Bản dịch
THA -ap70 — Ký Sự về Trưởng Lão Ambadāyaka
Ambadāyakattheraapadāna
BJT 1401Đức Thế Tôn Anomadassī, bậc không còn mầm mống tái sanh, ngồi ở vùng đồi núi đã lan tỏa với tâm từ ái ở thế gian vô hạn lượng.
BJT 1402Khi ấy, tôi đã là con khỉ ở ngọn núi Hi-mã-lạp tối thượng. Sau khi nhìn thấy đấng Anoma vô lượng, tôi đã làm cho tâm tịnh tín ở đức Phật.
BJT 1403Lúc bấy giờ, ở không xa núi Hi-mã-lạp có những cây xoài đã được kết trái. Tôi đã hái trái chín từ nơi ấy và đã dâng cúng trái xoài cùng với mật ong.
BJT 14041405. Đức Phật, bậc Đại Hiền Trí Anomadassī đã chú nguyện điều ấy cho tôi rằng: “Do cả hai việc là sự dâng cúng mật ong và sự dâng cúng trái xoài này, (người ấy) sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong năm mươi bảy kiếp, và trong những kiếp còn lại sẽ luân hồi xen kẽ (giữa cõi trời và cõi người).
BJT 1406(Người ấy) sẽ làm cho nghiệp ác được loại trừ nhờ vào trí giác ngộ đã được hoàn toàn chín muồi, sẽ không đi đến đọa xứ, và sẽ thiêu đốt các phiền não.”
BJT 1407Tôi đã được huấn luyện với sự huấn luyện tối thượng bởi bậc Đại Ẩn Sĩ. Sau khi từ bỏ sự hơn thua, tôi đã đạt được vị thế Bất Động.
BJT 1408(Trước đây) bảy ngàn bảy trăm kiếp, mười bốn vị vua ấy có tên Ambaṭṭhaja đã là các đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao.
BJT 1409Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Ambadāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Ambadāyaka là phần thứ tám.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
8. Ambadāyakattheraapadānaṃ
8. The Eighth: The Apadāna of the Elder Ambadāyaka.
8. Thiên sử về Trưởng lão Ambadāyaka
53.
53.
53.
‘‘Anomadassī bhagavā, nisinno pabbatantare;
Mettāya aphari loke, appamāṇe nirūpadhi.
“The Blessed One Anomadassī, seated in a mountain recess, suffused the boundless, substratum-less world with loving-kindness.
“Đức Thế Tôn Anomadassī, bậc không còn chấp thủ, trong khi đang ngồi ở giữa vùng núi non, ngài đã tỏa khắp thế gian vô lượng bằng tâm từ.
54.
54.
54.
‘‘Kapi ahaṃ tadā āsiṃ, himavante naguttame;
Disvā anomadassiṃ taṃ †, buddhe cittaṃ pasādayiṃ.
“At that time, I was a monkey in the Himālaya, the best of mountains. Seeing that Anomadassī, I inspired confidence in my mind towards the Buddha.
“Khi ấy, tôi là con khỉ ở tại núi Himavanta cao quý. Sau khi nhìn thấy ngài Anomadassī, tôi đã làm cho tâm được trong sạch ở nơi đức Phật.
55.
55.
55.
‘‘Avidūre himavantassa, ambāsuṃ phalino tadā;
Tato pakkaṃ gahetvāna, ambaṃ samadhukaṃ adaṃ.
“Not far from the Himālaya, there were fruit-bearing mango trees then. Taking a ripe mango from there, I gave it with honey.
“Khi ấy, ở không xa núi Himavanta có các cây xoài đang có quả. Từ nơi ấy, sau khi lấy quả xoài chín, tôi đã dâng cúng cùng với mật ong.
56.
56.
56.
‘‘Taṃ me buddho viyākāsi, anomadassī mahāmuni;
Iminā madhudānena, ambadānena cūbhayaṃ.
“The Buddha Anomadassī, the great sage, made this prediction about me: ‘By this gift of honey and by the gift of a mango, by both,
“Đức Phật Anomadassī, bậc Đại ẩn sĩ đã thọ ký cho tôi về việc ấy: ‘Do nhờ việc cúng dường mật ong và việc cúng dường quả xoài này, cả hai,
57.
57.
57.
‘‘Sattapaññāsakappamhi, devaloke ramissati;
Avasesesu kappesu, vokiṇṇaṃ saṃsarissati.
'For fifty-seven aeons, he will rejoice in the world of the gods; in the remaining aeons, he will wander through mixed existences.'
Vị ấy sẽ hoan hỷ ở cõi trời trong năm mươi bảy kiếp; trong các kiếp còn lại, vị ấy sẽ luân hồi xen kẽ giữa các cõi lành.
58.
58.
58.
‘‘Khepetvā pāpakaṃ kammaṃ, paripakkāya buddhiyā;
Vinipātamagantvāna, kilese jhāpayissati.
“‘Having exhausted evil kamma, with ripened wisdom, not going to a state of woe, he will cause the defilements to be burned up.’
“‘Sau khi làm cho cạn kiệt nghiệp xấu, do trí tuệ đã chín muồi, sau khi không đi đến cảnh khổ, vị này sẽ thiêu đốt các phiền não.’”
59.
59.
59.
‘‘Damena uttamenāhaṃ, damitomhi mahesinā;
Pattomhi acalaṃ ṭhānaṃ, hitvā jayaparājayaṃ.
“By the supreme taming, I have been tamed by the Great Seer; I have attained the unshakeable state, having abandoned victory and defeat.
Ta đã được bậc Đại Sĩ huấn luyện bằng sự huấn luyện tối thượng. Từ bỏ thắng và bại, ta đã đạt đến trạng thái bất động.
60.
60.
60.
‘‘Sattasattatikappasate, ambaṭṭhajasanāmakā;
Catuddasa te rājāno, cakkavattī mahabbalā.
“In the one hundred and seventy-seventh aeon, there were fourteen of those kings named Ambaṭṭhaja, mighty wheel-turning monarchs.
Trong một trăm bảy mươi bảy kiếp, đã có mười bốn vị vua Chuyển Luân Vương, có đại oai lực, mang cùng tên là Ambaṭṭhaja.
61.
61.
61.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
“The four analytical knowledges… the Buddha’s Dispensation has been fulfilled.”
Bốn Tuệ Phân Tích ... (v.v.) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā ambadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Ambadāyaka spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Ambadāyaka đã nói những câu kệ này.
Ambadāyakattherassāpadānaṃ aṭṭhamaṃ.
The Eighth Apadāna of the Elder Ambadāyaka is concluded.
Thánh Cả Ký Sự của Trưởng lão Ambadāyaka, phần thứ tám.