Bản dịch
THA -ap5 — Ký Sự về Trưởng Lão Mahākassapa
Mahākassapattheraapadāna
BJT 399Khi đấng Bảo Hộ Thế Gian Niết Bàn, tôi thể hiện sự cúng dường đến đức Thế Tôn Padumuttara, bậc Đạo Sư, đấng Trưởng Thượng của thế gian như thế ấy.
BJT 400Với tâm phấn chấn, dân chúng được vui mừng hoan hỷ. Trong khi mọi người sanh khởi tâm chấn động, niềm phỉ lạc đã khởi lên ở tôi.
BJT 401Tôi đã đưa quyến thuộc bạn bè đến và đã nói lời nói này: “Đấng Đại Hùng đã Viên Tịch Niết Bàn, giờ đây chúng ta hãy thực hiện sự cúng dường.”
BJT 402Sau khi đáp lại rằng: “Lành thay! Chúng ta sẽ thực hiện sự tích lũy phước báu ở nơi đức Phật, đấng Bảo Hộ Thế Gian,” bọn họ đã sanh khởi nỗi vui mừng còn hơn tôi nữa.
BJT 403Họ đã thiết lập lễ đài khéo được thực hiện cao một trăm cánh tay, trải dài 150 cánh tay, là cung điện vươn cao đến tận bầu trời.
BJT 404Tại đó, sau khi thực hiện tòa lâu đài được tô điểm với những hàng cây thốt nốt, tôi đã làm cho tâm của mình được tịnh tín và đã cúng dường đến ngôi bảo tháp tối thượng.
BJT 405Ngôi bảo tháp chiếu sáng bốn phương trông như là khối lửa được phát cháy, như là cây sālā chúa đã được trổ hoa, như là cầu vồng ngũ sắc ở không trung.
BJT 406Tại nơi ấy, sau khi đã làm cho tâm được tịnh tín, sau khi đã thực hiện nhiều việc tốt lành, sau khi nhớ lại nghiệp quá khứ, tôi đã sanh lên cõi trời.
BJT 407Tôi đã chú nguyện phương tiện di chuyển ở cõi trời là cỗ xe ngựa được kéo bởi một ngàn con. Tòa lâu đài cao ngất của tôi được vươn cao bảy tầng lầu.
BJT 408Đã có 1.000 nhà mái nhọn làm toàn bằng vàng. Trong lúc chiếu sáng tất cả các phương, chúng tỏa sáng bằng hào quang của chúng.
BJT 409Khi ấy, cũng có những tháp nhọn khác làm bằng hồng ngọc. Với nguồn ánh sáng, chúng cũng rọi sáng bốn phương ở chung quanh.
BJT 410Các ngôi nhà mái nhọn đã được hóa hiện ra, đã được sanh lên do nghiệp phước thiện. Được làm bằng ngọc ma-ni, chúng cũng rọi sáng mười phương ở chung quanh.
BJT 411Trong lúc chúng đang rực sáng, đã có được ánh sáng vĩ đại. Tôi vượt trội tất cả chư Thiên; điều này là quả báu của nghiệp phước thiện.
BJT 412Trong sáu mươi ngàn kiếp, tôi đã là vị Sát-đế-lỵ tên Ubbiddha cư trú ở trái đất, là người chinh phục bốn phương.
BJT 413Tương tợ y như thế, được hài lòng với nghiệp của chính mình, trong kiếp Bhadda tôi đã ba mươi lần trở thành đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao, được thành tựu bảy loại báu vật, là chúa tể của bốn châu lục.
BJT 414Cũng ở tại nơi ấy, cung điện dành cho tôi được vươn cao như là cầu vồng, có chiều dài là 24 (do-tuần) và chiều rộng là mười hai (do-tuần).
BJT 415Thành phố tên là Rammaka có cổng chào và tường thành vững chãi, có chiều dài năm trăm (do-tuần) và chiều rộng là một nửa của chiều dài, được đông đúc bởi các đám dân chúng trông tợ như thành phố của các cõi trời.
BJT 416Khi ấy thành phố là đông đúc giống như hai mươi lăm cây kim được bỏ chung vào trong hộp đựng kim, chúng va chạm lẫn nhau.
BJT 417Cũng như thế ấy, thành phố của tôi tràn đầy những voi, ngựa, xe cộ, luôn luôn đông đúc với những con người; Rammaka là thành phố tuyệt vời.
