Bản dịch
THA -ap552 — Ký Sự về Trưởng Lão Cūḷasugandha
Cūḷasugandhattheraapadāna
BJT 6296Ở vào kiếp Bhadda này, trong số các vị đang thuyết giảng đã hiện khởi đấng cao quý tên Kassapa có danh tiếng vĩ đại, là thân quyến của đấng Phạm Thiên (dòng dõi Bà-la-môn).
BJT 6297Ngài đầy đủ các tướng phụ, có ba mươi hai hảo tướng, được bao quanh bởi quầng ánh sáng, được bao trùm bởi mạng lưới hào quang.
BJT 6298Là người làm cho thoải mái tương tợ mặt trăng, là nguồn tạo ra ánh sáng tợ như mặt trời, là người dập tắt (lửa phiền não) như là cơn mưa, là kho chứa của đức hạnh ví như biển cả.
BJT 6299Với giới như là trái đất, với định như là núi Hi-mã-lạp, với tuệ tợ như bầu trời, không bị dính mắc giống như làn gió.
BJT 6300Vào lúc bấy giờ, tôi được sanh ra tại thành Bārāṇasī trong đại gia tộc có tài sản và lúa gạo dồi dào, có sự tích lũy nhiều loại châu báu khác nhau.
BJT 6301Vào lúc đấng Lãnh Đạo Thế Gian đang ngồi cùng đoàn tùy tùng đông đảo, tôi đã đi đến gần và đã lắng nghe Giáo Pháp tợ như cao lương mỹ vị có sự thu hút tâm ý.
BJT 6302Ngài có ba mươi hai hảo tướng như là mặt trăng có chòm tinh tú, được đầy đủ các tướng phụ tợ như cây sālā chúa đã được trổ hoa.
BJT 6303Ngài phát ra xung quanh mạng lưới hào quang tợ như ngọn núi vàng cháy rực, được bao quanh bởi quầng ánh sáng tợ như mặt trời có các tia sáng.
BJT 6304Đấng Chiến Thắng cao quý có khuôn mặt vàng chói tợ như tảng đá có viên ngọc ma-ni, có trái tim tràn đầy lòng bi mẫn cùng với đức hạnh như là biển cả.
BJT 6305Và đấng Anh Hùng, bậc Hiền Trí có danh tiếng lẫy lừng ở thế gian tợ như ngọn núi tối thượng Sineru, đã được lan rộng với sự vinh quang tương tợ bầu trời.
BJT 6306Đấng Lãnh Đạo có tâm không bị ràng buộc với tất cả các nơi như là làn gió. Bậc Hiền Trí thứ bảy là sự nâng đỡ đối với tất cả chúng sanh tợ như trái đất.
BJT 6307Ngài không bị vấy bẩn bởi thế gian giống như hoa sen không bị lấm lem bởi nước. Ngài chiếu sáng như là khối lửa có sự đốt cháy những lùm cây ngoại giáo.
BJT 6308Ngài là người tiêu diệt chất độc phiền não ở tất cả các nơi như là phương thuốc chữa bệnh. Ngài được trang sức bằng hương thơm của đức hạnh tợ như viên đá nghiền nát hương liệu.
BJT 6309Đấng Chiến Thắng là kho chứa của các đức hạnh tợ như biển cả (là nơi chứa đựng) đối với các loại châu báu, là người mang đi các phiền não và ô nhiễm tợ như con sông Sindhu đối với những dãy rừng.
BJT 6310Với sự tiêu diệt đạo binh của Ma Vương, Ngài như là người chiến sĩ lực lưỡng có sự chiến thắng. Ngài là vị chúa tể của các loại châu báu là các chi phần đưa đến giác ngộ tợ như đấng Chuyển Luân Vương.
BJT 6311Ngài là người thầy thuốc về cơn bệnh sân hận tương tợ vị y sĩ vĩ đại. Ngài là người mổ xẻ mụt nhọt tà kiến giống như phẫu thuật viên hạng nhất.
