Bản dịch
THA -ap553 — Ký Sự về Trưởng Lão Yasa
Yasattheraapadāna
BJT 6333Chỗ cư ngụ của tôi đã được hóa hiện ra ở gần biển cả, có hồ nước đã khéo được hóa hiện ra, được líu lo bởi loài ngỗng đỏ.
BJT 6334(Hồ nước) được che phủ bởi các cây mạn-đà-la, bởi các đóa sen xanh và sen đỏ. Và con sông chảy qua nơi ấy có bến nước cạn xinh xắn làm thích ý.
BJT 6335(Dòng sông) chứa đầy dẫy những cá và rùa, đông đúc với nhiều loại chim khác nhau, náo nhiệt bởi các chim công và chim cò cùng với những loài dơi và loài chim sáo, v.v…
BJT 6336Và ở đây có các loài sống ở sông như là các con chim bồ câu, các loài ngỗng trời, các con ngỗng đỏ, các chim le le, các con chim cu, các loài pampaka, và các con jīvaṁjīvaka.
BJT 6337(Dòng sông) có các chim thiên nga, chim cò làm ầm ĩ, có nhiều chim cú và loài piṅgala, được đầy đủ bảy loại châu báu, với bãi cát có ngọc ma-ni và ngọc trai.
BJT 6338Tất cả các cây đều làm bằng vàng được tỏa ra với nhiều hương thơm khác loại. Chúng thắp sáng chỗ trú ngụ ngày và đêm vào mọi thời điểm.
BJT 6339Sáu mươi ngàn loại nhạc cụ được phát ra âm thanh sáng chiều. Mười sáu ngàn người nữ luôn luôn quây quần bên tôi.
BJT 6340Tôi đã rời khỏi nơi cư ngụ (đi đến gặp) đấng Lãnh Đạo Thế Gian Sumedha. Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã đảnh lễ bậc có danh vọng lớn lao ấy.
BJT 6341Sau khi đảnh lễ bậc Toàn Giác, tôi đã thỉnh mời Ngài cùng Hội Chúng. Đấng Lãnh Đạo Thế Gian Sumedha trí tuệ ấy đã chấp nhận.
BJT 6342Sau khi thực hiện việc thuyết giảng Giáo Pháp cho tôi, bậc Đại Hiền Trí đã giải tán. Tôi đã đảnh lễ bậc Toàn Giác và đã đi về chỗ cư ngụ của tôi.
BJT 6343Tôi đã thông báo với nhóm tùy tùng rằng: “Vào buổi sáng, đức Phật sẽ đi đến chỗ ngụ (này).” Khi ấy tất cả đã tụ hội lại (đáp rằng):
BJT 6344“Điều lợi ích cho chúng tôi đã được chúng tôi thành đạt khéo léo là chúng tôi sống thân cận với ngài. Chúng tôi cũng sẽ cúng dường đến bậc Đạo Sư là đức Phật tối thượng.”
BJT 6345Sau khi sắp đặt thức ăn và nước uống, tôi đã thông báo về thời gian. Đấng Lãnh Đạo Thế Gian đã ngự đến cùng với một trăm ngàn vị có năng lực.
BJT 6346Tôi đã thực hiện việc tiếp đón với các loại nhạc cụ có đủ năm yếu tố. Bậc Tối Thượng Nhân đã ngồi xuống chiếc ghế làm toàn bằng vàng.
BJT 6347Khi ấy, ở phía trên đã có chiếc lọng làm toàn bằng vàng. Có những cái quạt quạt gió đến Hội Chúng tỳ khưu vô thượng.
BJT 6348Tôi đã làm toại ý Hội Chúng tỳ khưu với cơm ăn nước uống dồi dào. Tôi đã dâng cúng đến Hội Chúng tỳ khưu mỗi vị một xấp vải đôi.
