủng sẽ thường xuyên hộ tống người này; điều này là quả báu về (sự dâng cúng) tu viện dành cho Hội Chúng.
BJT 482Sáu mươi ngàn nhạc cụ và những chiếc trống lớn được tô điểm sẽ thường xuyên tháp tùng người này; điều này là quả báu về (sự dâng cúng) tu viện dành cho Hội Chúng.
BJT 483Tám mươi sáu ngàn phụ nữ được trang điểm, được trang hoàng bằng các loại vải vóc nhiều màu sắc, có các bông tai bằng ngọc trai và ngọc ma-ni.
BJT 484Có lông mi cong, có nụ cười, có điệu bộ duyên dáng, có eo thon, các nàng sẽ thường xuyên vây quanh người này; điều này là quả báu về (sự dâng cúng) tu viện dành cho Hội Chúng.
BJT 485Người này sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong ba mươi ngàn kiếp, và sẽ là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc một ngàn lần.
BJT 486(Người này) sẽ thọ lãnh mọi thứ mà vị Thiên Vương có thế đạt được, sẽ có của cải không bị thiếu hụt, và sẽ cai quản Thiên quốc.
BJT 487(Người này) sẽ trở thành trở thành đấng Chuyển Luân Vương ở quốc độ một ngàn lần. Vương quyền ở trái đất là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.
BJT 488Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 489(Người này) sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, có tên là Upāli.
BJT 490Sau khi đạt được sự toàn hảo về Luật và rành rẽ về sự thành lập hay không thành lập (tội), trong lúc duy trì Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, (người này) sẽ sống không còn lậu hoặc.
BJT 491Sau khi biết rõ mọi việc này, đức Gotama bậc Cao Quý dòng Sakya sẽ ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu và sẽ thiết lập (người này) vào vị thế tối thắng.”
BJT 492Con ao ước về Giáo Pháp của Ngài đã là vô lượng (kiếp). (Giờ) con đã đạt mục đích ấy và có được sự đoạn tận tất cả mọi điều trói buộc.
BJT 493Giống như khi bị buộc vào cọc nhọn, người đàn ông khiếp sợ hình phạt của đức vua, trong khi không tìm thấy sự thoải mái ở cọc nhọn thì mong mỏi chỉ mỗi sự phóng thích.
BJT 494Bạch đấng Đại Hùng, tương tợ y như thế con khiếp sợ hình phạt của sự hiện hữu. Trong khi bị buộc vào cọc nhọn của nghiệp báo, con bị phiền muộn vì sự cảm thọ khát khao.
BJT 495Bị thiêu đốt bởi ba ngọn lửa, con không thấy thoải mái ở hiện hữu. Cũng tợ như người bị hành phạt bởi đức vua, con tầm cầu sự giải thoát.
BJT 496Giống như người bị rắn độc cắn thì bị nọc độc hành hạ, người ấy có thể tìm kiếm phương thuốc là cách thức làm cho tiêu tan nọc độc.
BJT 497Trong khi tìm kiếm có thể nhìn thấy phương thuốc là vật làm tiêu tan nọc độc. Sau khi uống thuốc ấy, người ấy có thể có được sự an lạc do việc thoát khỏi nọc độc.
BJT 498Bạch đấng Đại Hùng, tương tợ y như thế, bị hành hạ bởi vô minh con đã tầm cầu phương thuốc Chánh Pháp, giống như người đàn ông bị hãm hại bởi nọc độc (đã tìm phương thuốc giải độc).
BJT 499Trong khi tìm kiếm phương thuốc Giáo Pháp, con đã nhìn thấy lời chỉ dạy của vị dòng Sakya ấy là cao quý trong số tất cả các loại thuốc men, là sự nhổ lên tất cả các mũi tên.
BJT 500Sau khi uống vào phương thuốc Giáo Pháp, con đã xóa sạch tất cả nọc độc, con đã chạm đến Niết Bàn có trạng thái mát mẻ không già không chết.
BJT 501Giống như người bị ma quỷ khuấy rối, bị hành hạ bởi ma quỷ nhập vào, thì có thể tìm thầy chữa bệnh ma quỷ nhằm thoát khỏi ma quỷ.
BJT 502Trong khi tìm kiếm có thể nhìn thấy vị rành rẽ các sự hiểu biết về ma quỷ. Vị ấy có thể diệt trừ ma quỷ cho người ấy và có thể làm cho tiêu tan tận gốc rễ.
BJT 503Bạch đấng Đại Hùng, tương tợ y như thế con bị phiền muộn bởi sự xâm nhập của tăm tối, con tìm kiếm ánh sáng của trí tuệ nhằm sự giải thoát khỏi tăm tối.
BJT 504Giờ con đã nhìn thấy bậc Hiền Trí dòng họ Sakya có sự trong sạch đối với các điều tăm tối phiền não. Vị ấy đã xua đi sự tăm tối của con, tợ như người thầy chữa bệnh ma quỷ xua đi ma quỷ.
BJT 505Con đã cắt đứt dòng chảy luân hồi, đã chận đứng dòng nước tham ái, đã thủ tiêu tất cả hữu tận gốc rễ, tợ như vị thầy chữa bệnh ma quỷ.
BJT 506Giống như loài nhân điểu lao xuống con rắn là mồi của bản thân nó, nó khuấy động hồ nước lớn ở xung quanh đến một trăm do-tuần.
BJT 507Sau khi bắt được con rắn, con nhân điểu liền gây tổn thương phía dưới đầu (con rắn). Sau khi tóm lấy (con rắn), nó ra đi đến nơi dự tính.
BJT 508Bạch đấng Đại Hùng, tương tợ y như thế, trong khi tầm cầu (Niết Bàn) không còn tạo tác, con đã tẩy uế sạch sẽ các điều xấu xa, cũng giống như con nhân điểu có sức mạnh (tìm kiếm con mồi rồi tiêu diệt).
BJT 509Con đã nhìn thấy Giáo Pháp cao quý là đạo lộ an tịnh vô thượng, con đã nắm giữ điều này và an trú giống như con nhân điểu tóm lấy con rắn rồi mang đi.
BJT 510Có loại dây leo tên là āsāvatī được sanh ra tại khu rừng Cittalatāvana (ở cõi trời Đạo Lợi). Đối với loại dây leo ấy một ngàn năm nó sanh ra một trái.
BJT 511Chư Thiên gần gũi với loại dây leo ấy cho đến khi nó có trái sau thời gian dài lâu. Loài dây leo thượng hạng āsāvatī ấy được chư Thiên yêu quý như thế.
BJT 512Con thân cận với bậc Hiền Trí ấy đến một trăm ngàn (năm), con lễ bái sáng chiều như là chư Thiên gần gũi với trái āsāvatī vậy.
BJT 513Sự phục vụ không phải là không có kết quả và sự lễ bái là không phải là rỗng không. Dầu con đang trải qua (luân hồi) dài lâu thăm thẳm, cơ hội (về sự xuất hiện của đức Phật) đã không bỏ rơi con.
BJT 514Trong khi xem xét các cõi, con không nhìn thấy sự tiếp nối tái sanh. Không còn nền tảng tái sanh, đã hoàn toàn giải thoát, được an tịnh, con đi đó đây.
BJT 515Bạch đấng Đại Hùng, cũng giống như đóa hoa sen nở rộ nhờ tia nắng mặt trời, tương tợ y như thế con được thăng hoa nhờ vào hào quang của đức Phật.
BJT 516Giống như trong việc sanh sản của loài hạc nâu, hạc nâu đực không bao giờ được biết đến, những con hạc nâu cái ấy luôn luôn được thụ thai trong khi những cơn mưa đang gào thét.
BJT 517Những con hạc nâu cái ấy còn duy trì bào thai lâu dài đến chừng nào cơn mưa còn chưa đổ xuống. Khi cơn mưa đổ xuống, chúng được thoát khỏi gánh nặng.
BJT 518Được gào thét bởi cơn mưa Giáo Pháp của đức Phật Padumuttara, con đã kết tụ bào thai Giáo Pháp nhờ vào âm thanh của cơn mưa Giáo Pháp.
BJT 519Con mang theo bào thai phước báu đến một trăm ngàn (kiếp), con không được thoát khỏi gánh nặng (luân hồi) khi cơn mưa Giáo Pháp chưa gào thét.
BJT 520Bạch đấng Hiền Trí của dòng họ Sakya, khi nào Ngài gào thét với cơn mưa Giáo Pháp ở thành Kapilavatthu đáng yêu thì con được giải thoát khỏi gánh nặng (luân hồi).
BJT 521Con đã nhận thức về không tánh, về vô tướng, và cũng như thế về vô nguyện, về bốn Quả vị và tất cả các pháp.
(Tụng phẩm thứ nhì).
BJT 522Con ước nguyện về Giáo Pháp của Ngài đã là vô lượng (kiếp). (Giờ) con đã đạt đến mục đích ấy và vị thế an tịnh vô thượng (Niết Bàn).
BJT 523Cũng giống như vị ẩn sĩ (tỳ khưu) là bậc trì tụng, con đã đạt đến sự toàn hảo về Luật, không có vị nào sánh bằng với con, con duy trì Giáo Pháp.
BJT 524Về Luật (Tỳ Khưu và Tỳ Khưu Ni), luôn cả Luật Hợp Phần (Đại Phẩm và Tiểu Phẩm), theo cách chia làm ba phần và phần thứ năm, ở đây con không có điều gì nghi ngờ về mẫu tự hay từ ngữ.
BJT 525Con được rành rẽ về việc khiển trách tội, về việc sửa chữa tội, về sự thành lập hay không thành lập tội, về việc phục hồi (phẩm vị), về việc làm cho hết tội, con đã đạt đến sự toàn hảo về mọi lãnh vực.
BJT 526Sau khi lấy ra một điều học ở Luật (Phân Tích) thậm chí ở Luật Hợp Phần, con có thế gỡ rối về cả hai bộ Luật và giải thích điều cốt lõi.
BJT 527Con vô cùng thiện xảo về ngôn từ và rành rẽ về điều lợi ích hoặc không lợi ích. Không có điều (Luật) gì là con không biết đến, con là vị có sự chăm chú về Giáo Pháp của bậc Đạo Sư.
BJT 528Giờ đây trong thời điểm hiện tại, con xua đi tất cả mọi điều ngờ vực về Giáo Pháp của người con trai dòng Sakya, con cắt đứt tất cả các điều nghi hoặc.
BJT 529Con rành rẽ về câu cú, luôn cả phần phụ thuộc của câu cú, về mẫu tự, luôn cả từ ngữ, về nhập đề, về kết thúc, về tất cả các lãnh vực này.
BJT 530Cũng giống như vị vua hùng mạnh có thể khống chế và gây khó khăn cho kẻ địch, sau khi toàn thắng cuộc chiến thì có thể kiến thiết thành phố ở tại nơi ấy.
BJT 531(Đức vua) có thể cho xây dựng tường thành, luôn cả hào rãnh, trạm gác, cổng thành, và nhiều vọng canh đủ các loại ở thành phố.
BJT 532Ở tại nơi ấy, (đức vua) có thể cho xây dựng ngã tư đường, bùng binh, khu phố chợ khéo được phân bố, và phòng hội họp để quyết định điều hay lẽ thiệt.
BJT 533Đức vua bổ nhiệm vị tướng lãnh quân đội với nhiệm vụ tiêu diệt những kẻ nghịch, để biết được thế yếu và thế mạnh nhằm bảo toàn binh lực.
BJT 534Nhằm mục đích bảo quản phẩm vật, đức vua bổ nhiệm người nam thiện xảo trong việc cất giữ làm người thủ khố: “Chớ làm thất thoát phẩm vật của Trẫm.”
BJT 535Người nào tận tụy đối với đức vua và mong muốn ngài có được sự tiến triển, đức vua ban cho người ấy quyền phân xử để được trở thành cận thần của ngài.
BJT 536Đức vua phong cho vị giảng huấn thông thạo về chú thuật, rành rẽ về các điềm báo hiệu và các hiện tượng đã được sanh khởi vào địa vị quân sư.
BJT 537(Đức vua) hội đủ những yếu tố này được gọi là ‘Sát-đế-lỵ.’ (Quần thần) luôn bảo vệ đức vua tợ như con ngỗng đỏ luôn hộ trì kẻ bị khổ đau.
BJT 538Bạch đấng Đại Hùng, tương tợ như thế ấy, Ngài được gọi là “Pháp Vương” của thế gian luôn cả chư Thiên, tợ như vị Sát-đế-lỵ có kẻ thù đã bị đánh bại.
BJT 539Sau khi đánh bại các ngoại đạo và luôn cả Ma Vương cùng với đội quân binh, sau khi hủy diệt sự tăm tối ấy, Ngài đã xây dựng thành phố Giáo Pháp.
BJT 540Bạch đấng Trí Tuệ, tại nơi ấy giới là tường thành, trí của Ngài là cổng thành, tín của Ngài là trạm gác, và sự thu thúc là người canh gác cổng.
