Bản dịch
THA -ap551 — Ký Sự về Trưởng Lão Vanavaccha
Vanavacchattheraapadāna
BJT 6275Ở vào kiếp Bhadda này, trong số các vị đang thuyết giảng đã hiện khởi đấng cao quý tên Kassapa có danh tiếng vĩ đại, là thân quyến của đấng Phạm Thiên (dòng dõi Bà-la-môn).
BJT 6276Lúc bấy giờ, tôi đã xuất gia trong Giáo Pháp của đức Phật ấy. Tôi đã thực hành Phạm hạnh đến hết cuộc đời và đã chết đi từ nơi ấy.
BJT 6277Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 6278Mệnh chung từ nơi ấy, tôi đã trở thành con chim bồ câu ở trong khu rừng. Tại nơi ấy có vị tỳ khưu đầy đủ đức hạnh cư ngụ, luôn luôn thỏa thích với thiền.
BJT 6279Vị anh hùng vĩ đại luôn luôn có tâm từ ái, có lòng bi mẫn, có vẻ mặt hoan hỷ, là vị có hành xả, rành rẽ về các tâm vô lượng.
BJT 6280(Vị ấy) có sự suy tầm không bị chướng ngại, có thiên hướng về sự lợi ích cho tất cả chúng sanh. Không bao lâu sau, tôi đã có được niềm tin ở vị Thinh Văn ấy của đấng Thiện Thệ.
BJT 6281Khi ấy, tôi đây đã đi đến ở cạnh bàn chân của vị ấy đang ngồi. Có lần nọ, vị ấy cho thức ăn, và có một lần thuyết giảng Giáo Pháp.
BJT 6282Khi ấy, tôi đã phục vụ người con trai của đấng Chiến Thắng với lòng yêu thương bao la. Từ nơi đó chết đi, tôi đã đi đến cõi trời như là đã đi về nhà của chính mình sau cuộc hành trình ở xứ lạ.
BJT 6283Mệnh chung từ cõi trời, tôi đã hạ sanh vào loài người nhờ vào nghiệp phước thiện. Tôi đã từ bỏ gia đình và đã xuất gia một cách mau chóng.
BJT 6284Tương tợ y như thế, sau khi trở thành vị Sa-môn, đạo sĩ khổ hạnh, Bà-la-môn, du sĩ ngoại đạo, tôi đã sống ở trong rừng hàng trăm (kiếp sống).
BJT 6285Và trong kiếp sống cuối cùng hiện nay, ở thành Kapilavatthu đáng yêu có người Bà-la-môn Vacchagotta. Tôi đã nhập thai ở người vợ của ông ta.
BJT 6286Khi tôi đã nhập thai, mẹ của tôi (là sản phụ) đã có niềm khao khát và đã có quyết định về việc cư ngụ ở rừng vào lúc gần được lâm bồn.
BJT 6287Do đó, mẹ đã sanh ra tôi ở bên trong khu rừng đáng yêu. Khi tôi đang ra khỏi bào thai, mọi người đã đỡ lấy tôi bằng tấm y ca-sa.
BJT 6288Sau đó, vương tử Siddhattha biểu tượng của gia tộc Sakya đã được sanh ra. Tôi đã trở thành người bạn yêu quý của vị ấy, được tin tưởng, vô cùng tự hào.
BJT 6289Khi con người ưu tú của chúng sanh đang ra đi sau khi đã từ bỏ danh vọng vĩ đại, tôi cũng đã xuất gia và đã đi đến núi Hi-mã-lạp.
BJT 6290Tôi đã nhìn thấy vị (Mahā) Kassapa là người thuyết giảng về pháp giũ bỏ, có sự cư ngụ ở rừng, vị đáng được tôn kính. Tôi đã được nghe về sự hiện khởi của đấng Chiến Thắng và tôi đã đi đến gặp đấng Điều Phục Nhân.
BJT 6291Trong lúc giảng giải về mọi ý nghĩa, Ngài đã thuyết giảng Giáo Pháp cho tôi. Sau đó, tôi đã xuất gia và cũng đã quay về lại khu rừng.
BJT 6292Tại nơi ấy, trong khi sống không xao lãng, tôi đã chạm đến sáu thắng trí. Ôi, điều lợi ích đã được đạt thành tốt đẹp cho tôi, tôi đã được người bạn tốt thương tưởng!
BJT 6293Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 6294Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 6295Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Vanavaccha đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Vanavaccha là phần thứ chín.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
9. Vanavacchattheraapadānaṃ
9. The Apadāna of the Elder Vanavaccha
9. Thánh tích của trưởng lão Vanavaccha
251.
251.
251.
‘‘Imamhi bhaddake kappe, brahmabandhu mahāyaso;
Kassapo nāma gottena, uppajji vadataṃ varo.
In this auspicious eon, one of brahmin lineage and great renown, Kassapa by name and clan, arose, the best of speakers.
