Bản dịch
THA -ap62 — Ký Sự về Trưởng Lão Asanabodhiya
Asanabodhiyattheraapadāna
BJT 1334Vào lúc bảy tuổi tính từ khi sanh, tôi đã nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian. Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã đi đến gần bậc Tối Thượng Nhân.
BJT 1335Đối với đức Thế Tôn Tissa, bậc Trưởng Thượng của thế gian như thế ấy, tôi đã trở nên mừng rỡ. Với tâm mừng rỡ, tôi đã gieo trồng cội Bồ Đề tối thượng.
BJT 1336(Cội Bồ Đề) là giống cây mọc ở trên mặt đất có tên là Asana. Tôi đã chăm sóc cội Bồ Đề tối thượng Asana năm năm.
BJT 1337Sau khi nhìn thấy cội cây đã được trổ hoa là điều kỳ diệu khiến lông rởn ốc. Trong khi tán dương việc làm của mình, tôi đã đi đến gặp đức Phật tối thượng.
BJT 1338Khi ấy, bậc Toàn Giác Tissa, đấng Tự Chủ, nhân vật cao cả ấy, sau khi ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu, đã nói lên những lời kệ này:
BJT 1339“Người nào đã gieo trồng cội cây Bồ Đề này và đã tôn trọng sự cúng dường đức Phật, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói.
BJT 1340Người ấy sẽ cai quản Thiên quốc ở giữa chư Thiên ba mươi kiếp, và sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương sáu mươi bốn lần.
BJT 1341Được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, sau khi mệnh chung từ chính cõi trời Đẩu Suất, sau khi thọ hưởng hai sự thành đạt, người ấy sẽ sướng vui ở bản thể nhân loại.
BJT 1342Có tính khẳng quyết về sự nỗ lực, được an tịnh, không còn mầm mống tái sanh, sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, người ấy sẽ Niết Bàn không còn lậu hoặc.”
BJT 1343Tôi đã gắn bó với sự độc cư, được an tịnh, không còn mầm mống tái sanh. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 1344Kể từ khi tôi đã gieo trồng cội Bồ Đề trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc gieo trồng cội Bồ Đề.
BJT 1345Trước đây bảy mươi bốn kiếp, (tôi đã) được nổi tiếng với tên Daṇḍasena. Khi ấy, tôi đã là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật.
BJT 1346Trước đây bảy mươi ba kiếp, đã có bảy vị lãnh chúa là các đấng Chuyển Luân Vương tên Samantanemi.
BJT 1347Trước đây hai mươi lăm kiếp, (tôi đã là) vị Sát-đế-lỵ tên Puṇṇaka, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1348Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Asanabodhiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Asanabodhiya là phần thứ mười.
Phần Tóm Lược:
Vị có cây quạt, vị Sataraṁsī, chiếc giường, vị có nước hương thơm, vị có phương tiện di chuyển, vị có vật phụ thuộc, cây đèn, ngọn cờ, vị cúng dường hoa sen hồng, và cội Bồ Đề là thứ mười. Như thế, (tổng cộng) có chín mươi hai câu kệ đã được nói đến.
Phẩm Vījanī là phẩm thứ sáu.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
10. Asanabodhiyattheraapadānaṃ
10. The Chronicle of the Elder Asanabodhiya.
10. Thiên truyện về Trưởng lão Asanabodhiya
78.
78.
78.
‘‘Jātiyā sattavassohaṃ, addasaṃ lokanāyakaṃ;
Pasannacitto sumano, upagacchiṃ naruttamaṃ.
At seven years of age, I saw the Leader of the World. With a serene and glad mind, I approached the Supreme Man.
Khi tôi được bảy tuổi, tôi đã nhìn thấy bậc Lãnh Đạo thế gian. Với tâm tịnh tín và hoan hỷ, tôi đã đến gần bậc Tối Thượng.
79.
79.
79.