BJT 541Bạch đấng Hiền Trí, sự thiết lập niệm là vọng canh, tuệ của Ngài là bùng binh, và nền tảng của thần thông là ngã tư đường; con đường Giáo Pháp đã khéo được xây dựng.
BJT 542Toàn bộ Kinh, Vi Diệu Pháp, và luôn cả Luật là lời dạy của đức Phật gồm có chín thể loại; đây là phòng hội về Giáo Pháp của Ngài.
BJT 543Sự an trú không tánh, sự an trú vô tướng, và sự an trú vô nguyện, (bốn Quả vị Sa-môn) không bị lay chuyển, và sự tịch diệt (Niết Bàn); đây là căn nhà Giáo Pháp của Ngài.
BJT 544Vị có tên Sāriputta đã được chọn lựa là vị đứng đầu về tuệ, được rành rẽ về biện tài, là vị Tướng Quân Chánh Pháp của Ngài.
BJT 545Bạch đấng Hiền Trí, vị tên Kolita được thiện xảo về sanh tử (thông), đã đạt đến sự toàn hảo về thần thông là viên quan tế tự của Ngài.
BJT 546Bạch đấng Hiền Trí, vị duy trì truyền thống cổ xưa (Mahākassapa), có oai lực nổi bật, khó mà tiếp cận, đứng đầu về đức hạnh trong việc giáo giới các pháp giũ bỏ, là viên quan phán xử của Ngài.
BJT 547Bạch đấng Hiền Trí, vị tên Ānanda nghe nhiều (học rộng), nắm giữ Giáo Pháp, có sự trì tụng toàn bộ về lời chỉ dạy, là vị bảo vệ Giáo Pháp của Ngài.
BJT 548Sau khi điểm qua tất cả các vị này, đức Thế Tôn đã cân nhắc đến tôi và đã ban cho tôi việc phân xử về Luật đã được bậc Thức Tri thuyết giảng.
BJT 549Bất cứ vị Thinh Văn nào của đức Phật hỏi câu hỏi về Luật, tôi không cần có sự suy nghĩ về câu hỏi ấy, tôi giảng giải đúng ngay ý nghĩa câu hỏi ấy
BJT 550Cho đến địa phận của chư Phật ngoại trừ bậc Đại Hiền Trí ấy, không ai sánh bằng tôi về Luật, làm sao sẽ có vị hơn được?
BJT 551Sau khi ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu, đức Gotama khẳng định như vầy: “Không có vị nào sánh bằng Upāli về Luật (Phân Tích) và các bộ Hợp Phần.”
BJT 552Cho đến Giáo Pháp của bậc Đạo Sư có chín thể loại đã được đức Phật nói ra, đối với người nhận thức được ‘Luật là nền tảng’ thì tất cả (Giáo Pháp) đều được bao gồm trong Luật.
BJT 553Sau khi nhớ lại việc làm của tôi, đức Gotama bậc Cao Quý dòng Sakya đã ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu và đã thiết lập tôi vào vị thế tối thắng.
BJT 554Tôi đã ước nguyện về vị thế ấy từ trăm ngàn (kiếp), tôi đã đạt đến mục đích ấy, đã đạt đến sự toàn hảo về Luật.
BJT 555Trước đây tôi đã là người thợ cạo râu tóc đem lại niềm vui cho các vị dòng Sakya. Sau khi lìa bỏ sự xuất thân ấy, tôi đã trở thành người con trai của bậc Đại Ẩn Sĩ.
BJT 556Trước đây hai kiếp, vị hộ trì trái đất là vị Sát-đế-lỵ tên Añjasa có oai lực vô biên, có danh vọng vô lượng, có tài sản lớn lao.
BJT 557Là người con trai của vị vua ấy, tôi là vị Sát-đế-lỵ tên Candana. Tôi đã ỷ lại vào sự kiêu hãnh về dòng dõi và sự kiêu hãnh về danh vọng và của cải.
BJT 558Một trăm ngàn con long tượng mātaṅga (đến tuổi) bị tiết dục ở ba nơi, được tô điểm với tất cả các loại trang sức, luôn luôn hộ tống tôi.
BJT 559Khi ấy, được tháp tùng bởi các binh lính của mình, là người có ý thích đi đạo khu vườn, tôi đã cỡi lên con voi Sirika và đã rời khỏi thành phố.
BJT 560Đức Phật tên Devala đầy đủ tánh hạnh, có các căn được phòng hộ, khéo thu thúc đã đi đến phía trước tôi.
BJT 561Khi ấy, tôi đã thúc con voi Sirika và đã công kích đức Phật. Do đó, con voi ấy đã nổi cơn giận dữ và không chịu nhấc bàn chân lên.
BJT 562Sau khi nhìn thấy con voi có tâm ý bất bình, tôi đã thể hiện sự giận dữ đối với đức Phật. Sau khi gây khó khăn cho đức Phật, tôi đã đi đến khu vườn.
BJT 563Tôi không tìm thấy sự thoải mái ở tại nơi ấy giống như cái đầu đã bị bốc cháy, tôi bị thiêu đốt vì sự bực bội tợ như con cá bị vướng vào lưỡi câu.
BJT 564Việc xảy ra cho tôi tợ như trái đất bị rực cháy đến tận bờ biển, tôi đã đi đến gặp người cha và đã nói lời nói này:
BJT 565“Việc con đã công kích đấng Tự Chủ tợ như con rắn độc bị nổi giận, tợ như khối lửa đã tiến đến, tợ như con voi có sự huấn luyện bị động cỡn.
BJT 566Đức Phật, đấng Chiến Thắng có khổ hạnh nổi bật khủng khiếp, đã bị con công kích. Trước khi tất cả chúng ta bị tiêu diệt, chúng ta hãy xin bậc Hiền Trí ấy thứ lỗi.
BJT 567Ngài là vị có bản thân đã được rèn luyện được định tĩnh, nếu chúng ta không được vị ấy tha thứ thì xứ sở của con sẽ bị tiêu hoại trong vòng bảy ngày.
BJT 568(Các vị vua) Sumekhala, Kosiya, Siggava, và luôn cả Sattuko sau khi công kích các vị ẩn sĩ, họ cùng với cư dân của xứ sở đã lâm cảnh khổ đau.
BJT 569Khi các vị ẩn sĩ đã tự chế ngự, có sự thực hành Phạm hạnh, nổi cơn bực tức, các vị làm cho thế gian cùng với biển cả và núi non luôn cả chư Thiên bị hủy hoại.”
BJT 570Tôi đã triệu tập các nam nhân trong phạm vi ba ngàn do-tuần, và tôi đã đi đến gặp đấng Tự Chủ với ý định sám hối tội lỗi.
BJT 571Hết thảy tất cả có y phục ướt đẫm, có đầu tóc ướt đẫm đã chắp tay lên. Sau khi quỳ xuống ở bàn chân của đức Phật, bọn họ đã nói lời nói này:
BJT 572“Bạch đấng Đại Hùng, dân chúng cầu xin Ngài, xin Ngài hãy tha thứ, xin Ngài hãy xua đi nỗi bực bội, xin Ngài chớ hủy hoại xứ sở của chúng tôi.”
BJT 573“Xin tất cả loài người và chư Thiên cùng với hạng người khổng lồ và các quỷ dữ hãy đập bể đầu của con bằng cái chày vồ làm bằng sắt vào mọi lúc.”
BJT 574(Vị Phật đáp): “Ngọn lửa không tồn tại ở nước, hạt giống không mọc lên ở tảng đá, sâu bọ không tồn tại ở thuốc men, sự giận dữ không nảy sanh ở đức Phật.
BJT 575Cũng giống như trái đất thì không lay chuyển, biển cả thì không thể đo lường, và không gian thì vô tận, tương tợ như vậy chư Phật là không giao động.
BJT 576Các đấng Đại Hùng luôn nhẫn nại, các đạo sĩ khổ hạnh luôn thứ tha. Đối với các vị đã nhẫn nại đã thứ tha, việc đi đến sự bực bội là không có.”
BJT 577Nói xong điều này, trong khi xua đi sự bực bội, đức Phật khi ấy đã bay lên không trung ở phía trước đám đông dân chúng.
BJT 578Bạch đấng trí tuệ, do nghiệp ấy con đã đi đến bản thể thấp kém. Sau khi tự vượt lên trên số phận ấy, con đã đi vào thành phố không hãi sợ (Niết Bàn).
BJT 579Bạch đấng Đại Hùng, cũng vào khi ấy con đã cầu xin đấng Tự Chủ thứ lỗi và vị ấy đã xua đi sự bực bội đang thiêu đốt con, đang tồn tại vững chắc ở con.
BJT 580Bạch đấng Đại Hùng, hôm nay cũng vậy trong khi con đang bị thiêu đốt bởi ba ngọn lửa, Ngài đã dập tắt ba ngọn lửa và giúp con đạt đến trạng thái mát mẻ.
BJT 581Nếu các người có sự chú ý vào việc nghe thì hãy lắng nghe khi tôi đang nói. Tôi sẽ giảng giải ý nghĩa cho các người về việc tôi đã thấy được vị thế (Niết Bàn) như thế nào.
BJT 582Sau khi đã khinh miệt đấng Tự Chủ là vị có tâm an tịnh, định tĩnh ấy, do nghiệp ấy ngày hôm nay tôi đã bị sanh ra vào dòng dõi thấp kém.
BJT 583Các người chớ để cơ hội trôi qua bởi vì khi cơ hội đã trôi qua các người sẽ sầu muộn. Các người hãy nên tinh tấn cho lợi ích của chính mình, cơ hội sẽ xảy đến cho các người.
BJT 584Và (Giáo Pháp) đối với một số người là sự ói mửa, đối với một số người là sự tháo dạ, đối với số người là chất độc chết người và đối với một số người là phương thuốc.
BJT 585Là sự ói mửa đối với những người đang thực hành, là sự xổ ruột đối với những người tiến đến Quả vị, là phương thuốc đối với những người có sự thành tựu Quả vị, là Phước Điền đối với những người tầm cầu.
BJT 586Chất độc chết người (tác hại) đối với những kẻ thù nghịch Giáo Pháp như thế nào, thì con rắn độc có nọc độc tà kiến thiêu đốt người đàn ông ấy như vậy.
BJT 587Được uống một lần, chất độc chết người chấm dứt mạng sống. Còn người khi đã thù nghịch với Giáo Pháp thì bị thiêu đốt một koṭi (mười triệu) kiếp.
BJT 588Do sự nhẫn nại, do sự không hãm hại, và do sự hành trì tâm từ ái, đức Phật giúp thế gian luôn cả chư Thiên vượt qua; vì thế các người không nên thù nghịch.
BJT 589Chư Phật tương đương với trái đất, các Ngài không bị vướng bận vào các sự được lợi hay mất lợi, vào sự kính trọng hay không kính trọng; vì thế các người không nên thù nghịch.
BJT 590Trong trường hợp kẻ phá hoại Devadatta, kẻ cướp Aṅgulimāla, con voi Dhanapāla, và (người con trai) Rāhula, bậc Hiền Trí là bình đẳng đối với tất cả.
BJT 591Các vị này không có sự bất bình, các vị này không biết đến sự luyến ái. Đức Phật là bình đẳng đối với tất cả, đối với kẻ phá hoại cũng như đối với người con ruột.
BJT 592Sau khi nhìn thấy ở trên đường tấm y ca-sa bị quăng bỏ lấm lem bởi phân bò, nên chắp tay ở trên đầu đảnh lễ biểu tượng của bậc Ẩn Sĩ.
BJT 593Chư Phật quá khứ, hiện tại, và vị lai được thanh tịnh nhờ vào biểu tượng này, vì thế những vị này đáng được lễ bái.
BJT 594Luật tốt đẹp được xem như là bậc Đạo Sư, tôi duy trì Luật bằng trái tim. Trong khi tôn kính đối với Luật, tôi sẽ luôn luôn an trú.
BJT 595Luật là khuynh hướng của tôi, Luật là chỗ đứng và là đường kinh hành (của tôi), tôi sắp xếp sự cư ngụ ở trong Luật, Luật là hành xứ của tôi.
BJT 596Tôi đã đạt đến sự toàn hảo về Luật và cũng rành rẽ các pháp dàn xếp (về tranh tụng). Bạch đấng Đại Hùng, Upāli đảnh lễ ở bàn chân của Ngài là bậc Đạo Sư.
BJT 597Trong khi lễ bái bậc Toàn Giác và bản chất tốt đẹp của Giáo Pháp, tôi đây sẽ du hành từ làng này đến làng khác, từ thành phố này đến thành phố khác.
BJT 598Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch, tất cả các lậu hoặc đã được đoạn tận, giờ đây không còn tái sanh nữa.
BJT 599Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật vào thời hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 600Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Upāli đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3-6. Upālittheraapadānaṃ
The Apadāna of the Elder Upāli.
3-6. Thí dụ về Trưởng lão Upāli
441.
441.
441.
‘‘Nagare haṃsavatiyā, sujāto nāma brāhmaṇo;
Asītikoṭinicayo, pahūtadhanadhaññavā.