BJT 6349Sau khi ngồi xuống ở nơi Hội Chúng tỳ khưu, vị thọ nhận các vật hiến cúng mà mọi người gọi là “Sumedha” đã nói lên lời kệ này:
BJT 6350“Người nào đã làm toại ý Ta và tất cả các vị này với cơm ăn nước uống, ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói.
BJT 6351Người này sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên một ngàn tám trăm kiếp và sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương một ngàn lần.
BJT 6352Người này sanh lên chốn nào, là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, có chiếc lọng làm toàn bằng vàng sẽ che cho người ấy.
BJT 6353Vào ba mươi ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 6354Là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, (người này) sẽ biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc và sẽ Niết Bàn không còn lậu hoặc.
BJT 6355(Người này) sẽ ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu và sẽ rống lên tiếng rống của loài sư tử. Nhiều người cầm chiếc lọng ở giàn hỏa thiêu, và (người này) được thiêu ở bên dưới chiếc lọng.”
BJT 6356Trạng thái Sa-môn đã được tôi đạt đến, các phiền não đã được tôi thiêu đốt. Dầu ở mái che hoặc ở gốc cây, sự run sợ không được biết đến ở tôi.
BJT 6357Kể từ khi tôi đã dâng cúng vật thí trước đây ba mươi ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu sự dâng cúng mọi thứ.
BJT 6358Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 6359Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 6360Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Yasa đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Yasa là phần thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
1. Yasattheraapadānaṃ
1. The Apadāna of the Elder Yasa
1. Thánh tích của Trưởng lão Yasa
1.
1.
1.
‘‘Mahāsamuddaṃ oggayha, bhavanaṃ me sunimmitaṃ;
Sunimmitā pokkharaṇī, cakkavākūpakūjitā.
“Having plunged into the great ocean, my mansion was well-built; a well-built lotus pond, resounding with the calls of ruddy sheldrakes.
Sau khi lặn xuống biển lớn, lâu đài của tôi đã được khéo tạo dựng. Hồ sen đã được khéo tạo dựng, vang tiếng kêu của chim cakkavāka.
2.
2.
2.
‘‘Mandārakehi sañchannā, padumuppalakehi ca;
Nadī ca sandate tattha, supatitthā manoramā.
“It was covered with mandārava flowers, and with lotuses and water lilies; a river flows there, with delightful, easily accessible banks.
Hồ được bao phủ bởi các hoa mandārava, hoa sen hồng và hoa sen xanh. Và ở đó có một dòng sông chảy, với bến nước tốt đẹp và làm vui thích tâm trí.
3.
3.
3.
‘‘Macchakacchapasañchannā, nānādijasamotthaṭā †;
Mayūrakoñcābhirudā, kokilādīhi vagguhi.
“It was filled with fish and turtles, strewn with various birds, resounding with the cries of peacocks and herons, and with the sweet sounds of cuckoos and the like.
Sông đầy cá và rùa, là nơi tụ hội của nhiều loài chim khác nhau, vang tiếng kêu của chim công và chim diệc, và các loài chim khác như chim cu cu với tiếng hót du dương.
4.
4.
4.
‘‘Pārevatā ravihaṃsā, cakkavākā nadīcarā;
Tittirā sāḷikā cettha, pāvakā † jīvaṃjīvakā.
“Pigeons and swans, river-dwelling ruddy sheldrakes; here too are partridges, mynas, peacocks, and jīvaṃjīvaka birds.
Chim bồ câu, ngỗng vàng, chim cakkavāka sống ở sông. Ở đây cũng có chim đa đa, chim sáo, chim pāvaka, và chim jīvañjīvaka.
5.
5.
5.
‘‘Haṃsākoñcābhinaditā, kosiyā piṅgalā † bahū;
Sattaratanasampannā, maṇimuttapavāḷikā.
“Resounding with the calls of swans and herons, with many tawny owls; endowed with the seven treasures—gems, pearls, and corals.
Sông vang tiếng kêu của ngỗng và diệc, có nhiều chim cú và chim piṅgalā. Sông được trang bị bảy loại bảo vật, có ngọc, trân châu, và san hô.
6.
6.
