Bản dịch
THA -ap68 — Ký Sự về Trưởng Lão Sucintita
Sucintitattheraapadāna
BJT 1384Tôi đã là người (thợ săn) lai vãng ở các khu vực hiểm trở của những ngọn núi. Tợ như con sư tử đã được sanh ra tốt đẹp, tôi giết các bầy thú rừng và sống ở trong vùng đồi núi.
BJT 1385Về phần đức Thế Tôn Atthadassī, đấng Toàn Tri, bậc cao quý trong số các vị đang thuyết giảng, có ý định tiếp độ tôi Ngài đã đi đến ngọn núi cao nhất.
BJT 1386Sau khi giết chết con nai đốm, tôi đã tiến đến để ăn thịt. Vào lúc ấy, đức Thế Tôn trong lúc khất thực đã đi đến gần.
BJT 1387Tôi đã cầm lấy những miếng thịt ngon và đã dâng cúng đến bậc Đạo Sư ấy. Khi ấy, trong lúc giúp cho tôi chứng đạt Niết Bàn, đấng Đại Hùng đã nói lời tùy hỷ.
BJT 1388Do sự tịnh tín ấy ở trong tâm, tôi đã đi vào khu vực hiểm trở của ngọn núi. Sau khi làm cho niềm phỉ lạc sanh khởi, tôi đã qua đời ở tại nơi ấy.
BJT 1389Do sự dâng cúng thịt ấy và do các nguyện lực của tâm, tôi đã sướng vui ở thế giới chư Thiên trong một ngàn năm trăm kiếp.
BJT 1390Do chính sự dâng cúng thịt ấy và sự tưởng niệm về đức Phật, trong những kiếp còn lại điều lành đã được tôi tích lũy.
BJT 1391(Trước đây) ba mươi tám kiếp, đã có tám vị tên là Dīghāyu. Trước đây sáu ngàn kiếp, đã có hai vị tên là Varuṇa.
BJT 1392Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Sucintitađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Sucintita là phần thứ sáu.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
6. Sucintitattheraapadānaṃ
6. The Apadāna of the Elder Sucintita.
6. Thiên sử về Trưởng lão Sucintita
36.
36.
36.
‘‘Giriduggacaro āsiṃ, abhijātova kesarī;
Migasaṅghaṃ vadhitvāna, jīvāmi pabbatantare.
I was a wanderer in mountain fastnesses, like a well-bred lion. Having slain herds of beasts, I made my living within the mountains.
“Tôi đã là người đi lại trong vùng núi non hiểm trở, giống như con sư tử thuộc dòng dõi cao quý. Sau khi giết hại bầy thú, tôi sinh sống ở giữa vùng núi non.
37.
37.
37.
‘‘Atthadassī tu bhagavā, sabbaññū vadataṃ varo;
Mamuddharitukāmo so, āgacchi pabbatuttamaṃ.
But the Blessed One Atthadassī, the Omniscient One, the best of speakers, wishing to uplift me, came to the supreme mountain.
“Và đức Thế Tôn Atthadassī, bậc Toàn Giác, vị Tối Thắng của các bậc thuyết giảng, ngài ấy có ý muốn cứu vớt tôi nên đã đi đến ngọn núi cao quý.
38.
38.
38.
‘‘Pasadañca migaṃ hantvā, bhakkhituṃ samupāgamiṃ;
Bhagavā tamhi samaye, bhikkhamāno † upāgami.
Having killed a spotted deer and another beast, I approached to eat. At that time, the Blessed One approached, seeking alms.
“Sau khi giết con nai đốm và con thú, tôi đã đi đến gần để ăn thịt. Vào lúc ấy, đức Thế Tôn đang đi khất thực đã đi đến gần.
39.
39.
39.
‘‘Varamaṃsāni paggayha, adāsiṃ tassa satthuno;
Anumodi mahāvīro, nibbāpento mamaṃ tadā.
Having taken the choicest meats, I gave them to that Teacher. The great hero gave his blessing, pacifying me at that time.
“Sau khi lấy những phần thịt ngon, tôi đã dâng cúng đến bậc Đạo Sư ấy. Khi ấy, bậc Đại Hùng đã tùy hỷ, trong khi làm cho tôi được an tịnh.
40.
40.
40.
‘‘Tena cittappasādena, giriduggaṃ pavisiṃ ahaṃ;
Pītiṃ uppādayitvāna, tattha kālaṅkato ahaṃ.
With that serenity of mind, I entered the mountain fastness; having aroused rapture, I passed away there.
“Do nhờ sự trong sạch của tâm ấy, tôi đã đi vào vùng núi non hiểm trở. Sau khi làm phát sanh niềm hoan hỷ, tôi đã mệnh chung ở nơi ấy.
41.
41.
41.
‘‘Etena maṃsadānena, cittassa paṇidhīhi ca;
Pannarase kappasate, devaloke ramiṃ ahaṃ.
By this gift of meat and by the aspirations of my mind, for fifteen hundred eons I rejoiced in the deva world.
“Do nhờ việc cúng dường thịt và các lời nguyện của tâm này, tôi đã vui hưởng ở cõi trời trong một ngàn năm trăm kiếp.
42.
42.
42.
‘‘Avasesesu kappesu, kusalaṃ cintitaṃ † mayā;
Teneva maṃsadānena, buddhānussaraṇena ca.
In the remaining eons, merit was intended by me; this was due to that gift of meat and to the recollection of the Buddha.
“Trong các kiếp còn lại, điều thiện đã được tôi suy ngẫm. Chính do nhờ việc cúng dường thịt và nhờ sự tưởng niệm đến đức Phật ấy,
43.
43.
43.
‘‘Aṭṭhattiṃsamhi kappamhi, aṭṭha dīghāyunāmakā;
Saṭṭhimhito kappasate, duve varuṇanāmakā †.
In the thirty-eighth aeon, there were eight kings named Dīghāyu; one hundred and sixty aeons ago from now, there were two named Varuṇa.
Vào kiếp thứ ba mươi tám, có tám vị chuyển luân vương tên là Dīghāyu. Cách đây một trăm sáu mươi kiếp, có hai vị chuyển luân vương tên là Varuṇa.
44.
44.
44.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal powers have been attained by me; the Buddha’s teaching has been fulfilled.
“Bốn Tuệ Phân Tích ... (v.v.) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā sucintito thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus the Venerable Elder Sucintita spoke these verses.
Như thế, Trưởng lão Sucintita đã thuyết những kệ ngôn này.
Sucintitattherassāpadānaṃ chaṭṭhaṃ.
The Sixth Apadāna of the Elder Sucintita is concluded.
Thiên sử về Trưởng lão Sucintita, thiên thứ sáu.