In the city of Haṃsavatī, there was a brahmin named Sujāta. He possessed eighty crores, with abundant wealth and grain.
Tại thành phố Haṃsavatī, có một vị Bà-la-môn tên là Sujāta, người tích trữ tám mươi koṭi, sở hữu nhiều của cải và lúa gạo.
442.
442.
442.
‘‘Ajjhāyako mantadharo, tiṇṇaṃ vedāna pāragū;
Lakkhaṇe itihāse ca, sadhamme pāramiṃ gato.
A scholar, a bearer of mantras, one who had gone to the further shore of the three Vedas; in the science of bodily marks and in legends, and in his own craft, he had reached perfection.
Là người dạy học, thông thuộc thánh điển, tinh thông ba tập Vệ-đà, đã đạt đến sự toàn hảo về tướng pháp, về cổ sử, và về giáo lý của mình.
443.
443.
443.
‘‘Paribbājā ekasikhā †, gotamā
Wanderers, ascetics with a single topknot, those of the Gotama clan,
Các du sĩ, các vị có một búi tóc, các vị thuộc dòng dõi Gotama,
Buddhasāvakā †.
ascetics named 'Buddhasāvaka',
các vị Buddhasāvaka,
Carakā tāpasā ceva, caranti mahiyā tadā.
those feigning to be ascetics, and hermits—at that time, they wandered upon the earth.
các vị Caraka và các đạo sĩ khổ hạnh, khi ấy đã đi lại trên mặt đất.
444.
444.
444.
‘‘Tepi maṃ parivārenti, brāhmaṇo vissuto iti;
Bahujjano maṃ pūjeti, nāhaṃ pūjemi kiñcanaṃ.
They too surrounded me, thinking, 'This brahmin is renowned!' The populace revered me, but I revered no one at all.
Họ cũng vây quanh ta, (nghĩ rằng): 'Vị Bà-la-môn này thật danh tiếng.' Nhiều người tôn kính ta, nhưng ta không tôn kính bất cứ ai.
445.
445.
445.
‘‘Pūjārahaṃ na passāmi, mānatthaddho ahaṃ tadā;
Buddhoti vacanaṃ natthi, tāva nuppajjate jino.
I saw no one worthy of reverence; I was stiff with conceit at that time. So long as the Conqueror had not arisen, the word 'Buddha' was not to be heard.
Ta không thấy ai đáng được tôn kính, khi ấy ta là người cứng nhắc vì kiêu mạn. Chừng nào bậc Toàn Thắng chưa xuất hiện, chừng đó không có từ 'Phật'.
446.
446.
446.
‘‘Accayena ahorattaṃ, padumuttaranāmako †;
Sabbaṃ tamaṃ vinodetvā, loke uppajji cakkhumā.
With the passing of days and nights, the one named Padumuttara, the Seeing One, having dispelled all darkness, arose in the world.
Sau khi ngày đêm trôi qua, bậc Hữu Nhãn tên là Padumuttara, sau khi đã xua tan tất cả bóng tối, đã xuất hiện ở thế gian.
447.
447.
447.
‘‘Vitthārike bāhujaññe, puthubhūte ca sāsane;
Upāgami tadā buddho, nagaraṃ haṃsasavhayaṃ.
When the teaching was widespread, known to many, and extensive, the Buddha at that time approached the city named Haṃsa.
Khi giáo Pháp được lan rộng, được nhiều người biết đến, và trở nên phổ biến, vào lúc ấy, đức Phật đã đi đến thành phố tên là Haṃsa.
448.
448.
448.
‘‘Pitu atthāya so buddho, dhammaṃ desesi cakkhumā;
Tena kālena parisā, samantā yojanaṃ tadā.
For the benefit of his father, that Buddha, the Seeing One, taught the Dhamma. At that time, the assembly extended for a yojana all around.
Vị Phật ấy, bậc có Năm Mắt, vì lợi ích của phụ thân, đã thuyết giảng giáo Pháp. Vào lúc ấy, hội chúng ở xung quanh rộng đến một do-tuần.
449.
449.
449.
‘‘Sammato manujānaṃ so, sunando nāma tāpaso;
Yāvatā buddhaparisā, pupphehacchādayī tadā.
At that time, there was an ascetic named Sunanda, who was esteemed by humans. As far as the Buddha's assembly extended, so far did he cover it with flowers.
Vào lúc ấy, có vị ẩn sĩ tên là Sunanda, được loài người tôn kính. Vị ấy đã dùng các loài hoa che phủ khắp nơi có hội chúng của đức Phật.
450.
450.
450.
‘‘Catusaccaṃ pakāsente, seṭṭhe ca † pupphamaṇḍape;
Koṭisatasahassānaṃ, dhammābhisamayo ahu.
While he was proclaiming the Four Truths in the excellent flower pavilion, the breakthrough to the Dhamma occurred for a hundred thousand crores of beings.
Trong khi Ngài đang tuyên thuyết về Tứ Diệu Đế tại gian sảnh bằng hoa tuyệt hảo, sự thấu hiểu giáo Pháp đã xảy đến cho một trăm ngàn ức chúng sanh.
451.
451.
451.
‘‘Sattarattindivaṃ buddho, vassetvā dhammavuṭṭhiyo;
Aṭṭhame divase patte, sunandaṃ kittayī jino.
The Buddha, having rained down showers of Dhamma for seven days and nights, when the eighth day arrived, the Conqueror made a proclamation concerning Sunanda.
Đức Phật đã ban mưa Pháp trong suốt bảy ngày bảy đêm. Khi đến ngày thứ tám, bậc Chiến Thắng đã tuyên thuyết (lời thọ ký) về ngài Sunanda.
452.
452.
452.
‘‘Devaloke manusse vā, saṃsaranto ayaṃ bhave;
Sabbesaṃ pavaro hutvā, bhavesu saṃsarissati.
Wandering in this existence, whether in the world of devas or of humans, this one will wander through existences, having become the foremost of all.
Vị này, khi còn luân hồi trong các kiếp sống, dù ở cõi trời hay cõi người, sẽ trở thành bậc ưu việt hơn tất cả và sẽ tiếp tục luân hồi trong các kiếp sống.
453.
453.
453.
‘‘Kappasatasahassamhi, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
In a hundred thousand aeons, arisen from the Okkāka clan, a Teacher, Gotama by clan name, will appear in the world.
Trong một trăm ngàn đại kiếp nữa, một vị Đạo Sư sẽ xuất hiện ở thế gian, sanh ra trong dòng dõi Okkāka, có tên tộc là Gotama.
454.
454.
454.
‘‘Tassa dhammesu dāyādo, oraso dhammanimmito;
Mantāṇiputto puṇṇoti, hessati satthu sāvako.
His heir in the Dhamma, his legitimate son, fashioned by the Dhamma, will be Puṇṇa, son of Mantāṇī, a disciple of the Teacher.
Vị ấy sẽ là người thừa tự trong giáo Pháp của Ngài, là người con đích thực do Pháp tạo ra, là con trai của bà Mantāṇī, tên là Puṇṇa, sẽ trở thành vị thinh văn của bậc Đạo Sư.
455.
455.
455.
‘‘Evaṃ kittayi sambuddho, sunandaṃ tāpasaṃ tadā;
Hāsayanto janaṃ sabbaṃ, dassayanto sakaṃ balaṃ.
Thus the Sambuddha at that time made a proclamation concerning the ascetic Sunanda, delighting all the people and displaying his own power.
Như vậy, bậc Chánh Đẳng Giác đã tuyên thuyết về ẩn sĩ Sunanda vào lúc ấy, làm cho tất cả mọi người hoan hỷ, và thể hiện năng lực của chính Ngài.
456.
456.
456.
‘‘Katañjalī namassanti, sunandaṃ tāpasaṃ janā;
Buddhe kāraṃ karitvāna, sodhesi gatimattano.
The people, with hands raised in reverence, paid homage to the ascetic Sunanda, saying: 'Having performed a meritorious deed towards the Buddha, you have purified your own destination.'
Dân chúng chắp tay đảnh lễ ẩn sĩ Sunanda. Sau khi đã làm việc công đức đối với đức Phật, vị ấy đã thanh lọc cảnh giới tương lai của mình.
457.
457.
457.
‘‘Tattha me ahu saṅkappo, sutvāna munino vacaṃ;
Ahampi kāraṃ kassāmi, yathā passāmi gotamaṃ.
There, having heard the Sage's word, a resolve arose in me: 'I too shall perform a meritorious deed, so that I may see Gotama.'
Vào lúc ấy, sau khi nghe lời của bậc Hiền Triết, một ý định đã khởi lên trong tôi: ‘Ta cũng sẽ làm một việc (công đức) để có thể gặp được đức Gotama.’
458.
458.
458.
‘‘Evāhaṃ cintayitvāna, kiriyaṃ cintayiṃ mama;
Kyāhaṃ kammaṃ ācarāmi, puññakkhette anuttare.
Having thought thus, I considered my course of action: 'What deed should I perform in this unsurpassed field of merit?'
Sau khi suy nghĩ như vậy, tôi đã suy xét về hành động của mình: ‘Ta nên thực hành nghiệp phước nào trong ruộng phước vô thượng đây?’
459.
459.
459.
‘‘Ayañca pāṭhiko bhikkhu, sabbapāṭhissa sāsane;
Vinaye agganikkhitto, taṃ ṭhānaṃ patthaye ahaṃ.
In the teaching of the one who proclaims the entire canon, this monk, a master of the texts, is declared foremost in the Vinaya. I shall aspire to that position.
Vị tỳ-khưu này, một người thông thuộc kinh điển, trong giáo Pháp của bậc Toàn Giác, đã được đặt vào vị trí hàng đầu về Giới Luật. Ta sẽ mong cầu vị trí ấy.
460.
460.
460.
‘‘Idaṃ me amitaṃ bhogaṃ, akkhobhaṃ sāgarūpamaṃ;
Tena bhogena buddhassa, ārāmaṃ māpaye ahaṃ.
This wealth of mine is immeasurable, unshakable, like the ocean. With this wealth, I shall cause a monastery to be built for the Buddha.
Ta có tài sản vô lượng này, không thể lay chuyển, giống như đại dương. Với tài sản ấy, ta sẽ cho xây dựng một ngôi tịnh xá cho đức Phật.
461.
461.
461.
‘‘Sobhanaṃ nāma ārāmaṃ, nagarassa puratthato;
Kiṇitvā † satasahassena, saṅghārāmaṃ amāpayiṃ.
A park named Sobhana to the east of the city—having bought it for a hundred thousand, I caused a monastery for the Saṅgha to be built.
Ở phía đông của thành phố, tôi đã mua một khu vườn tên là Sobhana với giá một trăm ngàn (tiền vàng), và đã cho xây dựng một tu viện cho Tăng đoàn.
462.
462.
462.
‘‘Kūṭāgāre ca pāsāde, maṇḍape hammiye guhā;
Caṅkame sukate katvā, saṅghārāmaṃ amāpayiṃ.
Having made gabled halls, long-houses, pavilions, upper-storied buildings, caves, and well-made walkways, I caused the monastery for the Saṅgha to be built.
Sau khi cho làm các phòng có mái nhọn, các lâu đài, các gian sảnh, các dinh thự, các hang động, và các con đường kinh hành được làm một cách khéo léo, tôi đã cho xây dựng tu viện cho Tăng đoàn.
463.
463.
463.
‘‘Jantāgharaṃ aggisālaṃ, atho udakamāḷakaṃ;
Nhānagharaṃ māpayitvā, bhikkhusaṅghassadāsahaṃ.
Having caused a steam-bath house, a fire hall, and also a water-stand and a bathing house to be built, I gave them to the Saṅgha of bhikkhus.
Sau khi cho xây dựng nhà tắm hơi, nhà lửa, và cả nơi để nước, nhà tắm, tôi đã cúng dường đến Tăng đoàn các vị tỳ-khưu.
464.
464.
464.
‘‘Āsandiyo pīṭhake ca, paribhoge ca bhājane;
Ārāmikañca bhesajjaṃ, sabbametaṃ adāsahaṃ.
Couches and chairs, utensils for use and vessels, a monastery attendant, and medicine—all this I gave.
Các loại ghế dài, ghế đẩu, các vật dụng, các đồ chứa, người chăm sóc tịnh xá, và thuốc men, tất cả những thứ này tôi đã cúng dường.
465.
465.
465.
‘‘Ārakkhaṃ paṭṭhapetvāna, pākāraṃ kārayiṃ daḷhaṃ;
Mā naṃ koci viheṭhesi, santacittāna tādinaṃ.
Having established a guard and had a strong wall built, I thought: 'May no one harass them—those such ones of peaceful mind.'
Tôi đã cho thiết lập sự bảo vệ và cho xây một bức tường vững chắc, (với ý nghĩ): ‘Mong rằng không ai quấy nhiễu các ngài, những bậc có tâm an tịnh, những bậc như thế.’
466.
466.
466.