6.
‘‘Sabbe soṇṇamayā rukkhā, nānākhandhasameritā;
Ujjotenti divārattiṃ, bhavanaṃ sabbakālikaṃ.
“All the trees are made of gold, their various branches stirred; they illuminate the mansion day and night, at all times.
Tất cả các cây đều làm bằng vàng, mọc lên với nhiều thân cây khác nhau. Chúng chiếu sáng lâu đài cả ngày lẫn đêm, vào mọi lúc.
7.
7.
7.
‘‘Saṭṭhituriyasahassāni, sāyaṃ pāto pavajjare;
Soḷasitthisahassāni, parivārenti maṃ sadā.
“Sixty thousand musical instruments are played in the evening and morning; sixteen thousand women constantly attend me.
Sáu mươi ngàn nhạc cụ được chơi vào buổi chiều và buổi sáng. Mười sáu ngàn người nữ luôn luôn hầu hạ tôi.
8.
8.
8.
‘‘Abhinikkhamma bhavanā, sumedhaṃ lokanāyakaṃ;
Pasannacitto sumano, vandayiṃ taṃ † mahāyasaṃ.
“Having gone forth from my mansion to Sumedha, the leader of the world, with a confident and glad mind, I paid homage to him of great renown.
Sau khi đi ra khỏi lâu đài, với tâm ý hoan hỷ và vui mừng, tôi đã đảnh lễ đức Sumedha, bậc Lãnh Đạo Thế Gian, vị có danh tiếng lớn lao ấy.
9.
9.
9.
‘‘Sambuddhaṃ abhivādetvā, sasaṅghaṃ taṃ nimantayiṃ;
Adhivāsesi so dhīro, sumedho lokanāyako.
“Having paid homage to the Perfectly Self-Enlightened One, I invited him together with the Saṅgha; and that wise one, Sumedha, leader of the world, consented.
Sau khi đảnh lễ bậc Chánh Đẳng Giác, tôi đã thỉnh mời ngài cùng với Tăng chúng. Vị hiền trí ấy, đức Sumedha, bậc Lãnh Đạo Thế Gian, đã chấp nhận.
10.
10.
10.
‘‘Mama dhammakathaṃ katvā, uyyojesi mahāmuni;
Sambuddhaṃ abhivādetvā, bhavanaṃ me upāgamiṃ.
“Having given a Dhamma talk for me, the great sage dismissed me; having paid homage to the Perfectly Enlightened One, I went to my mansion.
Sau khi thuyết pháp cho tôi, bậc Đại ẩn sĩ đã cho tôi đi. Sau khi đảnh lễ bậc Chánh Đẳng Giác, tôi đã đi đến lâu đài của mình.
11.
11.
11.
‘‘Āmantayiṃ parijanaṃ, sabbe sannipatuṃ tadā;
‘Pubbaṇhasamayaṃ buddho, bhavanaṃ āgamissati’.
“I addressed my retinue, for all to assemble then: ‘In the forenoon the Buddha will come to the mansion.’
“Ta đã triệu tập đoàn tùy tùng, khi ấy tất cả đã tụ họp lại: ‘Vào buổi sáng, đức Phật sẽ ngự đến tòa nhà’.”
12.
12.
12.
‘‘‘Lābhā amhaṃ suladdhā no, ye vasāma tavantike;
Mayampi buddhaseṭṭhassa, pūjayissāma satthuno’.
“‘A gain for us, well-gained indeed, that we live in your presence! We too shall honor the supreme Buddha, the Teacher.’
“‘Thật là lợi ích cho chúng con, thật là điều khéo được cho chúng con, là những người đang sống gần bên ngài. Chúng con cũng sẽ cúng dường đến đức Phật bậc Tối Thắng, là bậc Đạo Sư’.”
13.
13.
13.
‘‘Annaṃ pānaṃ paṭṭhapetvā, kālaṃ ārocayiṃ ahaṃ;
Vasīsatasahassehi, upesi lokanāyako.