BJT 6312Khi ấy, được loài người và chư Thiên kính trọng, bậc Quang Đăng của thế gian, ánh Mặt Trời của nhân loại, đấng Chiến Thắng ấy thuyết giảng Giáo Pháp ở các hội chúng.
BJT 6313Ngài đã chỉ dạy như vầy: “Sau khi dâng cúng vật thí thì trở nên có tài sản lớn lao, nhờ vào giới đi đến nhàn cảnh, và do sự tham thiền đạt đến Niết Bàn.”
BJT 6314Toàn thể các hội chúng lắng nghe sự thuyết giảng có phẩm vị cao cả ấy, có sự tốt đẹp ở phần đầu phần giữa và phần cuối, như là cao lương mỹ vị có chất bổ dưỡng lớn lao.
BJT 6315Sau khi lắng nghe Giáo Pháp có vị ngọt tuyệt vời, tôi được tịnh tín với Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng. Tôi đã đi đến nương nhờ đức Thiện Thệ và đã tôn kính Ngài đến hết cuộc đời.
BJT 6316Khi ấy, tôi đã lau chùi nền đất ở hương thất của bậc Hiền Trí bằng chất thơm được sanh lên từ bốn loại (bông hoa) vào tám ngày trong một tháng.
BJT 6317Tôi đã ước nguyện về trạng thái có hương thơm ở thân thể bị mùi khó chịu. Khi ấy, đấng Chiến Thắng đã chú nguyện về việc đạt được cơ thể có hương thơm rằng:
BJT 6318“Người nào lau chùi nền đất của hương thất bằng chất thơm một lần, do kết quả của nghiệp ấy được sanh lên ở nơi này nơi khác.
BJT 6319Ở tất cả các nơi, người nam này sẽ có được thân hình có hương thơm ngạt ngào. Sau khi được gắn liền với hương thơm của đức hạnh, (người này) sẽ Niết Bàn không còn lậu hoặc.”
BJT 6320Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 6321Và trong kiếp sống cuối cùng hiện nay, tôi đã được sanh vào gia đình Bà-la-môn. Khi tôi đang trú ở trong bào thai, mẹ của tôi đã trở thành người có hương thơm ở cơ thể.
BJT 6322Và vào lúc tôi rời khỏi lòng mẹ, khi ấy thành Sāvatthī đã tỏa ra như là được tẩm bằng tất cả các loại hương thơm.
BJT 6323Và có cơn mưa bông hoa thơm ngát làm thích ý với các hương thơm của cõi trời và có các hương trầm có giá trị cao đã thổi đến liền khi ấy.
BJT 6324Và ở ngôi nhà tôi đã được sanh ra, chư Thiên đã tẩm hương thơm ngôi nhà ấy bằng mọi thứ hương thơm, bằng hương trầm và các bông hoa.
BJT 6325Và vào lúc tôi còn trẻ, hiền thiện, đang ở vào giai đoạn đầu của tuổi thanh niên, khi ấy đấng Điều Phục Nhân đã hướng dẫn Sela cùng nhóm tùy tùng.
BJT 6326Cùng với tất cả những người ấy, Ngài đã ngự đến thành Sāvatthī. Sau khi nhìn thấy năng lực ấy của đức Phật, tôi đã xuất gia.
BJT 6327Sau khi làm cho phát triển bốn pháp: Giới, Định, Tuệ, và sự Giải Thoát vô thượng, tôi đã thành tựu sự đoạn tận các lậu hoặc.
BJT 6328Và vào lúc tôi đã được xuất gia, vào lúc tôi trở thành vị A-la-hán, và vào lúc tôi sẽ Niết Bàn, khi ấy sẽ có cơn mưa hương thơm.