‘‘Tissassāhaṃ bhagavato, lokajeṭṭhassa tādino;
Haṭṭho haṭṭhena cittena, ropayiṃ bodhimuttamaṃ.
Joyful, and with a delighted mind, I planted the supreme Bodhi tree of the Blessed One Tissa, the Foremost in the World, the One of Such Qualities.
Với tâm hoan hỷ, tôi đã trồng cây Bồ-đề cao quý của đức Thế Tôn Tissa, bậc Trưởng Thượng của thế gian, bậc Như Thị.
80.
80.
80.
‘‘Asano nāmadheyyena, dharaṇīruhapādapo;
Pañcavasse paricariṃ, asanaṃ bodhimuttamaṃ.
A tree growing from the earth, by name Asana; for five years I attended to the supreme Asana Bodhi tree.
Loài cây mọc trên đất có tên là asana. Tôi đã chăm sóc cây Bồ-đề asana cao quý ấy trong suốt năm năm.
81.
81.
81.
‘‘Pupphitaṃ pādapaṃ disvā, abbhutaṃ lomahaṃsanaṃ;
Sakaṃ kammaṃ pakittento, buddhaseṭṭhaṃ upāgamiṃ.
Seeing the flowering tree, wondrous and hair-raising, proclaiming my own deed, I approached the best of Buddhas.
Sau khi nhìn thấy cây trổ hoa, một cảnh tượng kỳ diệu làm dựng tóc gáy, tôi đã đến gần đức Phật tối thượng, trong khi kể lại việc làm của mình.
82.
82.
82.
‘‘Tisso tadā so sambuddho, sayambhū aggapuggalo;
Bhikkhusaṅghe nisīditvā, imā gāthā abhāsatha.
Then that Tissa, the Fully Enlightened One, the Self-become, the foremost person, having sat down in the assembly of monks, spoke these verses.
Khi ấy, đức Chánh Đẳng Giác Tissa, bậc Tự Giác, bậc Tối Thượng, sau khi ngồi giữa Tăng chúng, đã nói lên những câu kệ này.
83.
83.
83.
‘‘‘Yenāyaṃ ropitā bodhi, buddhapūjā ca sakkatā;
Tamahaṃ kittayissāmi, suṇātha mama bhāsato.
‘Of him by whom this Bodhi tree was planted and the worship of the Buddha was well done, I shall now speak; listen to me as I speak.’
‘Người nào đã trồng cây Bồ-đề này, và đã thực hiện tốt đẹp sự cúng dường đến đức Phật, Ta sẽ tán thán về người ấy. Các ngươi hãy lắng nghe lời của Ta đang nói đây.’
84.
84.
84.
‘‘‘Tiṃsakappāni devesu, devarajjaṃ karissati;
Catusaṭṭhi cakkhattuṃ so, cakkavattī bhavissati.
‘For thirty eons he will exercise sovereignty among the devas. Sixty-four times he will become a wheel-turning monarch.’
‘Trong ba mươi kiếp, người ấy sẽ cai trị vương quốc của chư thiên. Sáu mươi bốn lần, người ấy sẽ trở thành Chuyển luân vương.’
85.
85.
85.
‘‘‘Tusitā hi cavitvāna, sukkamūlena codito;
Dve sampattī anubhotvā, manussatte ramissati.
‘Having passed away from Tusita, urged on by a wholesome root, having experienced two kinds of good fortune, he will delight in the human state.’
‘Sau khi mạng chung từ cõi trời Tusita, được thiện căn thúc đẩy, sau khi hưởng thụ hai loại tài sản (của trời và người), người ấy sẽ hoan hỷ trong kiếp người.’
86.
86.
86.
‘‘‘Padhānapahitatto so, upasanto nirūpadhi;
Sabbāsave pariññāya, nibbāyissatināsavo’.
‘He, with a mind dispatched to striving, peaceful, without substratum, having fully understood all the taints, will attain Nibbāna without taints.’
