Bản dịch
THA -ap558 — Ký Sự về Trưởng Lão Uttara
Uttarattheraapadāna
BJT 6387Đấng Toàn Giác tên Sumedha có ba mươi hai hảo tướng. Có ước muốn độc cư, đức Thế Tôn đã đi đến núi Hi-mã-lạp.
BJT 6388Sau khi đã đi sâu vào núi Hi-mã-lạp, đấng Bi Mẫn cao cả, bậc Hiền Trí, đấng Tối Thượng Nhân đã xếp chân thế kiết già rồi đã ngồi xuống.
BJT 6389Khi ấy, tôi đã là người nắm giữ pháp thuật, là vị du hành ở không trung. Sau khi cầm lấy cây chỉa ba được thực hiện khéo léo, tôi đi ở trên không trung.
BJT 6390Đức Phật chói sáng ở trong khu rừng giống như ngọn lửa ở trên đỉnh núi, tợ như mặt trăng ngày rằm, như là cây sālāchúa được trổ hoa.
BJT 6391Hào quang của đức Phật vượt ra khỏi chóp đỉnh của khu rừng và tỏa rộng giống như là màu sắc ngọn lửa của cây sậy, sau khi nhìn thấy tôi đã làm cho tâm được tịnh tín.
BJT 6392Trong khi chọn lựa, tôi đã nhìn thấy bông hoa kaṇikāracó hương thơm của cõi trời. Sau khi cầm lấy ba bông hoa, tôi đã cúng dường đến đức Phật tối thượng.
BJT 6393Khi ấy, do nhờ năng lực của đức Phật, ba bông hoa của tôi (xoay ngược lại) có các cuống hoa ở bên trên và các cánh hoa ở bên dưới, tạo thành bóng râm che cho đức Phật.
BJT 6394Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 6395Tại nơi ấy, có cung điện được kiến tạo khéo léo dành cho tôi được biết (với tên) là “kaṇikārī” có chiều dài sáu mươi do-tuần, chiều rộng ba mươi do-tuần.
BJT 6396(Cung điện) có một ngàn cột trụ chống có màu lục, với một trăm mái tròn được trang hoàng với những ngọn cờ. Có một trăm ngàn tháp nhọn đã hiện diện ở cung điện của tôi.
BJT 6397Có những chiếc ghế bành làm bằng vàng, làm bằng ngọc ma-ni, và cũng làm bằng hồng ngọc nữa, luôn cả ngọc pha-lê (hiện ra) ở bất cứ nơi nào và bất cứ khi nào theo ước muốn.
BJT 6398Và có chiếc giường vô cùng giá trị được trải loại nệm bông gòn có một phần lông rái cá, và được gắn liền với chiếc gối.
BJT 6399Khi nào tôi ước muốn việc ra đi, thì sau khi rời khỏi nơi cư ngụ và trong lúc thực hiện cuộc du hành cùng với chư Thiên, tôi dẫn đầu hội chúng chư Thiên..
BJT 6400Tôi đứng ở phía bên dưới là bông hoa, ở phía bên trên của tôi xung quanh một trăm do-tuần có mái che được phủ bằng các bông hoa kaṇika.
BJT 6401Có sáu mươi ngàn nhạc công đã phục vụ sáng chiều. Họ thường xuyên vây quanh tôi ngày đêm không biếng nhác.
BJT 6402Ở tại nơi ấy, tôi sướng vui với các điệu vũ, các lời ca, các tiếng chũm chọe, và các khúc tấu nhạc, với niềm sướng vui của việc giải trí. Tôi vui thích theo sự mong muốn này mong muốn khác.
BJT 6403Lúc bấy giờ, ở tại nơi ấy tôi đã ăn, tôi đã uống, tôi vui thích ở cõi trời Tam Thập. Được gần gũi với các đám nữ nhân, tôi vui thích ở lâu đài tuyệt hảo.
BJT 6404Và tôi đã cai quản Thiên quốc năm trăm lần. Và tôi đã trở thành đấng Chuyển Luân Vương ba trăm lần. Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.