BJT 6329Hương thơm ở cơ thể của tôi luôn luôn vượt trội các loại hương trầm, hương campaka, và hương sen vô cùng giá trị, tương tợ như thế ấy khi tôi đi nơi này nơi khác tôi tỏa ra hương thơm át hẳn tất cả các loại hương thơm khác về mọi phương diện.
BJT 6330Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 6331Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 6332Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Cūḷasugandha đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Cūḷasugandha là phần thứ mười.
Phẩm Bhaddiya là phẩm thứ năm mươi lăm.
Phần Tóm Lược:
Vị Bhaddiya, vị trưởng lão Revata, và vị Sīvali có lợi lộc lớn lao, vị Vaṅgīsa, vị Nandaka, và luôn cả vị Kāḷudāyi, và tương tợ là vị Abhaya, vị Lomasa, vị Vanavaccha, và vị Sugandha đã được thực hiện là thứ mười. Ở đây, có ba trăm câu kệ và mười sáu câu thêm vào đó nữa.
Giờ là phần tóm lược của các phẩm:
Phẩm tên Kaṇikāra, phẩm về vị dâng cúng trái cây, phẩm về vị dâng cúng cỏ, phẩm Kaccāna, và phẩm Bhaddiya. Và các câu kệ này đã được tính đếm ở đây là chín trăm và tám mươi bốn. Có năm trăm năm mươi ký sự đã được giảng giải. Cùng với các câu kệ tóm lược, đây là sáu ngàn hai trăm câu kệ và mười tám câu thêm vào đó nữa.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
10. Cūḷasugandhattheraapadānaṃ
10. The Apadāna of the Elder Cūḷasugandha
10. Thiên sử Trưởng lão Cūḷasugandha
272.
272.
272.
‘‘Imamhi bhaddake kappe, brahmabandhu mahāyaso;
Kassapo nāma gottena, uppajji vadataṃ varo.
In this auspicious eon, a kinsman of Brahmā, of great renown, Kassapa by name and clan, the best of speakers, arose.
“Trong kiếp hiền thiện này, bậc Tối Thắng trong các người thuyết giảng, thuộc dòng dõi Bà-la-môn, có danh tiếng vĩ đại, có tên là Kassapa theo dòng họ, đã xuất hiện.
273.
273.
273.
‘‘Anubyañjanasampanno, bāttiṃsavaralakkhaṇo;
Byāmappabhāparivuto, raṃsijālasamotthaṭo.
Endowed with the minor characteristics, possessing the thirty-two excellent marks, he was surrounded by a fathom-wide aura, overspread with a net of rays.
“Vị ấy đầy đủ các tướng phụ, có ba mươi hai tướng tốt của bậc Đại nhân, được bao quanh bởi hào quang một tầm, được bao trùm bởi mạng lưới các tia sáng.
274.
274.
274.
‘‘Assāsetā yathā cando, sūriyova pabhaṅkaro;
Nibbāpetā yathā megho, sāgarova guṇākaro.
He was a comforter like the moon, a light-maker like the sun; a quencher like a cloud, an abode of virtues like the ocean.
“Ngài là đấng an ủi giống như mặt trăng, là đấng tạo ra ánh sáng giống như mặt trời. Ngài là đấng dập tắt (phiền não) giống như đám mây, là kho tàng các đức hạnh giống như biển cả.
275.
275.
275.
‘‘Dharaṇīriva sīlena, himavāva samādhinā;
Ākāso viya paññāya, asaṅgo anilo yathā.
In virtue he was like the earth, in concentration like the Himālaya; in wisdom he was like the sky, unattached like the wind.
“Về giới hạnh, Ngài giống như đất; về định, Ngài giống như núi Himavā. Về trí tuệ, Ngài giống như hư không; không dính mắc, Ngài giống như gió.
276.
276.
276.
‘‘Tadāhaṃ bārāṇasiyaṃ, upapanno mahākule;
Pahūtadhanadhaññasmiṃ, nānāratanasañcaye.
