Bản dịch
THA -ap6 — Ký Sự về Trưởng Lão Anuruddha
Anuruddhattheraapadāna
BJT 423Tôi đã nhìn thấy đức Thế Tôn Sumedha, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, bậc Lãnh Đạo Thế Gian đang an trú vào hạnh độc cư.
BJT 424Sau khi đi đến gặp bậc Toàn Giác, đấng Lãnh Đạo Thế Gian Sumedha, tôi đã chắp tay lên và đã thỉnh cầu đức Phật tối thượng rằng:
BJT 425“Bạch đấng Đại Hùng, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, con sẽ dâng lên cây đèn đến Ngài là vị đang tham thiền ở dưới cội cây, xin Ngài thương xót.”
BJT 426Bậc trí tuệ ấy, đấng Tự Chủ cao quý trong số các vị đang thuyết giảng đã chấp nhận. Khi ấy, tôi đã khoan thủng các thân cây và đã gắn thiết bị vào.
BJT 427Tôi đã dâng lên đức Phật, đấng quyến thuộc của thế gian một ngàn tim đèn. Sau khi đã cháy sáng bảy ngày, các cây đèn của tôi đã lụi tàn.
BJT 428Do sự tịnh tín ấy ở trong tâm và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đã được sanh ra ở Thiên cung.
BJT 429Được đạt đến bản thể Thiên nhân, có cung điện đã được hóa hiện ra cho tôi, nó chiếu sáng ra xung quanh; điều này là quả báu của việc dâng cúng cây đèn.
BJT 430Khi ấy, tôi đã chiếu sáng ở xung quanh một trăm do-tuần, tôi vượt trội tất cả chư Thiên; điều này là quả báu của việc dâng cúng cây đèn.
BJT 431Tôi đã là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc ba mươi ba kiếp, không người nào xem thường tôi; điều này là quả báu của việc dâng cúng cây đèn.
BJT 432Và tôi đã trở thành đấng Chuyển Luân Vương hai mươi tám lần. Khi ấy, tôi nhìn thấy (xa khoảng cách) một do-tuần ở xung quanh vào ban ngày và ban đêm.
BJT 433Tôi nhìn thấy một ngàn thế giới bằng trí tuệ trong Giáo Pháp của bậc Đạo Sư, tôi đã đạt được Thiên nhãn; điều này là quả báu của việc dâng cúng cây đèn.
BJT 434Đấng Toàn Giác tên Sumedha là ba mươi ngàn kiếp về trước. Với tâm ý trong sạch, tôi đã dâng cúng cây đèn đến Ngài.
435—437. Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, ―(như trên)― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Anuruddha đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Anuruddha là phần thứ tư.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3-4. Anuruddhattheraapadānaṃ
The Apadāna of the Elder Anuruddha
3-4. Phẩm truyện về trưởng lão Anuruddha (A-nậu-lâu-đà)
421.
421.
421.
‘‘Sumedhaṃ bhagavantāhaṃ, lokajeṭṭhaṃ narāsabhaṃ;
Vūpakaṭṭhaṃ viharantaṃ, addasaṃ lokanāyakaṃ.
I saw the Blessed One Sumedha, foremost in the world, a bull among men, the leader of the world, dwelling in seclusion.
Tôi đã nhìn thấy đức Thế Tôn Sumedha, bậc Trưởng Thượng của thế gian, bậc Ngưu Vương giữa loài người, bậc Lãnh Đạo thế gian, đang an trú ở nơi vắng vẻ.
422.
422.
422.
‘‘Upagantvāna sambuddhaṃ, sumedhaṃ lokanāyakaṃ;
Añjaliṃ paggahetvāna, buddhaseṭṭhamayācahaṃ.
Approaching the Perfectly Enlightened One Sumedha, the leader of the world, and raising my joined hands in reverence, I made a request to the supreme Buddha.
Sau khi đã đi đến gần đức Chánh Đẳng Giác Sumedha, bậc Lãnh Đạo thế gian, và sau khi đã chắp tay lên, tôi đã thỉnh cầu bậc Tối Thắng giữa các đức Phật.
423.
423.
423.
‘‘Anukampa mahāvīra, lokajeṭṭha narāsabha;
Padīpaṃ te padassāmi, rukkhamūlamhi jhāyato.
“Have compassion, O great hero, foremost in the world, bull among men. I shall offer a lamp to you as you meditate at the foot of a tree.”
‘Xin Ngài hãy rủ lòng thương, hỡi bậc Đại Hùng, bậc Trưởng Thượng của thế gian, bậc Ngưu Vương giữa loài người. Con sẽ dâng đèn đến Ngài, đang thiền định ở dưới gốc cây’.
424.
424.
424.
‘‘Adhivāsesi so dhīro, sayambhū vadataṃ varo;
Dumesu vinivijjhitvā, yantaṃ yojiyahaṃ tadā.
That wise one, the Self-Existent, the best of speakers, consented. Then, having bored into the trees, I set up a press.