BJT 6405Trong khi luân hồi ở cõi này cõi khác, tôi nhận lãnh của cải lớn lao, tôi không có sự thiếu hụt về của cải; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 6406Tôi (đã) luân hồi ở hai cảnh giới trong bản thể Thiên nhân và loài người, tôi không biết đến cõi tái sanh khác; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 6407Tôi (đã) được sanh ra ở hai gia tộc, Sát-đế-lỵ và luôn cả Bà-la-môn, tôi không biết đến gia tộc hạ tiện; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 6408Về phương tiện di chuyển bằng voi, phương tiện di chuyển bằng ngựa, kiệu khiêng, và cỗ xe kéo, tôi đạt được tất cả mọi thứ này; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 6409Về đám tôi trai, bầy tớ gái, và các nữ nhân đã được trang điểm, tôi đạt được tất cả mọi thứ này; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 6410Về y phục làm bằng tơ lụa, bằng sợi len, bằng chỉ lanh, và bằng bông vải, tôi đạt được tất cả mọi thứ này; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 6411Về vải vóc mới, trái cây tươi, thức ăn mới lạ có phẩm vị cao sang, tôi đạt được tất cả mọi thứ này; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 6412“Ngài hãy nhai món này, ngài hãy ăn món này, ngài hãy nằm ở chiếc giường này,” tôi đạt được tất cả mọi thứ này; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 6413Tôi được tôn vinh ở tất cả các nơi, danh vọng của tôi được thăng tiến, tôi luôn luôn có phe cánh đông đảo, luôn luôn có hội chúng không bị chia rẽ.
BJT 6414Tôi không biết đến sự lạnh (và) sự nóng, sự bực bội không được biết đến. Sự khổ sở thuộc về tâm ở trái tim của tôi không được biết đến.
BJT 6415Sau khi có được làn da màu vàng ròng, tôi luân hồi ở cõi này cõi khác, tôi không biết đến việc tàn tạ sắc thân; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 6416Sau khi mệnh chung ở thế giới chư Thiên, được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch tôi đã được sanh ra trong nhà đại bá hộ vô cùng sang trọng ở thành phố Sāvatthī.
BJT 6417Sau khi từ bỏ năm phần dục lạc, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình. Vào lúc bảy tuổi tính từ khi sanh, tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
BJT 6418Sau khi nhận biết đức hạnh (của tôi), đức Phật bậc Hữu Nhãn đã cho tu lên bậc trên, tôi là vị trẻ tuổi xứng đáng được cúng dường; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 6419Thiên nhãn của tôi được thanh tịnh, tôi là thiện xảo về định, đã đạt đến sự toàn hảo về các thắng trí; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 6420Tôi đã thành tựu các pháp phân tích, là vị rành rẽ về các nền tảng của thần thông, đã đạt đến sự toàn hảo về các pháp; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 6421Việc tôi đã cúng dường đức Phật trước đây ba mươi ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 6422Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 6423Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 6424Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Uttara đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Uttara là phần thứ sáu.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
6. Uttarattheraapadānaṃ
6. The Apadāna of the Elder Uttara
6. Thiên sử về trưởng lão Uttara
55.
55.
55.
‘‘Sumedho nāma sambuddho, bāttiṃsavaralakkhaṇo;
Vivekakāmo bhagavā, himavantamupāgami.
“The Perfectly Enlightened One named Sumedha, endowed with the thirty-two excellent marks, the Blessed One, fond of seclusion, went to the Himālaya.”
‘Vị Chánh Đẳng Giác tên là Sumedha, có ba mươi hai tướng tốt cao quý; đấng Thế Tôn có ước muốn sống độc cư, đã đi đến dãy Hy-mã-lạp.
56.
56.
56.
‘‘Ajjhogāhetvā himavantaṃ, aggo kāruṇiko muni;
Pallaṅkaṃ ābhujitvāna, nisīdi purisuttamo.
“Having gone deep into the Himālaya, the foremost compassionate sage, the supreme person, folded his legs crosswise and sat down.”
‘Sau khi đã đi sâu vào dãy Hy-mã-lạp, bậc Thánh Nhân có lòng bi mẫn tột bậc, bậc Tối Thượng Nhân đã ngồi xuống trong thế kiết-già.
57.
57.
57.
‘‘Vijjadharo tadā āsiṃ, antalikkhacaro ahaṃ;
Tisūlaṃ sugataṃ gayha, gacchāmi ambare tadā.
“Then I was a knowledge-holder, one who travels in the sky. Taking a well-fashioned trident, I was then travelling through the air.”