At that time I was born in Bārāṇasī, in a great family abounding in wealth and grain, with an accumulation of various jewels.
“Khi ấy, tôi đã sanh ra ở thành Bārāṇasī, trong một gia tộc cao quý, có nhiều tài sản và lúa gạo, có sự tích trữ các loại bảo vật khác nhau.
277.
277.
277.
‘‘Mahatā parivārena, nisinnaṃ lokanāyakaṃ;
Upecca dhammamassosiṃ, amataṃva manoharaṃ.
Having approached the Leader of the World, who was seated with a great retinue, I heard the Dhamma, which was delightful like the Deathless.
“Sau khi đến gần bậc Lãnh Đạo thế gian đang ngồi cùng với đoàn tùy tùng đông đảo, tôi đã được nghe Pháp, là Pháp làm say mê lòng người, giống như vị cam lồ.
278.
278.
278.
‘‘Dvattiṃsalakkhaṇadharo, sanakkhattova candimā;
Anubyañjanasampanno, sālarājāva phullito.
Bearer of the thirty-two marks, he was like the moon with its constellations; endowed with the minor characteristics, he was like a blossoming kingly sāla tree.
“Ngài mang ba mươi hai tướng tốt, giống như mặt trăng cùng với các vì sao. Ngài đầy đủ các tướng phụ, giống như cây sāla chúa đang nở rộ.
279.
279.
279.
‘‘Raṃsijālaparikkhitto, dittova kanakācalo;
Byāmappabhāparivuto, sataraṃsī divākaro.
Encircled by a net of rays, he was like a blazing golden mountain; surrounded by a fathom-wide aura, he was like the sun with its many rays.
“Ngài được bao bọc bởi mạng lưới các tia sáng, giống như ngọn núi vàng đang chiếu sáng. Ngài được bao quanh bởi hào quang một tầm, (giống như) mặt trời có trăm tia sáng.
280.
280.
280.
‘‘Soṇṇānano jinavaro, samaṇīva † siluccayo;
Karuṇāpuṇṇahadayo, guṇena viya sāgaro.
“The best of victors, with a face like gold, was like an emerald mountain; his heart was full of compassion, and in qualities he was like the ocean.
“Bậc Toàn Thắng có gương mặt vàng ròng, giống như ngọn núi bằng ngọc bích. Ngài có trái tim tràn đầy lòng bi mẫn, về đức hạnh thì giống như biển cả.
281.
281.
281.
‘‘Lokavissutakitti ca, sinerūva naguttamo;
Yasasā vitthato vīro, ākāsasadiso muni.
“With fame renowned in the world, he was like Sineru, the best of mountains. The hero was widespread in glory; the sage was like the sky.
“Ngài có danh tiếng lừng lẫy trong thế gian, giống như Sineru, ngọn núi cao tột. Bậc Dũng Mãnh có danh vọng rộng khắp, bậc Mâu-ni giống như hư không.
282.
282.
282.
‘‘Asaṅgacitto sabbattha, anilo viya nāyako;
Patiṭṭhā sabbabhūtānaṃ, mahīva munisattamo.
“The leader, with a mind unattached to anything, was like the wind; the best of sages was a support for all beings, like the earth.
“Bậc Lãnh Đạo có tâm không dính mắc ở mọi nơi, giống như gió. Bậc Thánh Mâu-ni là nơi nương tựa của tất cả chúng sanh, giống như đất.
283.
283.
283.
‘‘Anupalitto lokena, toyena padumaṃ yathā;
Kuvādagacchadahano, aggikhandhova sobhasi †.
“Unsullied by the world, as a lotus is by water, that master, a burner of the thicket of wrong views, shines like a great mass of fire.
“Ngài không bị ô nhiễm bởi thế gian, giống như hoa sen không bị dính nước. Ngài là đấng thiêu đốt bụi rậm tà kiến, Ngài tỏa sáng giống như một khối lửa.