‘‘Satasahassenāvāsaṃ †, saṅghārāme amāpayiṃ;
Vepullaṃ taṃ māpayitvā †, sambuddhaṃ upanāmayiṃ.
For a hundred thousand, I caused a residence to be built in the monastery for the Saṅgha. Having caused that extensive monastery to be built, I presented it to the Sambuddha.
Trong tu viện của Tăng đoàn, tôi đã cho xây dựng một nơi ở với giá một trăm ngàn. Sau khi đã cho xây dựng tu viện rộng lớn ấy, tôi đã dâng cúng lên bậc Chánh Đẳng Giác.
467.
467.
467.
‘‘Niṭṭhāpito mayārāmo, sampaṭiccha tuvaṃ muni;
Niyyādessāmi taṃ vīra †, adhivāsehi cakkhuma.
The monastery has been completed by me; accept it, O Sage! I shall hand it over to you, O Hero; consent, O Seeing One!
‘Bạch Ngài, bậc Hiền Triết, ngôi tịnh xá đã được con hoàn tất, xin Ngài hãy thọ nhận. Bạch Ngài, bậc Anh Hùng, con sẽ dâng cúng đến Ngài. Bạch Ngài, bậc có Mắt Tuệ, xin Ngài hãy chấp thuận.’
468.
468.
468.
‘‘Padumuttaro lokavidū, āhutīnaṃ paṭiggaho;
Mama saṅkappamaññāya, adhivāsesi nāyako.
Padumuttara, the Knower of the world, the receiver of offerings, the Leader, knowing my intention, consented.
Đức Padumuttara, bậc Thông Tỏ Thế Gian, bậc xứng đáng thọ nhận các vật cúng dường, bậc Lãnh Đạo, sau khi biết được ý định của tôi, đã chấp thuận.
469.
469.
469.
‘‘Adhivāsanamaññāya, sabbaññussa mahesino;
Bhojanaṃ paṭiyādetvā, kālamārocayiṃ ahaṃ.
Knowing the consent of the All-Knowing Great Sage, I prepared the food and announced the time.
Sau khi biết được sự chấp thuận của bậc Toàn Tri, của bậc Đại Hiền, tôi đã chuẩn bị vật thực và đã thông báo thời điểm (thích hợp).
470.
470.
470.
‘‘Ārocitamhi kālamhi, padumuttaranāyako;
Khīṇāsavasahassehi, ārāmaṃ me upāgami.
When the time was announced, the Leader Padumuttara, with one hundred thousand whose taints were destroyed, approached my park.
Khi thời điểm đã được thông báo, đức Padumuttara, bậc Lãnh Đạo, cùng với hàng ngàn vị đã đoạn tận lậu hoặc, đã đi đến tịnh xá của tôi.
471.
471.
471.
‘‘Nisinnaṃ kālamaññāya, annapānena tappayiṃ;
Bhuttāviṃ kālamaññāya, idaṃ vacanamabraviṃ.
Knowing He was seated, I satisfied them with food and drink. Knowing when He had finished His meal, I spoke these words:
Biết được thời điểm Ngài đã an tọa, tôi đã làm cho Ngài hài lòng với đồ ăn và thức uống. Biết được thời điểm Ngài đã dùng bữa xong, tôi đã nói lên lời này.
472.
472.
472.
‘‘Kīto satasahassena, tattakeneva kārito;
Sobhano nāma ārāmo, sampaṭiccha tuvaṃ muni.
A park named Sobhana, bought for one hundred thousand and built for that same amount—accept it, O Sage.
‘Ngôi tịnh xá tên là Sobhana đã được mua với giá một trăm ngàn, và cũng được xây dựng với giá tương đương. Bạch Ngài, bậc Hiền Triết, xin Ngài hãy thọ nhận.’
473.
473.
473.
‘‘Iminārāmadānena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Bhave nibbattamānohaṃ, labhāmi mama patthitaṃ.
By this gift of a park, and by my intentions and aspirations, as I am reborn in existence, may I obtain what I have wished for.
‘Do nhờ sự cúng dường tịnh xá này, và do nhờ các tâm tư và nguyện vọng, khi con còn tái sanh trong các kiếp sống, mong rằng con sẽ đạt được điều con mong ước.’
474.
474.
474.
‘‘Paṭiggahetvā sambuddho, saṅghārāmaṃ sumāpitaṃ;
Bhikkhusaṅghe nisīditvā, idaṃ vacanamabravi.
Having accepted the well-created park for the Saṅgha, the Perfectly Enlightened One, seated amidst the community of monks, spoke these words:
Bậc Chánh Đẳng Giác, sau khi đã thọ nhận tu viện của Tăng đoàn được xây dựng khéo léo, đã ngồi xuống giữa Tăng đoàn các vị tỳ-khưu và nói lên lời này.
475.
475.
475.
‘‘Yo so buddhassa pādāsi, saṅghārāmaṃ sumāpitaṃ;
Tamahaṃ kittayissāmi, suṇātha mama bhāsato.
Whoever gave to the Buddha a well-created park for the Saṅgha, I shall proclaim him. Listen to me as I speak.
‘Vị nào đã cúng dường đến đức Phật tu viện của Tăng đoàn được xây dựng khéo léo, Ta sẽ tuyên dương về người ấy. Các ngươi hãy lắng nghe lời Ta nói đây.’
476.
476.
476.
‘‘Hatthī assā rathā pattī, senā ca caturaṅginī;
Parivāressantimaṃ niccaṃ, saṅghārāmassidaṃ phalaṃ.
Elephants, horses, chariots, and infantry, the four-limbed army, will always attend him—this is the fruit of the gift of a park for the Saṅgha.
‘Voi, ngựa, xe, và bộ binh, đạo quân bốn thành phần, sẽ luôn luôn vây quanh người này. Đây là quả báu của (việc cúng dường) tu viện cho Tăng đoàn.’
477.
477.
477.
‘‘Saṭṭhi tūrasahassāni †, bheriyo samalaṅkatā;
Parivāressantimaṃ niccaṃ, saṅghārāmassidaṃ phalaṃ.
Sixty thousand musical instruments and well-adorned drums will always attend him—this is the fruit of the gift of a park for the Saṅgha.
Sáu mươi ngàn nhạc cụ, các trống lớn được trang hoàng lộng lẫy; sẽ luôn luôn vây quanh vị này, đây là quả báu của việc cúng dường ngôi tự viện cho Tăng chúng.
478.
478.
478.
‘‘Chaḷasītisahassāni, nāriyo samalaṅkatā;
Vicittavatthābharaṇā, āmuttamaṇikuṇḍalā.
Eighty-six thousand women, well-adorned, with varied garments and ornaments, wearing jeweled earrings,
Tám mươi sáu ngàn người nữ, được trang điểm lộng lẫy; y phục và trang sức sặc sỡ, đeo bông tai bằng ngọc và châu báu.
479.
479.
479.
‘‘Aḷārapamhā hasulā, susaññā tanumajjhimā;
Parivāressantimaṃ niccaṃ, saṅghārāmassidaṃ phalaṃ.
with curved eyelashes, prone to smiling, well-proportioned, and slender-waisted, will always attend him—this is the fruit of the gift of a park for the Saṅgha.
Có lông mi cong, hay mỉm cười, thân tướng cân đối, eo thon; (những người nữ ấy) sẽ luôn luôn vây quanh vị này, đây là quả báu của việc cúng dường ngôi tự viện cho Tăng chúng.
480.
480.
480.
‘‘Tiṃsakappasahassāni, devaloke ramissati;
Sahassakkhattuṃ devindo, devarajjaṃ karissati.
For thirty thousand eons he will delight in the deva world; a thousand times, becoming king of the devas, he will exercise sovereignty.
Trong ba mươi ngàn kiếp, vị ấy sẽ hưởng lạc ở cõi trời; một ngàn lần làm vua trời Đế Thích, vị ấy sẽ trị vì vương quốc của chư thiên.
481.
481.
481.
‘‘Devarājena pattabbaṃ, sabbaṃ paṭilabhissati;
Anūnabhogo hutvāna, devarajjaṃ karissati.
All that is to be obtained by a king of devas, he will receive; having undiminished enjoyments, he will exercise sovereignty over the devas.
Tất cả những gì đáng được thành tựu bởi vua trời, vị ấy sẽ đạt được; sau khi có được tài sản không thiếu hụt, vị ấy sẽ trị vì vương quốc của chư thiên.
482.
482.
482.
‘‘Sahassakkhattuṃ cakkavattī, rājā raṭṭhe bhavissati;
Pathabyā rajjaṃ vipulaṃ, gaṇanāto asaṅkhiyaṃ.
A thousand times he will be a wheel-turning king in the land; his sovereignty over the earth will be vast, immeasurable by calculation.
Một ngàn lần, vị ấy sẽ là vua Chuyển Luân trong vương quốc; và sẽ là vị vua cai trị lãnh thổ rộng lớn trên mặt đất, nhiều lần không thể đếm xuể.
483.
483.
483.
‘‘Kappasatasahassamhi, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
In one hundred thousand eons, born in the Okkāka clan, a Teacher named Gotama by clan name will arise in the world.
Trong một trăm ngàn kiếp nữa, một vị sanh ra trong dòng dõi Okkāka, có tên là Gotama theo dòng họ, vị Đạo Sư ấy sẽ xuất hiện trên thế gian.
484.
484.
484.
‘‘Tassa dhammesu dāyādo, oraso dhammanimmito;
Upāli nāma nāmena, hessati satthu sāvako.
An heir to his Dhamma, a true-born son created by the Dhamma, he will be the Teacher's disciple by the name of Upāli.
Vị ấy sẽ là người thừa kế các Giáo pháp của Ngài, là người con trai ruột được tạo ra bởi Giáo pháp, có tên là Upāli, sẽ là một vị thinh văn của Đạo Sư.
485.
485.
485.
‘‘Vinaye pāramiṃ patvā, ṭhānāṭhāne ca kovido;
Jinasāsanaṃ dhārento, viharissatināsavo.
Having reached perfection in the Vinaya, skilled in what is proper and improper, upholding the Victor's dispensation, he will dwell without taints.
Đạt đến sự toàn hảo trong Luật tạng, và thông thạo về điều hợp lý và không hợp lý; duy trì giáo huấn của bậc Toàn Thắng, vị ấy sẽ sống không còn lậu hoặc.
486.
486.
486.
‘‘Sabbametaṃ abhiññāya, gotamo sakyapuṅgavo;
Bhikkhusaṅghe nisīditvā, etadagge ṭhapessati.
Gotama, the bull of the Sakyans, having known all this through direct knowledge, seated in the community of monks, will place him in the foremost position.
Sau khi biết rõ tất cả điều này, đức Gotama, bậc tối thắng của dòng Sakya, sau khi ngồi giữa Tăng chúng Tỳ khưu, sẽ đặt vị ấy vào vị trí hàng đầu.
487.
487.
487.
‘‘Aparimeyyupādāya, patthemi tava sāsanaṃ;
So me attho anuppatto, sabbasaṃyojanakkhayo.
Beginning from an immeasurable time, I have aspired for your dispensation. That goal of mine has been attained: the destruction of all fetters.
Bắt đầu từ vô lượng kiếp, con đã mong cầu giáo huấn của Ngài; mục đích ấy, sự đoạn tận tất cả các kiết sử, đã được con đạt đến.
488.
488.
488.
‘‘Yathā sūlāvuto poso, rājadaṇḍena tajjito;
Sūle sātaṃ avindanto, parimuttiṃva icchati.
Just as a man impaled on a stake, tormented by the king's punishment, finds no pleasure on the stake and desires only release,
Cũng như một người bị đóng cọc, bị hành hạ bởi hình phạt của vua, không tìm thấy sự vui thích trên cọc nhọn, chỉ mong muốn được giải thoát.
489.
489.
489.
‘‘Tathevāhaṃ mahāvīra, bhavadaṇḍena tajjito;
Kammasūlāvuto santo, pipāsāvedanaṭṭito.
So too, O Great Hero, am I tormented by the punishment of existence, impaled on the stake of kamma, afflicted by the pain of craving.
Cũng vậy, thưa bậc Đại Hùng, con bị hành hạ bởi hình phạt của sự hiện hữu, bị đóng cọc bởi nghiệp, bị dày vò bởi cảm thọ của sự khao khát.
490.
490.
490.
‘‘Bhave sātaṃ na vindāmi, ḍayhanto tīhi aggibhi;
Parimuttiṃ gavesāmi, yathāpi rājadaṇḍito.
I find no pleasure in existence, being burned by the three fires; I seek release, just as one punished by the king.
Con không tìm thấy sự vui thích trong sự hiện hữu, bị thiêu đốt bởi ba ngọn lửa; con tìm kiếm sự giải thoát, cũng như người bị vua trừng phạt.
491.
491.
491.
‘‘Yathā visādo puriso, visena paripīḷito;
Agadaṃ so gaveseyya, visaghātāyupālanaṃ †.
Just as a man who has consumed poison, being severely afflicted by that poison, would seek an antidote, a means for destroying the poison,
Cũng như một người ăn phải chất độc, bị chất độc hành hạ dữ dội; người ấy nên tìm kiếm thuốc giải để bảo vệ (mạng sống) khỏi sự hủy hoại của chất độc.