“Having prepared food and drink, I announced the time; the Leader of the World approached with one hundred thousand masters of self-control.
“Sau khi đã chuẩn bị vật thực và các món uống, tôi đã thông báo thời giờ. Bậc Lãnh Đạo Thế Gian đã đi đến cùng với một trăm ngàn vị đã được tự chủ.”
14.
14.
14.
‘‘Pañcaṅgikehi turiyehi, paccuggamamakāsahaṃ;
Sabbasoṇṇamaye pīṭhe, nisīdi purisuttamo.
“With a five-part musical ensemble, I went forth to welcome him; the supreme person sat on a seat made entirely of gold.
“Tôi đã đi ra nghênh đón với dàn nhạc năm loại. Bậc Tối Thượng Nhân đã ngự trên chiếc ghế toàn bằng vàng.”
15.
15.
15.
‘‘Uparicchadanaṃ āsi, sabbasoṇṇamayaṃ tadā;
Bījanīyo pavāyanti, bhikkhusaṅghaṃ anuttaraṃ.
“The canopy above was then entirely made of gold; fans were waved for the unsurpassed Saṅgha of bhikkhus.
“Khi ấy, đã có mái che ở phía trên toàn bằng vàng. Các cây quạt đang phe phẩy về hướng chúng Tăng vô song.”
16.
16.
16.
‘‘Pahūtenannapānena, bhikkhusaṅghaṃ atappayiṃ;
Paccekadussayugale, bhikkhusaṅghassadāsahaṃ.
“With abundant food and drink, I satisfied the Saṅgha of bhikkhus; I gave a pair of cloths to each one in the Saṅgha of bhikkhus.
“Tôi đã làm cho chúng Tăng được thỏa thích với vật thực và các món uống dồi dào. Tôi đã dâng cúng đến chúng Tăng mỗi vị một cặp y.”
17.
17.
17.
‘‘Yaṃ vadeti sumedho so, āhutīnaṃ paṭiggaho;
Bhikkhusaṅghe nisīditvā, imā gāthā abhāsatha.
“Then that Sumedha, the recipient of offerings, having sat down amidst the Saṅgha of bhikkhus, spoke these verses:
“Vị Sumedha ấy, là bậc thọ nhận các vật cúng dường, sau khi ngự giữa chúng Tăng đã nói lên những câu kệ này.”
18.
18.
18.
‘‘‘Yo maṃ annena pānena, sabbe ime ca tappayi;
Tamahaṃ kittayissāmi, suṇātha mama bhāsato.
“‘He who has satisfied me with food and drink, and all these bhikkhus too—I will extol him; listen to me as I speak.
“‘Vị nào đã làm cho ta và tất cả các vị này được thỏa thích với vật thực và các món uống, ta sẽ tán dương vị ấy. Các ngươi hãy lắng nghe lời nói của ta.’”
19.
19.
19.
‘‘‘Aṭṭhārase kappasate, devaloke ramissati;
Sahassakkhattuṃ rājāyaṃ, cakkavattī bhavissati.
“‘For eighteen hundred eons, he will delight in the world of the devas; a thousand times this one will be a wheel-turning king.
“‘Trong một ngàn tám trăm kiếp, vị này sẽ hoan hỷ ở cõi trời. Vị vua này sẽ là vị Chuyển Luân Vương một ngàn lần.’”
20.
20.
20.
‘‘‘Upagacchati yaṃ yoniṃ, devattaṃ atha mānusaṃ;
Sabbasoṇṇamayaṃ tassa, chadanaṃ dhārayissati.
“‘Whatever womb he is reborn into, whether divine or human, a canopy made entirely of gold will be held over him.
“‘Vị ấy sanh vào thai bào nào, hoặc là hàng chư thiên hoặc là loài người, sẽ có mái che toàn bằng vàng được giương lên cho vị ấy.’”
21.
21.
21.
‘‘‘Tiṃsakappasahassamhi, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
“‘In thirty thousand eons, arisen from the Okkāka clan, a Teacher will appear in the world, Gotama by clan name.