‘Khi ấy, tôi là một vị tiên có thần thông, là người đi lại ở không trung. Khi ấy, tôi cầm lấy cây đinh ba được làm tốt đẹp và đi lại ở trên hư không.
58.
58.
58.
‘‘Pabbatagge yathā aggi, puṇṇamāyeva candimā;
Vanaṃ obhāsate buddho, sālarājāva phullito.
“Like a fire on a mountain peak, like the moon on a full-moon night, the Buddha illuminated the forest, like a sāla king in full bloom.”
‘Vị Phật đã làm cho khu rừng được tỏa sáng, giống như ngọn lửa ở trên đỉnh núi, giống như mặt trăng vào ngày rằm, giống như cây sa-la vương đang trổ hoa.
59.
59.
59.
‘‘Vanaggā nikkhamitvāna, buddharaṃsībhidhāvare †;
Naḷaggivaṇṇasaṅkāsā †, disvā cittaṃ pasādayiṃ.
“Having come out from the edge of the forest, I saw the Buddha's rays streaming forth, which resembled the color of a fire among the reeds, and I gladdened my mind.”
‘Sau khi đã đi ra khỏi bìa rừng, các tia hào quang của đức Phật đã tuôn chảy. Sau khi nhìn thấy (hào quang) tương tự như màu sắc của ngọn lửa sậy, tôi đã làm cho tâm được trong sạch.
60.
60.
60.
‘‘Vicinaṃ addasaṃ pupphaṃ, kaṇikāraṃ devagandhikaṃ;
Tīṇi pupphāni ādāya, buddhaseṭṭhamapūjayiṃ.
“Searching about, I saw a flower, a kaṇikāra with a divine fragrance. Taking three flowers, I honored the best of Buddhas.”
‘Trong khi tìm kiếm, tôi đã nhìn thấy đóa hoa kaṇikāra có hương thơm của chư Thiên. Sau khi lấy ba đóa hoa, tôi đã cúng dường đến vị Phật tối thượng.
61.
61.
61.
‘‘Buddhassa ānubhāvena, tīṇi pupphāni me tadā;
Uddhaṃ vaṇṭā adhopattā, chāyaṃ kubbanti satthuno.
“Through the Buddha’s power, my three flowers then, with stalks upward and petals downward, made a canopy for the Teacher.”
‘Khi ấy, do nhờ oai lực của đức Phật, ba đóa hoa của tôi có cuống ở trên, có cánh ở dưới, đã tạo thành bóng mát cho đức Đạo Sư.
62.
62.
62.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsamagacchahaṃ.
By that well-done kamma and by my intentions and aspirations, having abandoned my human body, I went to the Tāvatiṃsa heaven.
‘Do nhờ nghiệp đã được làm tốt đẹp ấy và do nhờ các tác ý và các nguyện vọng, sau khi từ bỏ thân người, tôi đã đi đến cõi trời Ba Mươi Ba.
63.
63.
63.
‘‘Tattha me sukataṃ byamhaṃ, kaṇikārīti † ñāyati;
Saṭṭhiyojanamubbedhaṃ, tiṃsayojanavitthataṃ.
There I had a well-made celestial mansion, known as ‘Kaṇikārī,’ sixty yojanas high and thirty yojanas wide.
‘Tại nơi ấy, lâu đài được làm tốt đẹp của tôi được biết đến với tên gọi Kaṇikārī, cao sáu mươi do-tuần và rộng ba mươi do-tuần.
64.
64.
64.
‘‘Sahassakaṇḍaṃ satabheṇḍu, dhajālu haritāmayaṃ;
Satasahassaniyyūhā †, byamhe pātubhaviṃsu † me.
A thousand shafts, a hundred pillars, with golden banners; a hundred thousand pinnacles appeared for me in that celestial mansion.
‘(Lâu đài ấy) có một ngàn gian phòng, một trăm cột trụ, có nhiều cờ phướn, được làm bằng vàng. Một trăm ngàn chóp đỉnh đã hiện ra ở lâu đài của tôi.
65.
65.
65.
‘‘Soṇṇamayā maṇimayā, lohitaṅkamayāpi ca;
Phalikāpi ca pallaṅkā, yenicchakā yadicchakā.
Couches made of gold, of gems, and of rubies, and crystal couches too, appeared whenever and however I wished.