284.
284.
284.
‘‘Agadho viya sabbattha, kilesavisanāsako;
Gandhamādanaselova, guṇagandhavibhūsito.
“Like a universal antidote, he was a destroyer of the poison of defilements; like Mount Gandhamādana, he was adorned with the fragrance of virtues.
“Giống như thuốc giải, Ngài là đấng hủy diệt nọc độc phiền não ở khắp mọi nơi. Giống như núi Gandhamādana, Ngài được trang hoàng bởi hương thơm của các đức hạnh.
285.
285.
285.
‘‘Guṇānaṃ ākaro vīro, ratanānaṃva sāgaro;
Sindhūva vanarājīnaṃ, kilesamalahārako.
“The hero was an abode of virtues, as the ocean is of jewels; the king of righteousness was a remover of the stain of defilements, as the ocean, king of rivers, is a remover of impurities.
“Bậc Dũng Mãnh là kho tàng các đức hạnh, giống như biển cả là kho tàng các bảo vật. Giống như biển cả (làm sạch) các dòng sông, Ngài là đấng loại bỏ vết nhơ phiền não.
286.
286.
286.
‘‘Vijayīva mahāyodho, mārasenāvamaddano;
Cakkavattīva so rājā, bojjhaṅgaratanissaro.
“He was a crusher of Māra’s army, like a victorious great warrior crushing an army; that king, a turner of the Dhamma-wheel, was the lord of the jewels of the enlightenment factors, like a wheel-turning monarch who is lord of the seven jewels.
“Giống như vị đại dũng sĩ chiến thắng, Ngài là đấng đè bẹp quân đội của Māra. Giống như vị vua Chuyển Luân, vị vua ấy là chúa tể của các bảo vật Giác Chi.
287.
287.
287.
‘‘Mahābhisakkasaṅkāso, dosabyādhitikicchako;
Sallakatto yathā vejjo, diṭṭhigaṇḍaviphālako.
“Resembling a great physician, he was a healer of the disease of faults; like a physician who is a surgeon that extracts a dart, the physician who is the Buddha, an extractor of the dart of defilements, was a splitter of the boil of wrong views.
“Ngài giống như vị đại y vương, là đấng chữa trị căn bệnh của các lỗi lầm. Giống như vị thầy thuốc phẫu thuật, Ngài là đấng phá vỡ khối u tà kiến.
288.
288.
288.
‘‘So tadā lokapajjoto, sanarāmarasakkato;
Parisāsu narādicco, dhammaṃ desayate jino.
“Then that Victor, the light of the world, honored by humans and devas, the sun among men, taught the Dhamma in the assemblies.
“Khi ấy, bậc Toàn Thắng, ngọn đuốc của thế gian, được loài người và chư thiên tôn kính, là mặt trời của nhân loại, đã thuyết giảng Giáo pháp ở giữa các hội chúng.
289.
289.
289.
‘‘Dānaṃ datvā mahābhogo, sīlena sugatūpago;
Bhāvanāya ca nibbāti, iccevamanusāsatha.
“‘By giving a gift, one has great wealth; by virtue, one goes to a good destination; and by mental development, one is extinguished’—thus he instructed.
“‘Do đã thực hành bố thí nên có được tài sản lớn, do nhờ giới hạnh nên đi đến cõi lành, và do nhờ sự tu tiến nên được dập tắt (phiền não).’ Ngài đã giáo huấn như vậy.
290.
290.
290.
‘‘Desanaṃ taṃ mahassādaṃ, ādimajjhantasobhaṇaṃ;
Suṇanti parisā sabbā, amataṃva mahārasaṃ.
“All the assemblies listened to that teaching of great savor, beautiful in the beginning, middle, and end, which was like the Deathless of great flavor.