BJT 418Tại nơi ấy, tôi đã ăn, tôi đã uống, và đã trở về lại bản thể Thiên nhân. Vào kiếp sống cuối cùng, tôi đã có được sự thành tựu về dòng dõi.
BJT 419Được sanh ra ở gia tộc Bà-la-môn có sự tích lũy nhiều châu ngọc, tôi cũng đã từ bỏ tám mươi koṭi vàng và tôi đã xuất gia.
420—422. Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, ―(như trên)― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Mahākassapa đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Mahākassapa là phần thứ ba.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3-3. Mahākassapattheraapadānaṃ
3-3. The Apadāna of the Elder Mahākassapa
3-3. Thiên Thân thế sự của trưởng lão Mahākassapa
398.
398.
398.
‘‘Padumuttarassa bhagavato, lokajeṭṭhassa tādino;
Nibbute lokanāthamhi, pūjaṃ kubbanti satthuno.
When the Blessed One Padumuttara, the world's chief, the one of such-quality, the world-protector, had attained Parinibbāna, they made offerings to the Teacher.
Vào thời của đức Thế Tôn Padumuttara, bậc Trưởng Thượng của thế gian, bậc Tādī; khi bậc Lãnh Đạo thế gian đã nhập Niết-bàn, họ đã thực hiện việc cúng dường đến bậc Đạo Sư.
399.
399.
399.
‘‘Udaggacittā janatā, āmoditapamoditā;
Tesu saṃvegajātesu, pīti me udapajjatha.
The people, with uplifted minds, were exceedingly joyful and delighted. When a sense of spiritual urgency arose in them, joy arose in me.
Chúng sanh với tâm ý hân hoan, vui mừng và phấn khởi. Khi sự xúc động tâm linh (saṃvega) sanh khởi nơi họ, niềm hỷ lạc đã phát sanh nơi tôi.
400.
400.
400.
‘‘Ñātimitte samānetvā, idaṃ vacanamabraviṃ;
Parinibbuto mahāvīro, handa pūjaṃ karomase.
Having gathered my relatives and friends, I spoke this word: 'The Great Hero has attained Parinibbāna. Come, let us make an offering.'
Sau khi tập hợp quyến thuộc và bạn bè, tôi đã nói lên lời này: ‘Bậc Đại Hùng đã viên tịch rồi, nào! chúng ta hãy thực hiện việc cúng dường’.
401.
401.
401.
‘‘Sādhūti te paṭissutvā, bhiyyo hāsaṃ janiṃsu me;
Buddhasmiṃ lokanāthamhi, kāhāma puññasañcayaṃ.
Having agreed, saying 'Good,' they caused me even greater joy. 'Towards the Buddha, the refuge of the world, we shall make an accumulation of merit.'
Họ đã đồng ý rằng: ‘Lành thay!’ và đã làm cho tôi càng thêm hoan hỷ. (Họ nói): ‘Đối với đức Phật, bậc Lãnh Đạo thế gian, chúng ta sẽ tích lũy phước báu’.
402.
402.
402.
‘‘Agghiyaṃ sukataṃ katvā, satahatthasamuggataṃ;
Diyaḍḍhahatthapatthaṭaṃ, vimānaṃ nabhamuggataṃ.
Having well made a jeweled reliquary, one hundred cubits high and one hundred and fifty cubits wide, a mansion rising into the sky.
Tôi đã tạo nên một đền thờ báu vật được làm rất khéo, cao một trăm hắc tay, rộng một trăm năm mươi hắc tay, như một tòa lâu đài vươn lên giữa bầu trời.
403.
403.
403.
‘‘Katvāna hammiyaṃ tattha, tālapantīhi cittitaṃ;
Sakaṃ cittaṃ pasādetvā, cetiyaṃ pūjayuttamaṃ.
Having made an upper chamber there, decorated with rows of palm trees, and having gladdened my own mind, I worshipped the supreme cetiya.
Sau khi đã làm một tòa lầu các ở nơi ấy, được trang hoàng với những hàng cây thốt nốt, và sau khi làm cho tâm mình được tịnh tín, tôi đã cúng dường lên ngôi bảo tháp tối thượng.
404.
404.
404.
‘‘Aggikkhandhova jalito, kiṃsuko iva † phullito;
Indalaṭṭhīva ākāse, obhāseti catuddisā.
It shone like a mass of fire, it was like a fully blossomed Palāsa tree, like a rainbow in the sky, it illuminated the four directions.