‘Các giường nằm bằng vàng, bằng ngọc ma-ni, và bằng hồng ngọc, và cả bằng pha lê (đã hiện ra) ở bất cứ nơi nào mong muốn, vào bất cứ lúc nào mong muốn.
66.
66.
66.
‘‘Mahārahañca sayanaṃ, tūlikā vikatīyutaṃ;
Uddhalomiñca ekantaṃ, bimbohanasamāyutaṃ.
And a valuable couch with a cotton mattress and figured coverlets, with a woolen blanket fleeced on both sides and another on one side, furnished with pillows.
‘Và chiếc giường nằm giá trị lớn, có nệm và thảm nhiều màu sắc, có tấm trải uddhalomi và ekanta, cùng với các chiếc gối.
67.
67.
67.
‘‘Bhavanā nikkhamitvāna, caranto devacārikaṃ;
Yathā icchāmi † gamanaṃ, devasaṅghapurakkhato.
Leaving the mansion, I would roam the divine realms, going wherever I wished, escorted by a host of devas.
‘Sau khi đi ra khỏi lâu đài, trong khi du hành ở cõi trời, việc đi lại của tôi được như ý muốn, được đoàn chư Thiên đi trước dẫn đầu.
68.
68.
68.
‘‘Pupphassa heṭṭhā tiṭṭhāmi, uparicchadanaṃ mama;
Samantā yojanasataṃ, kaṇikārehi chāditaṃ.
I stand beneath a flower, which is a canopy over me. For a hundred yojanas all around, it is covered with kaṇikāra flowers.
‘Tôi đứng ở bên dưới đóa hoa, lọng che ở trên tôi được bao phủ bởi các hoa kaṇikāra, một trăm do-tuần ở xung quanh.
69.
69.
69.
‘‘Saṭṭhituriyasahassāni, sāyapātaṃ upaṭṭhahuṃ;
Parivārenti maṃ niccaṃ, rattindivamatanditā.
Sixty thousand musical instruments attended on me evening and morning. They constantly surrounded me, untiringly, day and night.
‘Sáu mươi ngàn nhạc công hầu hạ vào buổi chiều và buổi sáng; họ luôn luôn vây quanh tôi, không mệt mỏi cả ngày lẫn đêm.
70.
70.
70.
‘‘Tattha naccehi gītehi, tālehi vāditehi ca;
Ramāmi khiḍḍā ratiyā, modāmi kāmakāmahaṃ.
There, with dance and song, with cymbals and instrumental music, I amused myself with sport and pleasure; I rejoiced, indulging my sensual desires.
‘Tại nơi ấy, tôi vui thích với các điệu múa, các bài hát, với tiếng phách và các nhạc cụ. Tôi hoan hỷ trong sự vui đùa và thích thú, tôi vui mừng theo ý muốn.
71.
71.
71.
‘‘Tattha bhutvā pivitvā ca, modāmi tidase tadā;
Nārīgaṇehi sahito, modāmi byamhamuttame.
Having eaten and drunk there, I then rejoiced among the Thirty-three devas. Accompanied by hosts of women, I rejoiced in that supreme celestial mansion.
‘Khi ấy, tại cõi trời Ba Mươi Ba, sau khi đã ăn và uống, tôi vui mừng. Cùng với đoàn tiên nữ, tôi vui mừng ở trong lâu đài cao thượng.
72.
72.
72.
‘‘Satānaṃ pañcakkhattuñca, devarajjamakārayiṃ;
Satānaṃ tīṇikkhattuñca, cakkavattī ahosahaṃ;
Five hundred times I exercised sovereignty over the devas; three hundred times I was a wheel-turning monarch.
‘Năm trăm lần, tôi đã trị vì vương quốc của chư Thiên. Ba trăm lần, tôi đã là vị Chuyển Luân Vương.
Padesarajjaṃ vipulaṃ, gaṇanāto asaṅkhiyaṃ.
My regional kingship was vast, beyond all reckoning.
Việc làm vị vua chư hầu rộng lớn thì không thể đếm được bằng sự tính toán.
73.
73.
73.
‘‘Bhave bhave saṃsaranto, mahābhogaṃ labhāmahaṃ;
Bhoge me ūnatā natthi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Wandering on from existence to existence, I obtain great wealth. There is no deficiency in my wealth; this is the fruit of honoring the Buddha.