“Tất cả hội chúng lắng nghe bài thuyết giảng ấy, là bài giảng có hương vị tuyệt vời, tốt đẹp ở phần đầu, phần giữa, và phần cuối, giống như vị cam lồ có hương vị cao thượng.
291.
291.
291.
‘‘Sutvā sumadhuraṃ dhammaṃ, pasanno jinasāsane;
Sugataṃ saraṇaṃ gantvā, yāvajīvaṃ namassahaṃ.
“Having heard the very sweet Dhamma, being pleased in the Victor’s dispensation, having gone to the Sugata for refuge, I paid homage for as long as life lasts.
“Sau khi nghe được Giáo pháp vô cùng ngọt ngào, tôi có đức tin trong giáo huấn của bậc Toàn Thắng. Sau khi đi đến quy y nơi bậc Thiện Thệ, tôi đã đảnh lễ trọn đời.
292.
292.
292.
‘‘Munino gandhakuṭiyā, opuñjesiṃ † tadā mahiṃ;
Catujjātena gandhena, māse aṭṭha dinesvahaṃ.
“On eight days each month, I smeared the floor in the Sage’s fragrant chamber with the four kinds of fragrance.
“Khi ấy, vào tám ngày trong mỗi tháng, tôi đã xoa xức nền đất ở hương phòng của bậc Mâu-ni bằng bốn loại hương thơm.
293.
293.
293.
‘‘Paṇidhāya sugandhattaṃ, sarīravissagandhino †;
Tadā jino viyākāsi, sugandhatanulābhitaṃ.
“Having made an aspiration for a fragrant state for my body which had a raw odor, the Victor at that time predicted the attainment of a fragrant body.
“Do đã nguyện cầu về việc có được hương thơm cho thân thể có mùi tanh hôi này, khi ấy bậc Toàn Thắng đã thọ ký về việc đạt được thân thể có hương thơm.
294.
294.
294.
‘‘‘Yo yaṃ gandhakuṭibhūmiṃ, gandhenopuñjate sakiṃ;
Tena kammavipākena, upapanno tahiṃ tahiṃ.
“‘Whoever smears the floor of the fragrant chamber with fragrance many times, by the result of that kamma, having been reborn in this and that existence,
“‘Người nào xoa xức nền đất của hương phòng bằng hương thơm một lần, do quả của nghiệp ấy, khi được sanh ra ở nơi này nơi kia.
295.
295.
295.
‘‘‘Sugandhadeho sabbattha, bhavissati ayaṃ naro;
Guṇagandhayutto hutvā, nibbāyissatināsavo’.
“‘In all existences, this person will have a fragrant body. Having become endowed with the fragrance of virtue, he will attain Nibbāna without taints.’
“‘Người này sẽ có thân thể thơm tho ở khắp mọi nơi. Sau khi có được hương thơm của đức hạnh, vị ấy sẽ được dập tắt phiền não, không còn lậu hoặc.’”
296.
296.
296.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
“By that well-done kamma and by my volition and aspirations, having abandoned the human body, I went to Tāvatiṃsa.
“Do nghiệp đã được làm tốt đẹp ấy và do các tác ý và nguyện vọng, sau khi từ bỏ thân người, tôi đã đi đến cõi trời Tāvatiṃsa (Đao-lợi).
297.
297.
297.
‘‘Pacchime ca bhave dāni, jāto vippakule ahaṃ;
Gabbhaṃ me vasato mātā, dehenāsi sugandhitā.
“And now in my final existence, I was born in a brahmin family. While I was dwelling in the womb, my mother’s body was fragrant.
“Và nay, trong kiếp sống cuối cùng, tôi đã được sanh ra trong gia tộc Bà-la-môn. Trong khi tôi đang trú ở trong bụng mẹ, thân thể của mẹ tôi đã có hương thơm.
298.
298.
298.
‘‘Yadā ca mātukucchimhā, nikkhamāmi tadā purī †;
Sāvatthisabbagandhehi, vāsitā viya vāyatha.