492.
492.
492.
‘‘Gavesamāno passeyya, agadaṃ visaghātakaṃ;
Taṃ pivitvā sukhī assa, visamhā parimuttiyā.
Searching, he might see an antidote that destroys poison. Having drunk it, he would be well, through release from the poison.
Trong khi tìm kiếm, người ấy có thể thấy thuốc giải độc; sau khi uống thuốc ấy, người ấy sẽ được an lạc, nhờ sự giải thoát khỏi chất độc.
493.
493.
493.
‘‘Tathevāhaṃ mahāvīra, yathā visahato naro;
Sampīḷito avijjāya, saddhammāgadamesahaṃ.
So too, O Great Hero, like a man struck by poison, being severely afflicted by ignorance, I sought the antidote of the True Dhamma.
Cũng vậy, thưa bậc Đại Hùng, cũng như người bị trúng độc, con bị vô minh hành hạ dữ dội, con đã tìm kiếm thuốc giải là Chánh pháp.
494.
494.
494.
‘‘Dhammāgadaṃ gavesanto, addakkhiṃ sakyasāsanaṃ;
Aggaṃ sabbosadhānaṃ taṃ, sabbasallavinodanaṃ.
Searching for the Dhamma-antidote, I saw the Sakyan's dispensation—the foremost of all medicines, the remover of all darts.
Trong khi tìm kiếm thuốc giải là Giáo pháp, con đã thấy giáo huấn của bậc Thích Ca; thuốc ấy là tối thượng trong tất cả các loại thuốc, loại bỏ tất cả các mũi tên (phiền não).
495.
495.
495.
‘‘Dhammosadhaṃ pivitvāna, visaṃ sabbaṃ samūhaniṃ;
Ajarāmaraṃ sītibhāvaṃ, nibbānaṃ phassayiṃ ahaṃ.
Having drunk the Dhamma-medicine, I have eradicated all poison. I have realized Nibbāna—the ageless, deathless state of coolness.
Sau khi uống thuốc Giáo pháp, con đã nhổ bật tất cả chất độc; con đã chứng ngộ Niết Bàn, trạng thái tịch tịnh, không già, không chết.
496.
496.
496.
‘‘Yathā bhūtaṭṭito poso, bhūtaggāhena pīḷito;
Bhūtavejjaṃ gaveseyya, bhūtasmā parimuttiyā.
Just as a person possessed by a spirit, afflicted by the spirit's seizure, would seek a spirit-healer for release from the spirit,
Cũng như một người bị ma ám, bị sự ám ảnh của ma quỷ hành hạ; người ấy nên tìm kiếm một thầy trừ tà, để được giải thoát khỏi ma quỷ.
497.
497.
497.
‘‘Gavesamāno passeyya, bhūtavijjāsu kovidaṃ;
Tassa so vihane bhūtaṃ, samūlañca vināsaye.
Searching, he might see one skilled in spirit-lore. That one would dispel his spirit and destroy it together with its root.
Trong khi tìm kiếm, người ấy có thể thấy một người thông thạo trong khoa học trừ tà; vị thầy ấy sẽ xua đuổi con ma của người đó, và sẽ tiêu diệt nó tận gốc rễ.
498.
498.
498.
‘‘Tathevāhaṃ mahāvīra, tamaggāhena pīḷito;
Ñāṇālokaṃ gavesāmi, tamato parimuttiyā.
So too, O Great Hero, oppressed by the seizure of darkness, I seek the light of wisdom for release from that darkness.
Cũng vậy, thưa bậc Đại Hùng, con bị sự ám ảnh của bóng tối (phiền não) hành hạ; con tìm kiếm ánh sáng của trí tuệ, để được giải thoát khỏi bóng tối.
499.
499.
499.
‘‘Athaddasaṃ sakyamuniṃ, kilesatamasodhanaṃ;
So me tamaṃ vinodesi, bhūtavejjova bhūtakaṃ.
Then I saw the Sakyan Sage, the cleanser of the darkness of defilements. He dispelled my darkness, just as a spirit-doctor dispels a spirit.
Rồi con đã thấy bậc Thích Ca Mâu Ni, người thanh lọc bóng tối của phiền não; Ngài đã xua tan bóng tối của con, như thầy trừ tà xua đuổi con ma.
500.
500.
500.
‘‘Saṃsārasotaṃ sañchindiṃ, taṇhāsotaṃ nivārayiṃ;
Bhavaṃ ugghāṭayiṃ sabbaṃ, bhūtavejjova mūlato.
I have well cut the stream of saṃsāra, I have checked the stream of craving; I have uprooted all becoming, just as a spirit-doctor uproots from the very cause.
Con đã cắt đứt dòng chảy luân hồi, con đã ngăn chặn dòng chảy ái dục; con đã nhổ bật tất cả sự hiện hữu, như thầy trừ tà nhổ bật tận gốc rễ.
501.
501.
501.
‘‘Garuḷo yathā opatati, pannagaṃ bhakkhamattano;
Samantā yojanasataṃ, vikkhobheti mahāsaraṃ.
Just as a garuḍa swoops down upon a serpent, its own food, it agitates the great ocean for a hundred yojanas all around.
Cũng như chim Garuḷa sà xuống bắt con rắn, thức ăn của nó; làm khuấy động đại dương trong vòng một trăm do-tuần.
502.
502.
502.
‘‘Pannagaṃ so gahetvāna, adhosīsaṃ viheṭhayaṃ;
Ādāya so pakkamati, yenakāmaṃ vihaṅgamo.
Having seized the serpent, tormenting it head-downwards, that bird takes it and departs wherever it wishes.
Sau khi bắt được con rắn, nó hành hạ, kéo đầu con rắn xuống dưới; con chim ấy mang (con mồi) đi đến bất cứ nơi nào nó muốn.
503.
503.
503.
‘‘Tathevāhaṃ mahāvīra, yathāpi garuḷo balī;
Asaṅkhataṃ gavesanto, dose vikkhālayiṃ ahaṃ.
So too, O Great Hero, just as the mighty garuḍa, while seeking the Unconditioned, I have washed away the defilements.
Cũng vậy, thưa bậc Đại Hùng, cũng như chim Garuḷa mạnh mẽ, trong khi tìm kiếm pháp Vô vi, con đã gột sạch các cấu uế.
504.
504.
504.
‘‘Diṭṭho ahaṃ dhammavaraṃ, santipadamanuttaraṃ;
Ādāya viharāmetaṃ, garuḷo pannagaṃ yathā.
I have seen the excellent Dhamma, the unsurpassed state of peace. Having taken it, I now dwell, just as the garuḍa does with the serpent.
Con đã thấy được Giáo pháp cao thượng, con đường an tịnh vô thượng; con sống, nắm giữ pháp ấy, như chim Garuḷa nắm giữ con rắn.
505.
505.
505.
‘‘Āsāvatī nāma latā, jātā cittalatāvane;
Tassā vassasahassena, ekaṃ nibbattate phalaṃ.
A creeper named Āsāvatī grows in the Cittalatā Grove; once in a thousand years, a single fruit is produced from it.
Một loại dây leo tên là Āsāvatī, mọc trong khu vườn Cittalatā; sau một ngàn năm, một quả của nó được sinh ra.
506.
506.
506.
‘‘Taṃ devā payirupāsanti, tāvadūraphale sati;
Devānaṃ sā piyā evaṃ, āsāvatī latuttamā.
The gods attend upon it, while the fruit is so far off in time; so beloved of the gods is that Āsāvatī, the finest creeper.
Chư thiên hầu cận nó, khi quả ấy (chín) sau một thời gian dài như vậy; dây leo Āsāvatī, loại dây leo tối thượng, được chư thiên yêu quý như vậy.
507.
507.
507.
‘‘Satasahassupādāya, tāhaṃ paricare muni;
Sāyaṃ pātaṃ namassāmi, devā āsāvatiṃ yathā.
Beginning from one hundred thousand eons ago, I have attended upon you, O Sage. Evening and morning I pay homage, just as the gods do to the Āsāvatī.
Bắt đầu từ một trăm ngàn kiếp, con đã phụng sự Ngài, bậc Mâu-ni; con đảnh lễ (Ngài) vào buổi sáng và buổi chiều, giống như chư Thiên (đảnh lễ) cây leo āsāvatī.
508.
508.
508.
‘‘Avañjhā pāricariyā, amoghā ca namassanā;
Dūrāgatampi maṃ santaṃ, khaṇoyaṃ na virādhayi.
My service was not in vain, and my homage was not fruitless. Though I had come from afar, this moment was not missed.
Sự phụng sự đã không vô ích, và sự đảnh lễ đã không uổng công. Dầu cho con đã đến từ nơi xa xôi, khoảnh khắc này đã không bị con bỏ lỡ.
509.
509.
509.
‘‘Paṭisandhiṃ na passāmi, vicinanto bhave ahaṃ;
Nirūpadhi vippamutto †, upasanto carāmahaṃ.
Investigating existence, I see no relinking. Without attachments, fully released, and peaceful, I go about.
Khi tìm kiếm trong các cõi tồn tại, con không thấy sự tái sanh (nào nữa); con sống không còn chấp thủ, được giải thoát, và an tịnh.
510.
510.
510.
‘‘Yathāpi padumaṃ nāma, sūriyaraṃsena pupphati;
Tathevāhaṃ mahāvīra, buddharaṃsena pupphito.
Just as a lotus blooms by the rays of the sun, so too, O Great Hero, I have been made to bloom by the rays of the Buddha.
Cũng như hoa sen nở ra nhờ ánh sáng mặt trời; cũng vậy, thưa bậc Đại Hùng, con đã nở ra nhờ ánh sáng của đức Phật.
511.
511.
511.
‘‘Yathā balākayonimhi, na vijjati pumo † sadā;
Meghesu gajjamānesu, gabbhaṃ gaṇhanti tā sadā.
Just as among the species of cranes there is never a male, when the clouds thunder, they always conceive an embryo.
Cũng như trong loài diệc, con đực không bao giờ hiện hữu; khi những đám mây gầm vang, chúng (những con cái) luôn luôn thụ thai.
512.
512.
512.
‘‘Cirampi gabbhaṃ dhārenti, yāva megho na gajjati;
Bhārato parimuccanti, yadā megho pavassati.
For a long time they carry the embryo, so long as the cloud does not rain; they are released from their burden when the cloud pours down rain.
Chúng mang thai trong một thời gian dài, chừng nào mây chưa đổ mưa; chúng được giải thoát khỏi gánh nặng ấy, khi mây trút mưa xuống.
513.
513.
513.
‘‘Padumuttarabuddhassa, dhammameghena gajjato;
Saddena dhammameghassa, dhammagabbhaṃ agaṇhahaṃ.
From the Buddha Padumuttara thundering with the cloud of Dhamma, by the sound of that Dhamma-cloud, I conceived the Dhamma-embryo.
Với tiếng sấm từ đám mây Chánh Pháp của đức Phật Padumuttara, với âm thanh của đám mây Chánh Pháp ấy, con đã thụ thai Chánh Pháp.
514.
514.
514.
Satasahassupādāya, puññagabbhaṃ dharemahaṃ;
Nappamuccāmi bhārato, dhammamegho na gajjati.
Beginning from one hundred thousand eons ago, I have carried the embryo of merit. I am not released from the burden so long as the Dhamma-cloud does not rain.
Bắt đầu từ một trăm ngàn kiếp, con đã mang cái thai công đức; chừng nào đám mây Chánh Pháp chưa đổ mưa, con chưa được giải thoát khỏi gánh nặng ấy.
515.
515.
515.
‘‘Yadā tuvaṃ sakyamuni, ramme kapilavatthave;
Gajjasi dhammameghena, bhārato parimuccahaṃ.
When you, O Sakyan Sage, in delightful Kapilavatthu, rained down with the cloud of Dhamma, I was then released from my burden.
Khi Ngài, bậc Thích-ca Mâu-ni, tại thành Kapilavatthu khả ái, gầm vang với đám mây Chánh Pháp, con được giải thoát khỏi gánh nặng ấy.
516.
516.
516.
‘‘Suññataṃ animittañca, tathāppaṇihitampi ca;
Caturo ca phale sabbe, dhammevaṃ vijanayiṃ † ahaṃ.
Emptiness, the signless, and the undirected, and all four fruits—thus I gave birth to these Dhammas.
Con đã sanh ra Tánh Không, Vô Tướng, và cả Vô Nguyện, cùng với bốn Thánh quả; như vậy, con đã sanh ra tất cả các pháp ấy.
Dutiyabhāṇavāraṃ.
The Second Recitation Section is complete.
Phẩm Tụng Thứ Hai.
517.
517.
517.
‘‘Aparimeyyupādāya, patthemi tava sāsanaṃ;
So me attho anuppatto, santipadamanuttaraṃ.
Beginning from an immeasurable time, I have aspired to your teaching. That goal has been attained by me; I have attained the unsurpassed state of peace.