“‘Vào ba mươi ngàn kiếp, sanh ra trong dòng dõi Okkāka, bậc Đạo Sư tên là Gotama theo họ tộc sẽ có mặt ở thế gian.’”
22.
22.
22.
‘‘‘Tassa dhammesu dāyādo, oraso dhammanimmito;
Sabbāsave pariññāya, nibbāyissatināsavo.
“‘He will be an heir in his Dhamma, his legitimate son, created by the Dhamma. Having fully understood all the taints, he will attain Nibbāna without them.’
“‘Vị ấy sẽ là người thừa tự trong các Pháp của vị ấy, là người con ruột do Pháp tạo nên. Sau khi liễu tri tất cả các lậu hoặc, vị ấy sẽ tịch duyệt Niết Bàn, không còn lậu hoặc.’”
23.
23.
23.
‘‘‘Bhikkhusaṅghe nisīditvā, sīhanādaṃ nadissati’;
Citake chattaṃ dhārenti, heṭṭhā chattamhi ḍayhatha.
“‘Seated amidst the Saṅgha of bhikkhus, he will roar a lion’s roar.’ A parasol is held over my funeral pyre; the pyre burns below, under the parasol.
“‘Sau khi ngự giữa chúng Tăng, vị ấy sẽ rống lên tiếng rống sư tử.’ (Về phần tôi), người ta che lọng trên giàn hỏa, tôi được hỏa thiêu ở bên dưới chiếc lọng.”
24.
24.
24.
‘‘Sāmaññaṃ me anuppattaṃ, kilesā jhāpitā mayā;
Maṇḍape rukkhamūle vā, santāso me na vijjati.
“I have attained the fruit of recluseship, my defilements have been burned up; whether in a pavilion or at the foot of a tree, no terror exists for me.
“Quả vị Sa-môn đã được tôi chứng đạt, các phiền não đã được tôi đốt sạch. Hoặc ở trong lều hoặc ở dưới gốc cây, sự sợ hãi không có nơi tôi.”
25.
25.
25.
‘‘Tiṃsakappasahassamhi, yaṃ dānamadadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, sabbadānassidaṃ phalaṃ.
“In the thirty thousand eons since I gave that gift, I have known no bad destination; this is the fruit of that all-inclusive gift.
“Vào ba mươi ngàn kiếp, khi ấy tôi đã thực hiện việc bố thí. Tôi không còn biết đến khổ cảnh, đây là quả báu của việc bố thí trọn vẹn.”
26.
26.
26.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ, bhavā sabbe samūhatā;
Nāgova bandhanaṃ chetvā, viharāmi anāsavo.
“My defilements are burned up, all states of existence are uprooted. Like an elephant that has broken its bonds, I dwell taintless.”
“Các phiền não của tôi đã được đốt sạch, tất cả các hữu đã được nhổ lên. Giống như con voi chúa cắt đứt các dây trói, tôi sống không còn lậu hoặc.”
27.
27.
27.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi, mama buddhassa santike;
Tisso vijjā anuppattā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
“A good coming, indeed, it was for me to the presence of my Buddha. The three true knowledges have been attained; the Buddha’s teaching has been done.”
“Sự đến của tôi quả là khéo đến, (tôi đã đến) nơi sự hiện diện của đức Phật. Ba Minh đã được chứng đạt, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
28.
28.
28.
‘‘Paṭisambhidā catasso, vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
“The four analytical knowledges, and these eight liberations, the six direct knowledges have been realized; the Buddha’s teaching has been done.”
“Bốn Tuệ Phân Tích, và tám giải thoát này, sáu Thắng Trí đã được chứng ngộ, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā yaso thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Yasa spoke these verses.
Như thế, quả thật trưởng lão Yasa đã nói những câu kệ này.
Yasattherassāpadānaṃ paṭhamaṃ.
The First Apadāna of the Elder Yasa.
Thiên sự của trưởng lão Yasa thứ nhất.