Bậc Trí Tuệ ấy, bậc Tự Sanh, bậc Tối Thắng giữa những người thuyết giảng, đã chấp thuận. Khi ấy, sau khi đã khoét vào các cây, tôi đã lắp đặt một máy (ép dầu).
425.
425.
425.
‘‘Sahassavaṭṭiṃ pādāsiṃ, buddhassa lokabandhuno;
Sattāhaṃ pajjalitvāna, dīpā vūpasamiṃsu me.
I offered a thousand wicks to the Buddha, the Kinsman of the World. Having burned for seven days, my lamps were extinguished.
Ta đã dâng cúng một ngàn tim đèn đến đức Phật, bậc Thân Thuộc của thế gian. Sau khi đã cháy sáng trong bảy ngày, các ngọn đèn của ta đã tắt lịm.
426.
426.
426.
‘‘Tena cittappasādena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, vimānamupapajjahaṃ.
Through that confidence of mind, and through my volitions and aspirations, having abandoned the human body, I was reborn in a celestial mansion.
Do nhờ sự tín tâm trong sạch ấy và do nhờ các tác ý và nguyện vọng, sau khi từ bỏ thân người, ta đã được sanh vào thiên cung.
427.
427.
427.
‘‘Upapannassa devattaṃ, byamhaṃ āsi sunimmitaṃ;
Samantato pajjalati, dīpadānassidaṃ phalaṃ.
When I was reborn as a deva, a well-fashioned pillar arose for me; it blazed all around—this is the fruit of offering a lamp.
Khi được sanh làm vị trời, một lâu đài nguy nga được khéo tạo ra đã hiện hữu cho ta. Lâu đài ấy tỏa sáng khắp bốn phương. Đây là quả báo của việc cúng dường đèn.
428.
428.
428.
‘‘Samantā yojanasataṃ, virocesimahaṃ tadā;
Sabbe deve abhibhomi, dīpadānassidaṃ phalaṃ.
At that time, I shone for a hundred yojanas all around; I surpassed all the devas—this is the fruit of offering a lamp.
Khi ấy, ta đã tỏa sáng khắp xung quanh một trăm do-tuần. Ta vượt trội hơn tất cả chư thiên. Đây là quả báo của việc cúng dường đèn.
429.
429.
429.
‘‘Tiṃsakappāni devindo, devarajjamakārayiṃ;
Na maṃ kecītimaññanti, dīpadānassidaṃ phalaṃ.
For thirty eons, as king of the devas, I exercised sovereignty. No one dared to disrespect me—this is the fruit of offering a lamp.
Trong ba mươi kiếp, ta đã làm vua trời, trị vì vương quốc của chư thiên. Không một ai dám khinh thường ta. Đây là quả báo của việc cúng dường đèn.
430.
430.
430.
‘‘Aṭṭhavīsatikkhattuñca, cakkavattī ahosahaṃ;
Divā rattiñca passāmi, samantā yojanaṃ tadā.
And twenty-eight times I was a wheel-turning monarch; at that time, day and night, I could see for a yojana all around.
Và hai mươi tám lần, ta đã là vị Chuyển luân vương. Khi ấy, ta nhìn thấy được cả ngày lẫn đêm trong phạm vi một do-tuần khắp xung quanh.
431.
431.
431.
‘‘Sahassalokaṃ ñāṇena, passāmi satthu sāsane;
Dibbacakkhumanuppatto, dīpadānassidaṃ phalaṃ.
In the Teacher's Dispensation, I see the thousandfold world-system with my knowledge. I have attained the divine eye—this is the fruit of offering a lamp.
Trong giáo pháp của bậc Đạo Sư, ta nhìn thấy một ngàn thế giới bằng trí tuệ. Ta đã chứng đắc thiên nhãn. Đây là quả báo của việc cúng dường đèn.
432.
432.
432.
‘‘Sumedho nāma sambuddho, tiṃsakappasahassito;
Tassa dīpo mayā dinno, vippasannena cetasā.
Thirty thousand eons ago from this present eon, there was a Perfectly Enlightened One named Sumedha. I offered a lamp to him with an especially serene mind.
Cách đây ba mươi ngàn kiếp, đã có bậc Chánh Đẳng Giác tên là Sumedha. Ta đã dâng cúng đèn đến Ngài với tâm vô cùng trong sạch.
433.
433.
433.
‘‘Paṭisambhidā catasso, vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, these eight liberations, and the six supernormal powers have been realized; the Buddha's teaching has been fulfilled.
Bốn Tuệ phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được ta chứng ngộ. Lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā anuruddho thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus, indeed, the Venerable Elder Anuruddha spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Anuruddha khả kính đã nói những câu kệ này.
Anuruddhattherassāpadānaṃ catutthaṃ.
The Fourth Apadāna of the Elder Anuruddha is concluded.
Phần Thí dụ của Trưởng lão Anuruddha, chương thứ tư.