Bắt đầu từ vô lượng kiếp, con đã mong cầu giáo pháp của Ngài; mục đích ấy đã được con thành tựu, con đã đạt đến trạng thái an tịnh vô thượng.
518.
518.
518.
‘‘Vinaye pāramiṃ patto, yathāpi pāṭhiko isi;
Na me samasamo atthi, dhāremi sāsanaṃ ahaṃ.
I have attained perfection in the Vinaya, like the sage Pāṭhika. There is no one equal to me; I uphold the teaching.
Con đã đạt đến sự toàn hảo về Luật, giống như vị ẩn sĩ Pāṭhika; không có ai ngang bằng với con, con gìn giữ giáo pháp.
519.
519.
519.
‘‘Vinaye khandhake cāpi, tikacchede ca pañcake †;
Ettha me vimati natthi, akkhare byañjanepi vā.
In the two Vibhaṅgas, the Khandhakas, the sections of three, and the book of five—in these I have no doubt, whether in the letter or the phrasing.
Trong các Phân Tích (Vibhaṅga) của Luật, trong các Thiên (Khandhaka), trong các phần có ba đoạn (Tika), và trong phần thứ năm (Pañcaka); ở đây, con không có sự nghi ngờ nào, dù là về chữ cái hay về văn cú.
520.
520.
520.
‘‘Niggahe paṭikamme ca, ṭhānāṭhāne ca kovido;
Osāraṇe vuṭṭhāpane, sabbattha pāramiṃ gato.
Skilled in censure and in remedy, in what is a case and what is not; in rehabilitation and in reinstatement, in all these I have gone to the far shore.
Con thông thạo trong việc khiển trách và sửa trị, trong việc đúng và không đúng; trong việc phục hồi và phục quyền, con đã đạt đến sự toàn hảo trong mọi phương diện.
521.
521.
521.
‘‘Vinaye khandhake vāpi, nikkhipitvā padaṃ ahaṃ;
Ubhato viniveṭhetvā, rasato osareyyahaṃ.
Having laid down a heading in the Vinaya or the Khandhakas, I can disentangle it from both sides and penetrate to its essence.
Trong Luật (Vinaya) hoặc trong các Thiên (Khandhaka), sau khi đặt ra một vấn đề, con có thể giải quyết nó từ cả hai phía và đi đến kết luận theo ý nghĩa.
522.
522.
522.
‘‘Niruttiyā sukusalo, atthānatthe ca kovido;
Anaññātaṃ mayā natthi, ekaggo satthu sāsane.
I am highly skilled in exegesis, an expert in what is and is not the meaning. There is nothing unknown to me; I am single-minded in the Teacher's dispensation.
Con rất thiện xảo về ngữ nguyên, thông thạo điều lợi và không lợi; không có gì mà con không biết, con là người độc nhất trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư.
523.
523.
523.
‘‘Rūpadakkho † ahaṃ ajja, sakyaputtassa sāsane;
Kaṅkhaṃ sabbaṃ vinodemi, chindāmi sabbasaṃsayaṃ.
Today I am skilled in the subject matter of the Sakyan son's teaching; I dispel all doubt, I cut off all uncertainty.
Hôm nay, con là người thiện xảo về các quyết định trong giáo pháp của con trai dòng Thích-ca; con xua tan mọi sự nghi ngờ, con cắt đứt mọi sự hoài nghi.
524.
524.
524.
‘‘Padaṃ anupadañcāpi, akkharañcāpi byañjanaṃ;
Nidāne pariyosāne, sabbattha kovido ahaṃ.
In the word and what follows the word, in the letter and the phrasing, in the introduction and the conclusion—in all these, I am skilled.
Con thông thạo về từ và các từ theo sau, về chữ cái và văn cú, về phần mở đầu và phần kết luận, con thông thạo trong mọi phương diện.
525.
525.
525.
‘‘Yathāpi rājā balavā, niggaṇhitvā parantape;
Vijinitvāna saṅgāmaṃ, nagaraṃ tattha māpaye.
Just as a powerful king, a subjugator of foes, having won a battle, would have a city established there.
Cũng như một vị vua hùng mạnh, sau khi khuất phục những kẻ thù, và chiến thắng trận chiến, nên xây dựng một thành phố ở nơi đó.
526.
526.
526.
‘‘Pākāraṃ parikhañcāpi, esikaṃ dvārakoṭṭhakaṃ;
Aṭṭālake ca vividhe, kāraye nagare bahū.
He would have walls, moats, gate-pillars, gatehouses, and many various watchtowers built in the city.
Vị ấy nên cho xây dựng trong thành phố các tường thành và hào nước, các cột trụ và cổng thành, và nhiều tháp canh đa dạng.
527.
527.
527.
‘‘Siṅghāṭakaṃ caccarañca, suvibhattantarāpaṇaṃ;
Kārayeyya sabhaṃ tattha, atthānatthavinicchayaṃ.
He would have a main road and a crossroads made in that city, well-divided market stalls, and a hall of justice for deciding what is beneficial and not beneficial.
Vị ấy nên cho làm các ngã tư và quảng trường, các khu chợ được phân chia hợp lý, và một hội trường ở đó để phân xử điều lợi và không lợi.
528.
528.
528.
‘‘Nigghātatthaṃ amittānaṃ, chiddāchiddañca jānituṃ;
Balakāyassa rakkhāya, senāpaccaṃ ṭhapeti † so.
For the purpose of crushing enemies, for knowing their faults and faultlessness, and for the protection of the army, that king appointed a general.
Để trấn áp kẻ thù, để biết các điểm yếu và điểm mạnh, và để bảo vệ quân đội, vị ấy bổ nhiệm một vị tướng quân.
529.
529.
529.
‘‘Ārakkhatthāya bhaṇḍassa, nidhānakusalaṃ naraṃ;
Mā me bhaṇḍaṃ vinassīti, bhaṇḍarakkhaṃ ṭhapeti so.
For the purpose of guarding the treasure, that king appointed a person skilled in safekeeping as treasurer, thinking, 'Let my treasure not be destroyed.'
Để bảo vệ tài sản, vị ấy bổ nhiệm một người giỏi cất giữ làm người giữ kho, (nghĩ rằng): 'Mong rằng tài sản của ta không bị hủy hoại.'
530.
530.
530.
‘‘Mamatto †
One who is devoted
Người nào có lòng quyến luyến
Hoti yo rañño, vuddhiṃ yassa ca icchati.
is loyal to the king and desires his prosperity.
đối với đức vua, và mong muốn sự thịnh vượng của vị ấy,
Tassādhikaraṇaṃ deti, mittassa paṭipajjituṃ.
To such a friend, he gives the position of a judge, so that he may act accordingly.
vị vua sẽ giao cho người bạn như vậy chức vụ thẩm phán để thực thi.
531.
531.
531.
‘‘Uppātesu nimittesu, lakkhaṇesu ca kovidaṃ;
Ajjhāyakaṃ mantadharaṃ, porohicce ṭhapeti so.
That king appointed a brahmin skilled in portents, omens, and signs, who is a reciter and a bearer of mantras, to the position of royal chaplain.
Vị ấy bổ nhiệm vào chức vụ quốc sư một người thông thạo về các điềm báo, các dấu hiệu, và các tướng mạo, một người biết tụng đọc và ghi nhớ các câu thần chú.
532.
532.
532.
‘‘Etehaṅgehi sampanno, khattiyoti pavuccati;
Sadā rakkhanti rājānaṃ, cakkavākova dukkhitaṃ.
One endowed with these qualities is called a khattiya. They always protect the king, just as a ruddy goose protects one in distress.
Người được trang bị những yếu tố này được gọi là một vị vua (khattiya); họ luôn bảo vệ đức vua, giống như chim cakkavāka (bảo vệ) kẻ khốn khổ.
533.
533.
533.
‘‘Tatheva tvaṃ mahāvīra, hatāmittova khattiyo;
Sadevakassa lokassa, dhammarājāti vuccati.
Just so, O Great Hero, you, like a khattiya who has slain his enemies, are called the Dhamma King of the world with its devas.
Cũng vậy, thưa bậc Đại Hùng, Ngài giống như một vị vua đã tiêu diệt kẻ thù; đối với thế gian cùng với chư thiên, Ngài được gọi là Pháp Vương.
534.
534.
534.
‘‘Titthiye nihanitvāna †, mārañcāpi sasenakaṃ;
Tamandhakāraṃ vidhamitvā, dhammanagaraṃ amāpayi.
Having vanquished the heretics, and also Māra with his army, and having dispelled that darkness of delusion, he created the City of Dhamma.
Sau khi đã nhiếp phục các ngoại đạo, và cả Ma vương cùng với quân đội; đã xua tan bóng tối vô minh ấy, Ngài đã tạo dựng nên thành phố Chánh pháp.
535.
535.
535.
‘‘Sīlaṃ pākārakaṃ tattha, ñāṇaṃ te dvārakoṭṭhakaṃ;
Saddhā te esikā vīra, dvārapālo ca saṃvaro.
Therein, virtue is the city wall, your wisdom is the gate-tower; O Hero, your faith is the gate-post, and restraint is the gatekeeper.
Ở nơi ấy, giới là tường thành, trí tuệ của Ngài là cổng thành; hỡi bậc Dũng mãnh, tín của Ngài là cột trụ, và sự phòng hộ là người gác cổng.
536.
536.
536.
‘‘Satipaṭṭhānamaṭṭālaṃ, paññā te caccaraṃ mune;
Iddhipādañca siṅghāṭaṃ, dhammavīthi sumāpitā.
The foundations of mindfulness are the watchtower; O Sage, your wisdom is the crossroads, and the bases of spiritual power are the main road. The street of Dhamma is well-established.
Kính bạch bậc Mâu-ni, Tứ Niệm Xứ là tháp canh, trí tuệ của Ngài là ngã tư đường; và Tứ Thần Túc là đường phố chính, con đường Chánh pháp đã được khéo tạo dựng.
537.
537.
537.
‘‘Suttantaṃ abhidhammañca, vinayañcāpi kevalaṃ;
Navaṅgaṃ buddhavacanaṃ, esā dhammasabhā tava.
The Suttanta, the Abhidhamma, and the entire Vinaya, the nine-factored word of the Buddha—all this is your Dhamma assembly hall.
Kinh tạng, Luận tạng, và toàn bộ Luật tạng; Cửu phần giáo pháp, lời dạy của Đức Phật, đó là pháp đường của Ngài.
538.
538.
538.
‘‘Suññataṃ animittañca, vihārañcappaṇīhitaṃ;
Āneñjañca nirodho ca, esā dhammakuṭī tava.
The emptiness, the signless, and the desireless liberations, the imperturbable, and cessation—this is your Dhamma-dwelling.
Trú xứ Không tánh, Vô tướng, và Vô nguyện; cùng với Bất động và Diệt tận, đó là pháp thất của Ngài.
539.
539.
539.
‘‘Paññāya aggo nikkhitto †, paṭibhāne ca kovido;
Sāriputtoti nāmena, dhammasenāpatī tava.
Placed as supreme in wisdom and skilled in ready wit, the one named Sāriputta is your General of the Dhamma.
Vị được xem là bậc tối thắng về trí tuệ, và thiện xảo trong biện tài, có tên là Sāriputta, là vị Pháp tướng quân của Ngài.
540.
540.
540.
‘‘Cutūpapātakusalo, iddhiyā pāramiṃ gato;
Kolito nāma nāmena, porohicco tavaṃ mune.
Skilled in death and rebirth, one who has reached perfection in spiritual power, the one named Kolita is your royal chaplain, O Sage.
Kính bạch bậc Mâu-ni, vị thiện xảo về sự tử và sanh, đã đạt đến sự toàn hảo về thần thông, có tên là Kolita, là vị quốc sư của Ngài.
541.
541.
541.
‘‘Porāṇakavaṃsadharo, uggatejo durāsado;
Dhutavādīguṇenaggo, akkhadasso tavaṃ mune.
Bearer of the ancient lineage, of rising splendor, difficult to approach, supreme in the quality of upholding the ascetic practices, Mahākassapa is your judge, O Sage.
Kính bạch bậc Mâu-ni, vị duy trì dòng dõi cổ xưa, có uy lực mạnh mẽ, khó tiếp cận, bậc tối thắng về đức hạnh đầu-đà, là vị thẩm phán của Ngài.
542.
542.
542.
‘‘Bahussuto dhammadharo, sabbapāṭhī ca sāsane;
Ānando nāma nāmena, dhammārakkho † tavaṃ mune.
One of great learning, a bearer of the Dhamma, and a reciter of all in the Dispensation, the one named Ānanda is your guardian of the Dhamma, O Sage.
Kính bạch bậc Mâu-ni, vị đa văn, người trì pháp, và là người tụng đọc tất cả trong giáo pháp, có tên là Ānanda, là người quản kho Chánh pháp của Ngài.
543.
543.
543.
‘‘Ete sabbe atikkamma, pamesi bhagavā mamaṃ;
Vinicchayaṃ me pādāsi, vinaye viññudesitaṃ.