(Ngôi nhà báu vật ấy) rực rỡ như một khối lửa, như cây gạo trổ đầy hoa, như cây gậy của trời Đế-thích (cầu vồng) ở trên không trung, chiếu sáng khắp bốn phương.
405.
405.
405.
‘‘Tattha cittaṃ pasādetvā, katvāna kusalaṃ bahuṃ;
Pubbakammaṃ saritvāna, tidasaṃ upapajjahaṃ.
Having clarified my mind there and having done much wholesome kamma, remembering my former kamma, I arose in the Tāvatiṃsa deva-world.
Tại nơi ấy, sau khi đã làm cho tâm trong sạch, sau khi đã thực hiện nhiều điều thiện, và sau khi đã tưởng nhớ đến nghiệp quá khứ, tôi đã sanh lên cõi trời Ba Mươi Ba.
406.
406.
406.
‘‘Sahassayuttaṃ hayavāhiṃ, dibbayānamadhiṭṭhito;
Ubbiddhaṃ bhavanaṃ mayhaṃ, sattabhūmaṃ samuggataṃ.
Mounted on a divine vehicle drawn by a thousand horses, I arose. My mansion was lofty, seven-storeyed, and well-risen.
Tôi đã ngự trên cỗ xe chư thiên được thắng bằng một ngàn con ngựa. Lâu đài của tôi cao lớn, có bảy tầng, vươn lên cao vút.
407.
407.
407.
‘‘Kūṭāgārasahassāni, sabbasoṇṇamayā ahuṃ;
Jalanti sakatejena, disā sabbā pabhāsayaṃ.
There were a thousand gabled chambers, all made of gold. They blazed with their own splendor, illuminating all directions.
Có một ngàn lầu các có đỉnh nhọn, tất cả đều được làm bằng vàng. Chúng tỏa sáng với ánh quang huy của riêng mình, chiếu rọi khắp mọi phương hướng.
408.
408.
408.
‘‘Santi aññepi niyyūhā, lohitaṅgamayā tadā;
Tepi jotanti ābhāya, samantā caturo disā.
There were other pinnacles too, made of ruby at that time; they too shone with radiance, illuminating the four directions all around.
Khi ấy, cũng có những chóp đỉnh khác được làm bằng hồng ngọc. Chúng cũng tỏa sáng với ánh hào quang, (chiếu rọi) khắp bốn phương xung quanh.
409.
409.
409.
‘‘Puññakammābhinibbattā, kūṭāgārā sunimmitā;
Maṇimayāpi jotanti, disā dasa † samantato.
Produced by meritorious kamma, well-fashioned gabled mansions, even those made of jewels, illuminate the ten directions all around.
Các lầu các có đỉnh nhọn, được tạo tác khéo léo, sanh ra do phước nghiệp, và cả những lầu các được làm bằng ngọc báu cũng tỏa sáng khắp mười phương.
410.
410.
410.
‘‘Tesaṃ ujjotamānānaṃ, obhāso vipulo ahu;
Sabbe deve abhibhomi, puññakammassidaṃ phalaṃ.
The radiance of those shining mansions was extensive. I surpassed all the devas—this is the fruit of meritorious kamma.
Ánh quang huy của những (lâu đài) đang tỏa sáng ấy thì thật rộng lớn. Tôi vượt trội hơn tất cả chư thiên. Đây là quả của phước nghiệp.
411.
411.
411.
‘‘Saṭṭhikappasahassamhi, ubbiddho nāma khattiyo;
Cāturanto vijitāvī, pathaviṃ āvasiṃ ahaṃ.
Sixty thousand eons ago, I was a khattiya named Ubbiddha, a conqueror whose realm extended to the four oceans; I ruled the earth.
Trong sáu mươi ngàn kiếp, tôi là một vị vua Sát-đế-lỵ tên là Ubbiddha, người chinh phục bốn phương, người chiến thắng, đã cai trị trái đất.
412.
412.
412.
‘‘Tatheva bhaddake kappe, tiṃsakkhattuṃ ahosahaṃ;
Sakakammābhiraddhomhi, cakkavattī mahabbalo.
Likewise, in this auspicious eon, I was thirty times a wheel-turning monarch of great power, devoted to my own duties.
Cũng tương tự như thế, trong kiếp hiền kiếp này, tôi đã là vua Chuyển Luân vương có đại oai lực, người tận tụy với công việc của mình, đến ba mươi lần.