“And when I emerged from my mother’s womb, at that time the city of Sāvatthī was fragrant as if scented with all fragrances.
“Và khi tôi ra khỏi bụng mẹ, khi ấy thành Sāvatthī đã tỏa hương giống như được ướp bằng tất cả các loại hương thơm.
299.
299.
299.
‘‘Pupphavassañca surabhi, dibbagandhaṃ manoramaṃ;
Dhūpāni ca mahagghāni, upavāyiṃsu tāvade.
“A fragrant rain of flowers, delightful divine scents, and priceless incense wafted about at that very moment.
“Và một trận mưa hoa thơm ngát, hương thơm của chư thiên làm say mê lòng người, và các loại hương đốt vô cùng quý giá đã tỏa ra vào lúc bấy giờ.
300.
300.
300.
‘‘Devā ca sabbagandhehi, dhūpapupphehi taṃ gharaṃ;
Vāsayiṃsu sugandhena, yasmiṃ jāto ahaṃ ghare.
“And the devas, with all fragrances, with incense and flowers, and with a sweet scent, caused that house in which I was born to be fragrant.
Chư Thiên đã làm cho ngôi nhà ấy, nơi mà tôi đã được sanh ra, được tỏa ngát với tất cả các loại hương thơm, với hương trầm và hoa, và với hương thơm ngào ngạt.
301.
301.
301.
‘‘Yadā ca taruṇo bhaddo, paṭhame yobbane ṭhito;
Tadā selaṃ † saparisaṃ, vinetvā narasārathi.
“And when, as a fine young man, I was established in the first stage of youth, at that time the Charioteer of Men, having tamed the brahmin Sela together with his retinue,
Và khi tôi là người trẻ tuổi, tốt đẹp, đang ở vào tuổi thanh xuân đầu tiên, vào lúc ấy, bậc Điều Ngự Nhân đã giáo hóa bà-la-môn Sela cùng với đoàn tùy tùng.
302.
302.
302.
‘‘Tehi sabbehi parivuto †, sāvatthipuramāgato;
Tadā buddhānubhāvaṃ taṃ, disvā pabbajito ahaṃ.
“Surrounded by all of them, when he came to the city of Sāvatthī, at that time, having seen that power of the Buddha, I went forth.
Được tất cả các vị ấy vây quanh, ngài đã đi đến thành Sāvatthī. Vào lúc ấy, sau khi nhìn thấy oai lực của đức Phật, tôi đã xuất gia.
303.
303.
303.
‘‘Sīlaṃ samādhipaññañca, vimuttiñca anuttaraṃ;
Bhāvetvā caturo dhamme, pāpuṇiṃ āsavakkhayaṃ.
“Having developed the four states—virtue, concentration and wisdom, and unsurpassed liberation—I reached the destruction of the taints.
Sau khi đã tu tập bốn pháp là giới, định, và tuệ, và sự giải thoát vô thượng, tôi đã đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc.
304.
304.
304.
‘‘Yadā pabbajito cāhaṃ, yadā ca arahā ahuṃ;
Nibbāyissaṃ yadā cāhaṃ, gandhavasso tadā ahu.
“When I went forth, and when I became an Arahant, and when I will attain Parinibbāna, at those times there was a rain of fragrance.
Khi tôi xuất gia, và khi tôi trở thành bậc A-la-hán, và khi tôi sẽ nhập Niết-bàn, vào những lúc ấy, cơn mưa hương thơm đã xảy ra.
305.
305.
305.
‘‘Sarīragandho ca sadātiseti † me, mahārahaṃ candanacampakuppalaṃ;
Tatheva gandhe itare ca sabbaso, pasayha vāyāmi tato tahiṃ † tahiṃ.
“And the fragrance of my body always surpasses the costly sandalwood, campaka, and blue water lily, and likewise all other fragrances. Having overpowered them, I am fragrant beyond them in this and that existence.