‘Người ấy, với tâm hướng về sự tinh tấn, sẽ được an tịnh, không còn chấp thủ. Sau khi liễu tri tất cả các lậu hoặc, vị ấy sẽ nhập Niết-bàn, không còn lậu hoặc.’
87.
87.
87.
‘‘Vivekamanuyuttohaṃ, upasanto nirūpadhi;
Nāgova bandhanaṃ chetvā, viharāmi anāsavo.
I am devoted to seclusion, peaceful, without substratum. Like a great being having broken its bonds, I dwell without taints.
Tôi chuyên tâm vào sự viễn ly, được an tịnh, không còn chấp thủ. Giống như con voi phá vỡ xiềng xích, tôi sống không còn lậu hoặc.
88.
88.
88.
‘‘Dvenavute ito kappe, bodhiṃ ropesahaṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, bodhiropassidaṃ phalaṃ.
Ninety-two eons ago from this eon, I then planted the Bodhi tree. I have known no woeful destination; this is the fruit of planting the Bodhi tree.
Cách đây chín mươi hai kiếp, khi ấy tôi đã trồng cây Bồ-đề. (Kể từ đó), tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả của việc trồng cây Bồ-đề.
89.
89.
89.
‘‘Catusattatito kappe, daṇḍasenoti vissuto;
Sattaratanasampanno, cakkavattī tadā ahuṃ.
Seventy-four eons ago from this eon, I was then a wheel-turning monarch, endowed with the seven treasures, renowned as Daṇḍasena.
Cách đây bảy mươi bốn kiếp, tôi đã là vị Chuyển Luân vương, có danh hiệu là Daṇḍasena, được trang bị đầy đủ bảy báu vật.
90.
90.
90.
‘‘Tesattatimhito kappe, sattāhesuṃ mahīpatī;
Samantanemināmena, rājāno cakkavattino.
In the seventy-third eon ago from this one, there were seven lords of the earth, wheel-turning monarchs by the name of Samantanemi.
Cách đây bảy mươi ba kiếp, đã có bảy vị vua, là các bậc Chuyển Luân vương, những vị cai quản mặt đất, mang danh hiệu là Samantanemi.
91.
91.
91.
‘‘Paṇṇavīsatito kappe, puṇṇako nāma khattiyo;
Sattaratanasampanno, cakkavattī mahabbalo.
Twenty-five eons ago from this eon, I was a khattiya king named Puṇṇaka, endowed with the seven treasures, a wheel-turner of great strength.
Cách đây hai mươi lăm kiếp, có vị vua dòng Sát-đế-lỵ tên là Puṇṇaka, một vị Chuyển Luân vương có đại oai lực, được trang bị đầy đủ bảy báu vật.
92.
92.
92.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized. The teaching of the Buddha has been fulfilled.
Bốn Tuệ Phân tích ... (v.v.) ... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā asanabodhiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus, indeed, the Venerable Elder Asanabodhiya spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Asanabodhiya đã nói những câu kệ này.
Asanabodhiyattherassāpadānaṃ dasamaṃ.
The Tenth Apadāna of the Elder Asanabodhiya.
Ký sự về Trưởng lão Asanabodhiya, là phần thứ mười.
The Bījani Chapter, the Sixth.
Phẩm Bījani là phẩm thứ sáu.
Tassuddānaṃ –
The summary:
Phần tóm lược như sau:
Bījanī sataraṃsī ca, sayanodakivāhiyo;
Parivāro padīpañca, dhajo padumapūjako;
Bodhi ca dasamo vutto, gāthā dvenavuti tathā.
Bījani, Sataraṃsi, Sayana, Udaki, Vāhiyo, Parivāro, Padīpa, Dhajo, Padumapūjako, and Bodhi is said to be the tenth. Likewise, there are ninety-two verses.
Bījanī, Sataraṃsi, Sayana, Udakivāhiya, Parivāra, Padīpa, Dhaja, Padumapūjaka, và Bodhi được nói là vị thứ mười. Tương tự, có chín mươi hai câu kệ.