‘Trong khi luân chuyển ở các kiếp sống, tôi nhận được tài sản to lớn. Đối với tôi, không có sự thiếu hụt về tài sản. Đây là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
74.
74.
74.
‘‘Duve bhave saṃsarāmi, devatte atha mānuse;
Aññaṃ gatiṃ na jānāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
I transmigrate only in two states of existence, the divine and the human. I know no other destination; this is the fruit of honoring the Buddha.
‘Tôi luân chuyển trong hai kiếp sống: ở cõi trời và cõi người. Tôi không biết đến cảnh giới nào khác. Đây là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
75.
75.
75.
‘‘Duve kule pajāyāmi †, khattiye cāpi brāhmaṇe;
Nīce kule na jāyāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
I am born only in two kinds of family, that of noble warriors and that of brahmins. I am never born in a low family; this is the fruit of honoring the Buddha.
‘Tôi sanh ra trong hai dòng dõi: dòng dõi Sát-đế-lỵ và cả dòng dõi Bà-la-môn. Tôi không sanh ra trong dòng dõi thấp hèn. Đây là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
76.
76.
76.
‘‘Hatthiyānaṃ assayānaṃ, sivikaṃ sandamānikaṃ;
Labhāmi sabbamevetaṃ, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Elephant-carriages, horse-carriages, palanquins, and litters—I obtain all of these; this is the fruit of honoring the Buddha.
‘Xe voi, xe ngựa, kiệu, và cáng. Tôi nhận được tất cả những thứ này. Đây là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
77.
77.
77.
‘‘Dāsīgaṇaṃ dāsagaṇaṃ, nāriyo samalaṅkatā;
Labhāmi sabbamevetaṃ, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Groups of female slaves, groups of male slaves, and well-adorned women—I obtain all of these; this is the fruit of honoring the Buddha.
‘Đoàn nữ tỳ, đoàn nam nô, các phụ nữ được trang điểm xinh đẹp. Tôi nhận được tất cả những thứ này. Đây là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
78.
78.
78.
‘‘Koseyyakambaliyāni, khomakappāsikāni ca;
Labhāmi sabbamevetaṃ, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Garments of silk and wool, of linen and cotton—I obtain all of these; this is the fruit of honoring the Buddha.
‘Các loại vải lụa, vải len, và các loại vải gai, vải bông. Tôi nhận được tất cả những thứ này. Đây là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
79.
79.
79.
‘‘Navavatthaṃ navaphalaṃ, navaggarasabhojanaṃ;
Labhāmi sabbamevetaṃ, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
New clothes, new fruits, and new food with the finest flavors—I obtain all of this; this is the fruit of honoring the Buddha.
‘Y phục mới, trái cây mới, vật thực mới có hương vị hảo hạng. Tôi nhận được tất cả những thứ này. Đây là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
80.
80.
80.
‘‘Imaṃ khāda imaṃ bhuñja, imamhi sayane saya;
Labhāmi sabbamevetaṃ, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
‘Eat this, enjoy this, lie on this couch’—I obtain all of this; this is the fruit of honoring the Buddha.
‘(Lời mời:) ‘Hãy ăn món này, hãy dùng món này, hãy nằm trên giường này.’ Tôi nhận được tất cả những điều này. Đây là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
81.
81.
81.
‘‘Sabbattha pūjito homi, yaso accuggato mama;
Mahāpakkho † sadā homi, abhejjapariso sadā;
Ñātīnaṃ uttamo homi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
I am honored everywhere, my fame is exceedingly high. I always have a great following, always an unbreakable retinue. I am the best among my kinsmen; this is the fruit of honoring the Buddha.
Ta được cúng dường ở khắp mọi nơi, danh tiếng của ta được vang xa; ta luôn có phe nhóm lớn mạnh, ta luôn có hội chúng không bị chia rẽ; ta là người tối thắng trong hàng quyến thuộc. Đây là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
82.
82.
82.
‘‘Sītaṃ uṇhaṃ na jānāmi, pariḷāho na vijjati;
Atho cetasikaṃ dukkhaṃ, hadaye me na vijjati.
I know neither cold nor heat; no burning fever is found in me. And mental suffering does not exist in my heart.
