Bản dịch
THA -ap57 — Ký Sự về Trưởng Lão Opavayha
5 Opavayhattheraapadāna
BJT 1290Tôi đã dâng cúng con ngựa thuần chủng đến đức Phật Padumuttara. Sau khi dâng tặng cho bậc Toàn Giác, tôi đã đi về căn nhà của mình.
BJT 1291Vị có tên Devala là Thinh Văn hàng đầu của bậc Đạo Sư, là người thừa tự của Giáo Pháp cao quý, đã đi đến gặp tôi (nói rằng):
BJT 1292“Đức Thế Tôn chỉ sử dụng bình bát và vật dụng thiết yếu của mình, con ngựa thuần chủng là không thích hợp. Biết được ý định của ngươi nên bậc Hữu Nhãn đã chấp thuận.”
BJT 1293Sau khi cho người định giá con ngựa Sindhu có tốc độ như gió là phương tiện di chuyển mau chóng, tôi đã dâng cúng vật dụng thích hợp đến đức Phật Padumuttara.
BJT 1294Nơi chốn nào tôi đi tái sanh dầu là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, có những con ngựa với tốc độ như gió, đáng được thuần phục, được tô điểm, (đã) sanh lên cho tôi.
BJT 1295Những ai đạt được sự tu lên bậc trên (với Ngài), lợi ích của những vị ấy là đã được thành tựu tốt đẹp. Nếu đức Phật sẽ hiện hữu ở thế gian, tôi có thể gặp lại Ngài lần nữa.
BJT 1296Tôi đã là vị vua có oai lực lớn lao, là người chinh phục bốn phương, là chúa tể của xứ Jambudīpa hai mươi tám lần.
BJT 1297Lần sau cùng này của tôi là sự hiện hữu cuối cùng trong sự luân chuyển. Sau khi từ bỏ sự hơn thua, tôi đã đạt được vị thế Bất Động.
BJT 1298(Trước đây) ba mươi bốn ngàn kiếp, tôi đã là vị Sát-đế-lỵ có quyền uy vĩ đại, được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1299Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Opavayha đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Opavayha là phần thứ năm.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
5. Opavayhattheraapadānaṃ
5. The Apadāna of the Elder Opavayha
5. Phẩm truyện về Trưởng lão Opavayha
33.
33.
33.
‘‘Padumuttarabuddhassa, ājānīyamadāsahaṃ;
Niyyādetvāna sambuddhe †, agamāsiṃ sakaṃ gharaṃ.
To the Buddha Padumuttara, I gave a thoroughbred horse. Having presented it to the Fully Awakened One, I went to my own home.
Tôi đã dâng cúng con ngựa thuần chủng đến đức Phật Padumuttara. Sau khi đã giao phó cho đức Chánh Đẳng Giác, tôi đã đi về nhà của mình.
34.
34.
34.
‘‘Devalo nāma nāmena, satthuno aggasāvako;
Varadhammassa dāyādo, āgacchi mama santikaṃ.
Devala by name, the Teacher’s chief disciple, heir to the excellent Dhamma, came into my presence.
Vị Thượng thủ Thinh văn của bậc Đạo Sư, người thừa tự của Giáo Pháp cao quý, có tên là Devala, đã đi đến gần tôi.
35.
35.
35.
‘‘Sapattabhāro bhagavā, ājāneyyo na kappati;
Tava saṅkappamaññāya, adhivāsesi cakkhumā.
‘The Blessed One is like a bird whose burden is its own wings; a thoroughbred is not suitable. Yet, knowing your intention, the One with Vision accepted.’
Đức Thế Tôn là đấng có gánh nặng là các vật dụng, con ngựa thuần chủng là không thích hợp. Sau khi biết được ý định của bạn, bậc có Mắt (trí tuệ) đã chấp nhận.
36.
36.
36.
‘‘Agghāpetvā vātajavaṃ, sindhavaṃ sīghavāhanaṃ;
Padumuttarabuddhassa, khamanīyamadāsahaṃ.
Having had the Sindhu horse—swift as the wind, a speedy vehicle—appraised, I gave a suitable dwelling to the Buddha Padumuttara.
Sau khi đã định giá con ngựa giống Sindhu có tốc độ như gió, là phương tiện di chuyển nhanh chóng, tôi đã dâng cúng vật thích hợp đến đức Phật Padumuttara.
37.
37.
37.
‘‘Yaṃ yaṃ yonupapajjāmi, devattaṃ atha mānusaṃ †;
Khamanīyaṃ vātajavaṃ, cittaṃ nibbattate † mama.
Into whatever state of being I am reborn, whether divine or human, a suitable, wondrous vehicle, swift as the wind, arises for me.
Bất cứ tái sanh nào tôi sanh vào, hoặc là hàng chư thiên hoặc là loài người, phương tiện di chuyển thích hợp, có tốc độ như gió, và đa dạng được sanh khởi đến cho tôi.
38.
38.
38.
‘‘Lābhaṃ tesaṃ suladdhaṃva, ye labhantupasampadaṃ;
Punapi payirupāseyyaṃ, buddho loke sace bhave.
Indeed, a good gain is theirs who obtain ordination. If a Buddha should arise in the world, I would again attend upon him.
Lợi lộc thay cho những ai có được sự tu lên bậc trên! Nếu đức Phật có sanh khởi ở thế gian, tôi sẽ lại hầu hạ (Ngài).
39.
39.
39.
‘‘Aṭṭhavīsatikkhattuṃhaṃ, rājā āsiṃ mahabbalo;
Cāturanto vijitāvī, jambusaṇḍassa † jambuissaro.
Twenty-eight times I was a king of great power, a conqueror of the four quarters, victorious, lord of all Jambudīpa.
Hai mươi tám lần, tôi đã là vị vua có đại năng lực, là đấng chinh phục bốn phương, là người chiến thắng, là chúa tể của cõi Diêm-phù-đề.
40.
40.
40.
‘‘Idaṃ pacchimakaṃ mayhaṃ, carimo vattate bhavo;
Pattosmi acalaṃ ṭhānaṃ, hitvā jayaparājayaṃ.
This is my last birth, my final existence is now occurring. Having abandoned victory and defeat, I have attained the unshakeable state.
Đây là (thân) cuối cùng của tôi, kiếp sống cuối cùng đang diễn tiến. Sau khi đã từ bỏ thắng và bại, tôi đã đạt đến trạng thái bất động.
41.
41.
41.
‘‘Catutiṃsasahassamhi, mahātejosi khattiyo;
Sataratanasampanno, cakkavattī mahabbalo.
Thirty-four thousand aeons ago, I was a khattiya of great majesty, a wheel-turning monarch endowed with the seven treasures and of great power.
Trong ba mươi bốn ngàn đại kiếp, tôi đã là vị Sát-đế-lỵ có đại oai lực, là đấng Chuyển Luân Vương có đại năng lực, người thành tựu bảy báu vật.