Surpassing all these, the Blessed One, the Great Sage, appointed me. He gave to me judgment in the Vinaya, which was taught by the Wise One.
Vượt qua tất cả những vị ấy, Đức Thế Tôn đã so sánh con; Ngài đã ban cho con quyền phán quyết về Giới luật, điều được bậc trí thuyết giảng.
544.
544.
544.
‘‘Yo koci vinaye pañhaṃ, pucchati buddhasāvako;
Tattha me cintanā natthi, taññevatthaṃ kathemahaṃ.
Whatever disciple of the Buddha asks a question concerning the Vinaya, for me there is no deliberation on that matter; I speak on that very meaning.
Bất cứ vị đệ tử nào của Đức Phật hỏi một vấn đề về Giới luật, đối với con không có sự suy nghĩ, con liền nói về chính vấn đề ấy.
545.
545.
545.
‘‘Yāvatā buddhakhettamhi, ṭhapetvā taṃ mahāmuni;
Vinaye mādiso natthi, kuto bhiyyo bhavissati.
In the entire Buddha-field, setting aside the Great Sage, there is no one equal to me in the Vinaya. From where could a superior one come to be?
Trong toàn cõi Phật, ngoại trừ Ngài, bậc Đại Mâu-ni, về Giới luật, không có ai giống như con; làm sao có thể có người hơn được?
546.
546.
546.
‘‘Bhikkhusaṅghe nisīditvā, evaṃ gajjati gotamo;
Upālissa samo natthi, vinaye khandhakesu ca.
Having sat down in the Saṅgha of monks, Gotama proclaims thus: 'There is no one equal to Upāli in the Vinaya and in the Khandhakas.'
Khi ngự tọa giữa Tăng chúng, Đức Gotama rống lên như vầy: ‘Không có ai bằng Upāli về Giới luật và các phẩm Khandhaka’.
547.
547.
547.
‘‘Yāvatā buddhabhaṇitaṃ, navaṅgaṃ satthusāsanaṃ;
Vinayogadhaṃ taṃ † sabbaṃ,
Insofar as there is the word spoken by the Buddha, the nine-factored teaching of the Teacher, all of that is encompassed by the Vinaya,
Tất cả những gì được Đức Phật thuyết giảng, Cửu phần giáo pháp của bậc Đạo Sư, tất cả những điều ấy đều được bao hàm trong Giới luật,
Vinayamūlapassino †.
for one who sees the root of the Vinaya.
đối với người thấy được cội nguồn của Giới luật.
548.
548.
548.
‘‘Mama kammaṃ saritvāna, gotamo sakyapuṅgavo;
Bhikkhusaṅghe nisīditvā, etadagge ṭhapesi maṃ.
Remembering my deed, Gotama, the bull among the Sakyans, having sat down in the Saṅgha of monks, placed me in the foremost position.
Tưởng nhớ đến nghiệp của con, Đức Gotama, bậc ngưu vương của dòng Sakya, khi ngự tọa giữa Tăng chúng, đã đặt con vào vị trí tối thắng.
549.
549.
549.
‘‘Satasahassupādāya, imaṃ ṭhānaṃ apatthayiṃ;
So me attho anuppatto, vinaye pāramiṃ gato.
For one hundred thousand aeons, I have aspired to this position. That goal of mine has been attained; I have gone to the perfection of the Vinaya.
Kể từ một trăm ngàn kiếp, con đã mong cầu địa vị này; mục đích ấy đã được con đạt đến, con đã đạt đến sự toàn hảo về Giới luật.
550.
550.
550.
‘‘Sakyānaṃ nandijanano, kappako āsahaṃ pure;
Vijahitvāna taṃ jātiṃ, putto jāto mahesino.
A joy-bringer to the Sakyans, I was a barber in the past. Having abandoned that birth, I have become a son of the Great Sage.
Trong quá khứ, con đã là một người thợ cạo, người mang lại niềm vui cho dòng Sakya; sau khi từ bỏ kiếp sống ấy, con đã trở thành người con của bậc Đại Sĩ.
551.
551.
551.
‘‘Ito dutiyake kappe, añjaso nāma khattiyo;
Anantatejo amitayaso, bhūmipālo mahaddhano.
In the second aeon from this one, there was a khattiya named Añjasa, of endless power and immeasurable fame, a protector of the earth and of great wealth.
Vào kiếp thứ hai kể từ đây, có vị vua tên là Añjasa, có uy lực vô biên, danh tiếng vô lượng, là người cai trị trái đất, có tài sản lớn.
552.
552.
552.
‘‘Tassa rañño ahaṃ putto, candano nāma khattiyo;
Jātimadenupatthaddho, yasabhogamadena ca.
I was the son of that king, a khattiya named Candana, and I was arrogant with the pride of birth, and with the pride of fame and wealth.
Con là con trai của vị vua ấy, một vị vương tử tên là Candana, cứng nhắc vì kiêu mạn về dòng dõi, và vì say sưa trong danh vọng và của cải.
553.
553.
553.
‘‘Nāgasatasahassāni, sabbālaṅkārabhūsitā;
Tidhāpabhinnā mātaṅgā, parivārenti maṃ sadā.
One hundred thousand mātaṅga elephants, adorned with all ornaments, with rut flowing from three places, always surrounded me.
Một trăm ngàn con voi, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức, những con voi đực đang trong ba thời kỳ động dục, luôn luôn vây quanh con.
554.
554.
554.
‘‘Sabalehi paretohaṃ, uyyānaṃ gantukāmako;
Āruyha sirikaṃ nāgaṃ, nagarā nikkhamiṃ tadā.
Surrounded by my forces, wishing to go to the park, I mounted the elephant Sirika and then departed from the city.
Được quân đội vây quanh, con muốn đi đến công viên, đã cưỡi con voi Sirika, và khi ấy đã rời khỏi thành phố.
555.
555.
555.
‘‘Caraṇena ca sampanno, guttadvāro susaṃvuto;
Devalo nāma sambuddho, āgacchi purato mama.
Endowed with conduct, with guarded doors and well-restrained, the Paccekabuddha named Devala came before me.
Vị đầy đủ phẩm hạnh, có các căn được phòng hộ, khéo chế ngự, một vị Phật Độc Giác tên là Devala, đã đi đến trước mặt con.
556.
556.
556.
‘‘Pesetvā sirikaṃ nāgaṃ, buddhaṃ āsādayiṃ tadā;
Tato sañjātakopo so †, nāgo nuddharate padaṃ.
Having goaded the elephant Sirika, I then made it attack the Buddha; thereupon, that elephant, with anger arisen, would not lift its foot.
Sau khi thúc giục con voi Sirika, khi ấy con đã khiến nó tấn công vị Phật; bấy giờ, con voi ấy nổi giận và không nhấc chân lên.
557.
557.
557.
‘‘Nāgaṃ ruṇṇamanaṃ † disvā, buddhe kodhaṃ akāsahaṃ;
Vihesayitvā sambuddhaṃ, uyyānaṃ agamāsahaṃ.
Seeing the elephant with an angry mind, I became angry at the Buddha; having harassed the Paccekabuddha, I went to the park.
Thấy con voi có tâm sân hận, con đã nổi giận với vị Phật; sau khi quấy nhiễu bậc Chánh Giác, con đã đi đến công viên.
558.
558.
558.
‘‘Sātaṃ tattha na vindāmi, siro pajjalito yathā;
Pariḷāhena ḍayhāmi, macchova baḷisādako.
There I found no pleasure, as if my head were ablaze; I was scorched by torment, like a fish that has swallowed a hook.
Ở nơi ấy, con không tìm thấy sự vui thích, đầu của con như đang bốc cháy; con bị thiêu đốt bởi sự dày vò, giống như con cá đã nuốt phải lưỡi câu.
559.
559.
559.
‘‘Sasāgarantā pathavī, ādittā viya hoti me;
Pitu santikupāgamma, idaṃ vacanamabraviṃ.
The earth with its ocean boundaries seemed to me as if ablaze; approaching my father, I spoke this word:
Mặt đất với biển cả làm ranh giới, đối với con dường như đang bốc cháy; sau khi đến gần phụ thân, con đã nói lời này.
560.
560.
560.
‘‘Āsīvisaṃva kupitaṃ, aggikkhandhaṃva āgataṃ;
Mattaṃva kuñjaraṃ dantiṃ, yaṃ sayambhumasādayiṃ.
That I have offended the Self-Existent One is like assailing an enraged viper, like assailing a blazing mass of fire, like assailing a maddened, tusked elephant.
Việc con đã xúc phạm đến bậc Tự Giác, giống như chạm vào một con rắn độc đang nổi giận, hay một khối lửa đang tiến đến, hay một con voi có ngà đang say.
561.
561.
561.
‘‘Āsādito mayā buddho, ghoro uggatapo jino;
Purā sabbe vinassāma, khamāpessāma taṃ muniṃ.
I have offended the Buddha—terrible, of intense asceticism, the Conqueror. Before we all perish, let us ask forgiveness from that sage.
Vị Phật đã bị con xúc phạm, vị đáng kính sợ, có khổ hạnh mãnh liệt, bậc chiến thắng. Trước khi tất cả chúng ta bị hủy diệt, chúng ta hãy xin vị mâu-ni ấy tha thứ.
562.
562.
562.
‘‘No ce taṃ nijjhāpessāma, attadantaṃ samāhitaṃ;
Orena sattadivasā, raṭṭhaṃ me vidhamissati.
If we do not ask his forgiveness—his, who is self-tamed and composed—within seven days my kingdom will be destroyed.
Nếu chúng ta không làm cho ngài nguôi giận, vị tự điều phục, có tâm định tĩnh, thì trong vòng bảy ngày, vương quốc của con sẽ bị hủy diệt.
563.
563.
563.
‘‘Sumekhalo kosiyo ca, siggavo cāpi sattako †;
Āsādayitvā isayo, duggatā te saraṭṭhakā.
Sumekhala, Kosaya, Siggava, and also Sattaka—having offended the seers, they, along with their kingdoms, came to a woeful state.
Vua Sumekhala và Kosiyo, cả Siggavo và Sattako; sau khi xúc phạm các vị ẩn sĩ, các vị ấy cùng với vương quốc đã bị khốn khổ.
564.
564.
564.
‘‘Yadā kuppanti isayo, saññatā brahmacārino;
Sadevakaṃ vināsenti, sasāgaraṃ sapabbataṃ.
When the seers, the restrained holy-life practitioners, become angry, they destroy the world with its gods, its oceans, and its mountains.
Khi các vị ẩn sĩ, những người tự chủ, sống đời phạm hạnh, nổi giận; các vị ấy hủy diệt thế giới cùng với chư Thiên, cùng với biển cả, cùng với núi non.
565.
565.
565.
‘‘Tiyojanasahassamhi, purise sannipātayiṃ;
Accayaṃ desanatthāya, sayambhuṃ upasaṅkamiṃ.
I gathered men within a three-thousand-yojana area; to declare my transgression, we approached the Self-Existent One.
Trong phạm vi ba ngàn do-tuần, tôi đã tập hợp dân chúng; để sám hối lỗi lầm, chúng tôi đã đến gần vị Tự Giác Ngộ.
566.
566.
566.
‘‘Allavatthā allasirā, sabbeva pañjalīkatā;
Buddhassa pāde nipatitvā, idaṃ vacanamabravuṃ †.
With wet clothes and wet heads, all with hands clasped in reverence, falling at the Buddha's feet, they spoke this word:
Với y phục ướt, với đầu tóc ướt, tất cả đều chắp tay cung kính; sau khi đảnh lễ dưới chân đức Phật, chúng tôi đã nói lên lời này.
567.
567.
567.
‘‘Khamassu tvaṃ mahāvīra, abhiyācati taṃ jano;
Pariḷāhaṃ vinodehi, mā no raṭṭhaṃ vināsaya.
Forgive, O Great Hero, the people entreat you. Dispel this torment; do not destroy our kingdom.
Xin Ngài hãy kham nhẫn, thưa bậc Đại hùng, dân chúng đang cầu xin Ngài; xin hãy xua tan cơn phiền não, xin đừng hủy diệt vương quốc của chúng tôi.
568.
568.
568.
‘‘Sadevamānusā sabbe, sadānavā sarakkhasā;
Ayomayena kuṭena, siraṃ bhindeyyu me sadā.
Even if all gods and humans, with asuras and rakkhasas, were to always split my head with an iron hammer,
Tất cả chư Thiên và loài người, cùng với a-tu-la và la-sát; hãy dùng búa sắt mà đập vỡ đầu của ta luôn mãi.
569.
569.
569.
‘‘Dake † aggi na saṇṭhāti, bījaṃ sele na rūhati;
Agade kimi na saṇṭhāti, kopo buddhe na jāyati.
Just as fire does not remain in water, as a seed does not grow on a rock, as a worm does not exist in medicine, so anger does not arise in a Buddha.
Lửa không tồn tại trong nước, hạt giống không mọc trên đá; sâu bọ không ở trong thuốc, sân hận không sanh nơi bậc Giác Ngộ.