Ta không biết đến lạnh và nóng, sự thiêu đốt không hiện hữu; hơn nữa, nỗi khổ về tâm cũng không hiện hữu trong tim của ta.
83.
83.
83.
‘‘Suvaṇṇavaṇṇo hutvāna, saṃsarāmi bhavābhave;
Vevaṇṇiyaṃ na jānāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Having a golden complexion, I transmigrate from existence to existence. I know no disfigurement; this is the fruit of honoring the Buddha.
Trở thành người có màu da vàng ròng, ta luân hồi trong các kiếp sống; ta không biết đến sự biến đổi màu da. Đây là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
84.
84.
84.
‘‘Devalokā cavitvāna, sukkamūlena codito;
Sāvatthiyaṃ pure jāto, mahāsālesu aḍḍhake.
Having passed away from the world of the devas, impelled by my wholesome roots, I was born in the city of Sāvatthī in a wealthy and influential family.
Sau khi mệnh chung từ cõi trời, được thúc đẩy bởi căn lành, ta đã sanh ra ở thành Sāvatthī, trong gia tộc Mahāsāla giàu có.
85.
85.
85.
‘‘Pañca kāmaguṇe hitvā, pabbajiṃ anagāriyaṃ;
Jātiyā sattavassohaṃ, arahattamapāpuṇiṃ.
Having abandoned the five cords of sensual pleasure, I went forth into the homeless life. At seven years of age by birth, I attained arahantship.
Ta đã từ bỏ năm loại dục lạc, xuất gia sống không gia đình; khi được bảy tuổi, ta đã chứng đắc quả A-la-hán.
86.
86.
86.
‘‘Upasampadāyī buddho, guṇamaññāya cakkhumā;
Taruṇo pūjanīyohaṃ, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
The Buddha, the One with Vision, recognizing my virtue, gave me the higher ordination. Though young, I am worthy of honor; this is the fruit of honoring the Buddha.
Đức Phật, bậc có Tuệ nhãn, đã biết được đức hạnh của ta và đã truyền cụ túc giới cho ta. Dù còn trẻ tuổi, ta vẫn là người đáng được cúng dường. Đây là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
87.
87.
87.
‘‘Dibbacakkhuvisuddhaṃ me, samādhikusalo ahaṃ;
Abhiññāpāramippatto, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
My divine eye is purified and I am skilled in concentration. I have reached the perfection of the direct knowledges; this is the fruit of honoring the Buddha.
Thiên nhãn của ta được thanh tịnh, ta thiện xảo về thiền định; ta đã đạt đến sự toàn hảo về các thắng trí. Đây là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
88.
88.
88.
‘‘Paṭisambhidā anuppatto, iddhipādesu kovido;
Dhammesu pāramippatto, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
I have attained the analytical knowledges and am an expert in the bases of spiritual power. I have reached perfection in the Dhamma; this is the fruit of honoring the Buddha.
Ta đã chứng đắc các Tuệ phân tích, ta thông thạo về các thần túc; ta đã đạt đến sự toàn hảo trong các pháp. Đây là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
89.
89.
89.
‘‘Tiṃsakappasahassamhi, yaṃ buddhamabhipūjayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Thirty thousand eons ago, I honored that Buddha. I have known no bad destination; this is the fruit of honoring the Buddha.
Cách đây ba mươi ngàn kiếp, khi ta đã cúng dường đức Phật, ta không hề biết đến ác thú. Đây là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
90.
90.
90.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burnt up … I dwell free of taints.
Các phiền não của ta đã được đốt sạch... (vân vân)... ta sống không còn lậu hoặc.
91.
91.
91.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
A good coming indeed it was for me … the Buddha’s teaching has been done.
Sự quang lâm của ta quả là khéo đến... (vân vân)... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
92.
92.
92.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges … the Buddha’s teaching has been done.
Bốn Tuệ phân tích... (vân vân)... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā uttaro thero imā gāthāyo
Thus, it is said, the Venerable Elder Uttara
Như vậy, quả thực Trưởng lão Uttara khả kính đã nói những câu kệ này
Abhāsitthāti.
uttered these verses.
đã nói lên.
Uttarattherassāpadānaṃ chaṭṭhaṃ.
The Apadāna of the Elder Uttara, the Sixth.
Trưởng lão kệ của ngài Uttara, phẩm thứ sáu.