Và hương thơm từ thân của tôi luôn vượt trội hơn hương chiên-đàn, hương hoa chăm-pa, và hoa sen xanh quý giá; tương tự như thế, sau khi đã lấn át tất cả các loại hương thơm khác, tôi tỏa hương thơm vượt hơn các loại hương ấy ở khắp mọi nơi.
306.
306.
306.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
“My defilements are burnt… and so on… I dwell without taints.
Các phiền não của tôi đã được đốt sạch... (v.v.)... tôi sống không còn lậu hoặc.
307.
307.
307.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
“Indeed, my coming… and so on… the teaching of the Buddha has been done.
Sự đến của tôi thật là khéo đến... (v.v.)... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
308.
308.
308.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā cūḷasugandho thero imā gāthāyo abhāsitthāti;
“The four analytical knowledges… and so on… the teaching of the Buddha has been done.” Thus, it is said, the Venerable Elder Cūḷasugandha spoke these verses.
Bốn Tuệ Phân Tích... (v.v.)... lời dạy của đức Phật đã được thực hành. Như vậy, quả thật Trưởng lão Cūḷasugandha đã nói những câu kệ này.
Cūḷasugandhattherassāpadānaṃ dasamaṃ.
The Apadāna of the Elder Cūḷasugandha, the Tenth.
Thánh tích của Trưởng lão Cūḷasugandha, phần thứ mười.
The Bhaddiya Chapter, the Fifty-fifth.
Phẩm Bhaddiya, phẩm thứ năm mươi lăm.
Tassuddānaṃ –
The summary thereof:
Phần tóm lược của phẩm ấy:
Bhaddiyo revato thero, mahālābhī ca sīvalī;
Vaṅgīso nandako ceva, kāḷudāyī tathābhayo.
The Elder Bhaddiya and Revata, Sīvalī of great gain, Vaṅgīsa and Nandaka, Kāḷudāyī and also Abhaya,
Trưởng lão Bhaddiya, Revata, và Sīvalī là người có nhiều tài lộc, Vaṅgīsa và Nandaka, Kāludāyī, và luôn cả Abhaya.
Lomaso vanavaccho ca, sugandho ceva dasamo;
Tīṇi gāthāsatā tattha, soḷasā ca taduttari.
Lomasa, Vanavaccha, and Sugandha as the tenth. Therein are three hundred and sixteen verses.
Lomasa và Vanavaccha, và Sugandha là vị thứ mười. Ở đó, có ba trăm và thêm mười sáu câu kệ.
Atha vagguddānaṃ –
Now, the summary of the chapters:
Sau đây là phần tóm lược các phẩm:
Kaṇikāravhayo vaggo, phalado tiṇadāyako;
Kaccāno bhaddiyo vaggo, gāthāyo gaṇitā cimā.
The chapter named Kaṇikāra, the Phaladāyaka, the Tiṇadāyaka, the Kaccāyana, and the Bhaddiya Chapter—these verses are counted.
Phẩm có tên là Kaṇikāra, phẩm Phaladāyaka, Tiṇadāyaka, Kaccāna, và phẩm Bhaddiya; những câu kệ này đã được đếm.
Navagāthāsatānīha, caturāsītiyeva ca;
Sapaññāsaṃ pañcasataṃ, apadānā pakāsitā.
Herein are nine hundred and eighty-four verses; five hundred and fifty Apadānas have been declared.
Ở đây, có chín trăm tám mươi bốn câu kệ. Năm trăm năm mươi câu chuyện Thánh tích đã được tuyên thuyết.
Saha udānagāthāhi, chasahassāni hontimā;
Dvesatāni ca gāthānaṃ, aṭṭhārasa taduttari.
Together with the summary verses, there are six thousand, two hundred, and eighteen verses.
Cùng với các câu kệ tóm lược, có sáu ngàn hai trăm mười tám câu kệ.