570.
570.
570.
‘‘Yathā ca bhūmi acalā, appameyyo ca sāgaro;
Anantako ca ākāso, evaṃ buddhā akhobhiyā.
Just as the earth is unshakable, the ocean is immeasurable, and the sky is endless, so too are the Buddhas unperturbed.
Như đất không lay chuyển, như biển cả không thể lường, và như hư không vô tận; cũng vậy, các bậc Giác Ngộ không bị dao động.
571.
571.
571.
‘‘Sadā khantā mahāvīrā, khamitā ca tapassino;
Khantānaṃ khamitānañca, gamanaṃ taṃ † na vijjati.
Great heroes are always patient, and ascetics are forgiving. For the patient and the forgiving, that course of anger does not exist.
Các bậc Đại hùng luôn kham nhẫn, các vị khổ hạnh luôn tha thứ; đối với những người kham nhẫn và tha thứ, không có sự thiên vị như vậy.
572.
572.
572.
‘‘Idaṃ vatvāna sambuddho, pariḷāhaṃ vinodayaṃ;
Mahājanassa purato, nabhaṃ abbhuggami tadā.
Having said this, the Paccekabuddha, dispelling the torment, then rose into the sky before the great assembly.
Sau khi nói lời này, bậc Chánh Giác, trong khi xua tan cơn phiền não, đã bay lên không trung trước mặt đại chúng vào lúc ấy.
573.
573.
573.
‘‘Tena kammenahaṃ vīra, hīnattaṃ ajjhupāgato;
Samatikkamma taṃ jātiṃ, pāvisiṃ abhayaṃ puraṃ.
Through that kamma, O Hero, I attained a lowly state. Having transcended that birth, I entered the city of safety.
Thưa bậc Đại hùng, do nghiệp ấy, con đã đi đến tình trạng thấp hèn; vượt qua khỏi sanh thú ấy, con đã vào được thành phố vô úy.
574.
574.
574.
‘‘Tadāpi maṃ mahāvīra, ḍayhamānaṃ susaṇṭhitaṃ;
Pariḷāhaṃ vinodesi, sayambhuñca khamāpayiṃ.
Even then, O Great Hero, you dispelled the torment for me who was burning; and I had asked the Self-Existent One for forgiveness.
Thưa bậc Đại hùng, cả vào lúc ấy, Ngài đã xua tan cơn phiền não của con, người đang bị thiêu đốt; và con đã xin vị Tự Giác Ngộ tha thứ.
575.
575.
575.
‘‘Ajjāpi maṃ mahāvīra, ḍayhamānaṃ tihaggibhi;
Nibbāpesi tayo aggī, sītibhāvañca pāpayiṃ †.
Even today, O Great Hero, as I was burning with the three fires, you extinguished the three fires, and I reached the state of coolness.
Thưa bậc Đại hùng, cả ngày hôm nay, đối với con đang bị thiêu đốt bởi ba ngọn lửa, Ngài đã dập tắt ba ngọn lửa và đã khiến con đạt được trạng thái mát mẻ.
576.
576.
576.
Yesaṃ sotāvadhānatthi, suṇātha mama bhāsato;
Atthaṃ tumhaṃ pavakkhāmi, yathā diṭṭhaṃ padaṃ mama.
You for whom there is attentiveness of ear, listen to me speaking. I will explain the goal to you, just as the state has been seen by me.
Những ai có tai để lắng nghe, hãy nghe lời ta nói; ta sẽ giảng giải ý nghĩa cho các ngươi, như thế nào ta đã thấy được đạo quả.
577.
577.
577.
‘‘Sayambhuṃ taṃ vimānetvā, santacittaṃ samāhitaṃ;
Tena kammenahaṃ ajja, jātomhi nīcayoniyaṃ.
Having disrespected that Self-Existent One, who was peaceful-minded and composed, by that kamma I am today born into a lowly station.
Sau khi khinh miệt vị Tự Giác Ngộ ấy, người có tâm thanh tịnh, có tâm định tĩnh; do nghiệp ấy, hôm nay con đã sanh vào dòng dõi thấp hèn.
578.
578.
578.
‘‘Mā vo khaṇaṃ virādhetha, khaṇātītā hi socare;
Sadatthe vāyameyyātha, khaṇo vo paṭipādito.
Do not let your opportune moment pass you by, for those who have passed the moment grieve. You should strive for your own welfare; the opportune moment has been provided to you.
Chớ để các ngươi bỏ lỡ thời khắc, vì những ai bỏ lỡ thời khắc sẽ sầu muộn; hãy tinh tấn vì lợi ích của mình, thời khắc đã đến với các ngươi.
579.
579.
579.
‘‘Ekaccānañca vamanaṃ, ekaccānaṃ virecanaṃ;
Visaṃ halāhalaṃ eke, ekaccānañca osadhaṃ.
For some, it is an emetic; for some, a purgative; for some, halāhala poison; and for some, medicine.
Đối với một số người, (giáo pháp) là thuốc gây nôn, đối với một số người là thuốc xổ; đối với một số là chất độc chết người, và đối với một số khác là thuốc tiên.
580.
580.
580.
‘‘Vamanaṃ paṭipannānaṃ, phalaṭṭhānaṃ virecanaṃ;
Osadhaṃ phalalābhīnaṃ, puññakkhettaṃ gavesinaṃ.
For those who are practicing, it is an emetic; for those established in the fruit, a purgative; for those desiring the benefit and seeking a field of merit, it is medicine.
Là thuốc gây nôn cho những người đang thực hành, là thuốc xổ cho những người đã chứng quả; là thuốc tiên cho những người mong cầu quả vị, cho những người tìm kiếm phước điền.
581.
581.
581.
‘‘Sāsanena viruddhānaṃ, visaṃ halāhalaṃ yathā;
Āsīviso diṭṭhaviso †, evaṃ jhāpeti taṃ naraṃ.
For those opposed to the Teaching, it is like halāhala poison. Just as a viper that kills by sight burns a person, so too does the Teaching burn that person.
Đối với những người chống đối giáo pháp, (giáo pháp) giống như chất độc chết người; như con rắn độc có nọc độc trong ánh nhìn, nó thiêu đốt người ấy như vậy.
582.
582.
582.
‘‘Sakiṃ pītaṃ halāhalaṃ, uparundhati jīvitaṃ;
Sāsanena virujjhitvā, kappakoṭimhi ḍayhati.
Halāhala poison, drunk once, cuts off life; but having opposed the Teaching, one burns for a koṭi of eons.
Chất độc chết người uống một lần, chỉ hủy hoại mạng sống một lần; nhưng sau khi chống đối giáo pháp, người ấy bị thiêu đốt trong hàng tỷ kiếp.
583.
583.
583.
‘‘Khantiyā avihiṃsāya, mettacittavatāya ca;
Sadevakaṃ so tārati, tasmā te avirādhiyā †.
Through patience, harmlessness, and a mind of loving-kindness, he saves the world with its gods; therefore, such beings should not be opposed.
Với sự kham nhẫn, bất hại, và với tâm từ ái; vị ấy cứu độ thế giới cùng với chư Thiên, do đó, chớ nên chống đối các Ngài.
584.
584.
584.
‘‘Lābhālābhe na sajjanti, sammānanavimānane;
Pathavīsadisā buddhā, tasmā te na virādhiyā †.
They are not attached to gain and loss, nor to honor and dishonor. The Buddhas are like the earth; therefore, they should not be opposed.
Các Ngài không dính mắc trong được và mất, trong danh dự và khinh miệt; các bậc Giác Ngộ giống như đất, do đó, chớ nên chống đối các Ngài.
585.
585.
585.
‘‘Devadatte ca vadhake, core aṅgulimālake;
Rāhule dhanapāle ca, sabbesaṃ samako muni.
Towards Devadatta the slayer, towards the thief Aṅgulimāla, towards Rāhula, and towards Dhanapāla, the Sage is impartial to all.
Đối với Đề-bà-đạt-đa kẻ sát nhân, và tên cướp Vô Não; đối với La-hầu-la và voi Dhanapāla, bậc Tịch Mặc đều bình đẳng với tất cả.
586.
586.
586.
‘‘Etesaṃ paṭigho natthi, rāgomesaṃ na vijjati;
Sabbesaṃ samako buddho, vadhakassorasassa ca.
Towards them, the hostile, there is no aversion; for these, the dear, no lust is found. The Buddha is impartial to all, to the slayer and to His own son.
Đối với những người này (kẻ thù) không có sân hận, đối với những người kia (bạn bè) không có tham ái; bậc Giác Ngộ bình đẳng với tất cả, với kẻ sát nhân và với con ruột của mình.
587.
587.
587.
‘‘Panthe disvāna kāsāvaṃ, chaḍḍitaṃ mīḷhamakkhitaṃ;
Sirasmiṃ añjaliṃ katvā, vanditabbaṃ isiddhajaṃ.
Seeing a saffron robe on the path, discarded and smeared with excrement, placing the hands together in reverence on the head, one should venerate it as the banner of the sages.
Khi thấy trên đường một chiếc y cà-sa, bị vứt bỏ, dính đầy phẩn uế; hãy chắp tay đặt lên đầu, nên đảnh lễ ngọn cờ của bậc ẩn sĩ ấy.
588.
588.
588.
‘‘Abbhatītā ca ye buddhā, vattamānā anāgatā;
Dhajenānena sujjhanti, tasmā ete namassiyā.
The Buddhas who have passed, those who are present, and those who are to come, are purified by this banner; therefore, these robes are worthy of reverence.
Các bậc Giác Ngộ đã qua, hiện tại và vị lai; nhờ ngọn cờ này mà các Ngài được thanh tịnh, do đó, các Ngài đáng được tôn kính.
589.
589.
589.
‘‘Satthukappaṃ suvinayaṃ, dhāremi hadayenahaṃ;
Namassamāno vinayaṃ, viharissāmi sabbadā.
The good Vinaya, equal to the Teacher, I hold in my heart; paying homage to the Vinaya, I will always dwell.
Giới luật tốt đẹp, tương tự như bậc Đạo Sư, con xin ghi nhớ trong tim; trong khi tôn kính Giới luật, con sẽ luôn luôn an trú.
590.
590.
590.
‘‘Vinayo āsayo mayhaṃ, vinayo ṭhānacaṅkamaṃ;
Kappemi vinaye vāsaṃ, vinayo mama gocaro.
The Vinaya is my abode, the Vinaya my standing and walking place; I make my dwelling in the Vinaya, the Vinaya is my resort.
Giới luật là nơi nương tựa của tôi, Giới luật là nơi đứng, nơi đi kinh hành; tôi sống trong Giới luật, Giới luật là cảnh giới của tôi.
591.
591.
591.
‘‘Vinaye pāramippatto, samathe cāpi kovido;
Upāli taṃ mahāvīra, pāde vandati satthuno.
O Great Hero, I, Upāli, who have reached perfection in the Vinaya and am also very skilled in serenity, venerate the feet of you, our Teacher.
Đã đạt đến sự toàn hảo trong Giới luật, và cũng thông thạo về thiền định; con là Upāli, thưa bậc Đại hùng, xin đảnh lễ dưới chân Ngài, bậc Đạo Sư.
592.
592.
592.
‘‘So ahaṃ vicarissāmi, gāmā gāmaṃ purā puraṃ;
Namassamāno sambuddhaṃ, dhammassa ca sudhammataṃ.
I shall wander from village to village, from town to town, paying homage to the Sambuddha and to the good nature of the Dhamma.
Con sẽ đi du hành, từ làng này sang làng khác, từ thành phố này sang thành phố khác; trong khi tôn kính bậc Chánh Giác, và bản chất tốt đẹp của Giáo pháp.
593.
593.
593.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ, bhavā sabbe samūhatā;
Sabbāsavā parikkhīṇā, natthi dāni punabbhavo.
My defilements have been burned up, all states of becoming are uprooted; all taints are destroyed, now there is no further becoming.
“Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được nhổ sạch; Tất cả lậu hoặc đã được đoạn tận, nay không còn tái sanh nữa.”
594.
594.
594.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi, buddhaseṭṭhassa santike;
Tisso vijjā anuppattā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Indeed, my coming into the presence of the best of Buddhas was a good coming. The three knowledges have been attained; the Buddha’s teaching has been fulfilled.
“Sự đến của tôi quả là khéo đến, ở nơi sự hiện diện của bậc Tối Thắng Giả; Ba minh đã được chứng đạt, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
595.
595.
595.
‘‘Paṭisambhidā catasso, vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, and these eight liberations, and the six direct knowledges have been realized; the Buddha’s teaching has been fulfilled.
“Bốn Tuệ Phân Tích, và tám giải thoát này; Sáu thắng trí đã được chứng ngộ, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā upāli thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the venerable Elder Upāli recited these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Upāli đã nói những câu kệ này.
Upālittherassāpadānaṃ chaṭṭhaṃ.
The sixth Apadāna of the Elder Upāli.
Thánh nhân ký sự của Trưởng lão Upāli, chương thứ sáu.