Bản dịch
THA -ap65 — Ký Sự về Trưởng Lão Paccāgamaniya
Paccāgamaniyattheraapadāna
BJT 1361Lúc bấy giờ, tôi đã là loài ngỗng đỏ ở bờ sông Sindhu. Và tôi đã khéo ngăn ngừa các điều ác, có thức ăn thuần là loài thảo mộc ở trong nước.
BJT 1362Tôi đã nhìn thấy đức Phật, bậc Vô Nhiễm đang di chuyển ở trên không trung. Tôi đã dùng mỏ ngắt lấy bông hoa sālā và đã dâng lên (đức Phật) Vipassī.
BJT 1363“Người nào có niềm tin ở đức Như Lai không bị lay chuyển khéo được thiết lập, do sự tịnh tín ấy ở trong tâm người ấy không đi đến khổ cảnh.”
BJT 1364Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng. Hạt giống tốt đã được tôi gieo trồng trong khi tôi là loài chim.
BJT 1365(Kể từ khi) tôi đã dâng lên bông hoa trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường bông hoa.
BJT 1366(Trước đây) mười bảy kiếp, tám vị này có cùng một tên là Sucāru-dassana. Họ đã là các đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao.
BJT 1367Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Paccāgamaniyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Paccāgamaniya là phần thứ ba.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3. Paccāgamaniyattheraapadānaṃ
3. The Apadāna of the Elder Paccāgamaniya
3. Ký sự về Trưởng lão Paccāgamaniya
13.
13.
13.
‘‘Sindhuyā nadiyā tīre, cakkavāko ahaṃ tadā;
Suddhasevālabhakkhohaṃ, pāpesu ca susaññato.
On the bank of the Sindhu River, I was then a ruddy shelduck, eating pure algae and well-restrained from evil deeds.
Vào lúc ấy, tôi là con chim cakkavāka ở trên bờ sông Sindhu. Tôi chỉ ăn loại rong rêu tinh khiết và đã được khéo thu thúc đối với các điều ác.
14.
14.
14.
‘‘Addasaṃ virajaṃ buddhaṃ, gacchantaṃ anilañjase;
Tuṇḍena sālaṃ paggayha, vipassissābhiropayiṃ.
I saw the stainless Buddha traveling through the sky. Taking a sāla flower with my beak, I offered it to the Buddha Vipassī.
Ta đã nhìn thấy đức Phật không còn cấu uế, đang đi trong hư không; (ta) đã dùng mỏ ngậm lấy hoa sāla và dâng cúng lên đấng Vipassī.
15.
15.
15.
‘‘Yassa saddhā tathāgate, acalā supatiṭṭhitā;
Tena cittappasādena, duggatiṃ so na gacchati.
One whose faith in the Tathāgata is unshakable and well-established, through that serenity of mind, does not go to a woeful state.
Người nào có đức tin ở đấng Như Lai không bị lay chuyển, được an lập vững chắc, do nhờ sự trong sạch của tâm ấy, người ấy không đi đến khổ cảnh.
16.
16.
16.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi, buddhaseṭṭhassa santike;
Vihaṅgamena santena, subījaṃ ropitaṃ mayā.
Fortunate indeed was my arrival in the presence of the best of Buddhas. Though I was a bird, a good seed was planted by me.
Quả thật, sự đến của ta ở nơi sự hiện diện của đấng Tối Thắng Giả là sự khéo đến. Trong khi là loài chim, hạt giống tốt đẹp đã được ta gieo trồng.
17.
17.
17.
‘‘Ekanavutito kappe, yaṃ pupphamabhiropayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, buddhapūjāyidaṃ † phalaṃ.
Ninety-one eons ago from this one, when I offered that flower, I have not known a woeful state; this is the fruit of worshipping the Buddha.
Kể từ đại kiếp thứ chín mươi mốt, khi ấy ta đã dâng cúng đóa hoa, ta không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc cúng dường đức Phật.