413.
413.
413.
‘‘Sattaratanasampanno, catudīpamhi issaro;
Tatthāpi bhavanaṃ mayhaṃ, indalaṭṭhīva uggataṃ.
Endowed with the seven treasures, sovereign over the four continents, even in that state my mansion rose up like a flash of lightning.
Tôi đã là người đầy đủ bảy báu vật, là đấng cai trị bốn châu thiên hạ. Ngay cả ở nơi ấy, lâu đài của tôi cũng vươn lên cao như cây gậy của trời Đế-thích (cầu vồng).
414.
414.
414.
‘‘Āyāmato catubbīsaṃ, vitthārena ca dvādasa;
Rammaṇaṃ † nāma nagaraṃ, daḷhapākāratoraṇaṃ.
The city named Rammaṇa was twenty-four yojanas in length and twelve in width, with strong walls and gateways.
Thành phố tên là Rammaṇa có chiều dài hai mươi bốn (do-tuần), và chiều rộng là mười hai (do-tuần), với tường thành và cổng chào vững chắc.
415.
415.
415.
‘‘Āyāmato pañcasataṃ, vitthārena tadaḍḍhakaṃ;
Ākiṇṇaṃ janakāyehi, tidasānaṃ puraṃ viya.
Five hundred yojanas in length and half that in width, it was crowded with people, like the city of the Tāvatiṃsa devas.
Chiều dài là năm trăm do-tuần, chiều rộng bằng một nửa số ấy. Thành phố đông đúc chúng sinh, giống như thiên thành của chư thiên cõi Ba Mươi Ba.
416.
416.
416.
‘‘Yathā sūcighare sūcī, pakkhittā paṇṇavīsati;
Aññamaññaṃ paghaṭṭenti, ākiṇṇaṃ hoti laṅkataṃ †.
Just as needles placed in a needle-case jostle one another, so too were the market stalls crowded together. The decorated city was teeming.
Giống như hai mươi lăm cây kim được đặt trong ống đựng kim, chúng va chạm vào nhau; (thành phố) được trang hoàng và trở nên đông đúc.
417.
417.
417.
‘‘Evampi nagaraṃ mayhaṃ, hatthissarathasaṃkulaṃ;
Manussehi sadākiṇṇaṃ, rammaṇaṃ nagaruttamaṃ.
Thus my city, Rammaṇa, the supreme city, was teeming with elephants, horses, and chariots, and always crowded with people.
Thành phố của tôi cũng như thế, đông đúc voi, ngựa, và xe cộ. Thành phố Rammaṇa tối thượng ấy luôn luôn đông đúc người.
418.
418.
418.
‘‘Tattha bhutvā pivitvā ca, puna devattanaṃ gato †.
Bhave pacchimake mayhaṃ, ahosi kulasampadā.
Having eaten and drunk there, I went again to the realm of the devas. In my final existence, I possessed the accomplishment of a noble clan.
Sau khi đã ăn và uống ở nơi ấy, tôi lại đi đến cảnh giới chư thiên. Trong kiếp sống cuối cùng, tôi đã được sự toàn hảo về dòng dõi.
419.
419.
419.
‘‘Brāhmaññakulasambhūto, mahāratanasañcayo;
Asītikoṭiyo hitvā, hiraññassāpi pabbajiṃ.
Born into a brahmin clan, possessing a great accumulation of jewels, I renounced eighty crores of gold and went forth into homelessness.
Tôi sanh ra trong dòng dõi Bà-la-môn, có sự tích lũy nhiều châu báu. Sau khi từ bỏ tám mươi koṭi vàng, tôi đã xuất gia.
420.
420.
420.
‘‘Paṭisambhidā catasso, vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, these eight liberations, and the six supernormal powers have been realized; the Buddha's teaching has been fulfilled.
Bốn Tuệ Phân Tích, và tám giải thoát này, sáu thắng trí đã được tôi chứng ngộ. Lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā mahākassapo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus, indeed, the Venerable Elder Mahākassapa spoke these verses.
Như vậy, thật vậy, trưởng lão Mahākassapa (Đại Ca-diếp) đã nói những câu kệ này.
Mahākassapattherassāpadānaṃ tatiyaṃ.
The Third Apadāna of the Elder Mahākassapa is concluded.
Phẩm truyện về trưởng lão Mahākassapa (Đại Ca-diếp), phần thứ ba.