“Trong kiếp hiền kiếp này, đã có vị thuộc dòng dõi Bà-la-môn, có danh tiếng lớn, tên là Kassapa theo dòng họ, bậc tối thượng của những người thuyết giảng, đã sanh khởi.
252.
252.
252.
‘‘Tadāhaṃ pabbajitvāna, tassa buddhassa sāsane;
Yāvajīvaṃ caritvāna, brahmacāraṃ tato cuto.
Then, having gone forth in the dispensation of that Buddha, and having practiced the holy life for my entire life, I passed away from that existence.
“Khi ấy, tôi đã xuất gia trong giáo pháp của đức Phật ấy. Sau khi đã thực hành phạm hạnh cho đến trọn đời, tôi đã mệnh chung từ nơi ấy.
253.
253.
253.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
By that well-done deed and by my volition and aspirations, having abandoned the human body, I went to the Tāvatiṃsa heaven.
“Do nghiệp đã được khéo làm ấy và do các tác ý và nguyện vọng, sau khi từ bỏ thân người, tôi đã đi đến cõi trời Ba Mươi Ba.
254.
254.
254.
‘‘Tato cuto araññamhi, kapoto āsahaṃ tahiṃ;
Vasate guṇasampanno, bhikkhu jhānarato sadā.
Having passed away from there, I was a wild pigeon in a forest. There dwelt a bhikkhu endowed with virtue, always delighting in jhāna.
“Sau khi mệnh chung từ nơi ấy, tôi đã là con chim bồ câu ở trong rừng. Tại nơi ấy, có vị tỳ-khưu đầy đủ đức hạnh, luôn luôn thích thú trong thiền định, đang trú ngụ.
255.
255.
255.
‘‘Mettacitto kāruṇiko, sadā pamuditānano;
Upekkhako mahāvīro, appamaññāsu kovido.
With a mind of loving-kindness, compassionate, always with a joyful face; he was equanimous, one of great energy, skilled in the immeasurables.
“(Vị ấy) có tâm từ, có lòng bi, luôn luôn có gương mặt hoan hỷ, có tâm xả, là bậc đại tinh tấn, là bậc thiện xảo trong các Vô Lượng Tâm.
256.
256.
256.
‘‘Vinīvaraṇasaṅkappe, sabbasattahitāsaye;
Visaṭṭho nacirenāsiṃ, tasmiṃ sugatasāvake.
His thoughts were free from hindrances, his intention for the welfare of all beings. I soon became trusting of that disciple of the Sugata.
“Đối với vị đệ tử của bậc Thiện Thệ ấy, là người có các ý định đã được gỡ bỏ các triền cái, là người có ý muốn mưu cầu sự lợi ích cho tất cả chúng sanh, chẳng bao lâu tôi đã trở nên thân thiết.
257.
257.
257.
‘‘Upecca pādamūlamhi, nisinnassa tadāssame;
Kadāci sāmisaṃ deti, dhammaṃ desesi cekadā.
To me, who approached the base of his feet and was sitting in the hermitage, he sometimes gave a material gift, and at other times also taught the Dhamma.
“Khi ấy, đối với tôi đang ngồi ở dưới chân (vị ấy) sau khi đã đi đến, có lúc vị ấy cho vật thực, và có lúc vị ấy thuyết giảng Giáo pháp.
258.
258.
258.
‘‘Tadā vipulapemena, upāsitvā jinatrajaṃ;
Tato cuto gato saggaṃ, pavāso sagharaṃ yathā.
Then, with abundant affection, having attended upon that son of the Victor, I passed away from there and went to heaven, like a traveler returning to his own home.
“Khi ấy, do đã hầu hạ người con của bậc Chiến Thắng với tình thương mến rộng lớn, sau khi mệnh chung từ nơi ấy, tôi đã đi đến cõi trời, giống như người đi xa trở về nhà của mình.
259.
259.
259.
‘‘Saggā cuto manussesu, nibbatto puññakammunā;
Agāraṃ chaḍḍayitvāna, pabbajiṃ bahuso ahaṃ.
Having passed away from heaven, I was reborn among humans through my meritorious deeds. Having abandoned the household life, I went forth many times.
“Sau khi mệnh chung từ cõi trời, do nghiệp phước, tôi đã được sanh ra ở cõi người. Sau khi từ bỏ nhà cửa, tôi đã xuất gia nhiều lần.
260.
260.
260.
‘‘Samaṇo tāpaso vippo, paribbajo tathevahaṃ;
Hutvā vasiṃ araññamhi, anekasataso ahaṃ.
As a recluse, an ascetic, a brahmin, and likewise a wanderer, having been so, I dwelt in the forest for many hundreds of times.
“Tương tự như thế, tôi đã là vị sa-môn, là nhà khổ hạnh, là người Bà-la-môn, là người du sĩ. Sau khi đã là như vậy, tôi đã trú ngụ trong rừng nhiều trăm lần.
261.
261.
261.
‘‘Pacchime ca bhave dāni, ramme kapilavatthave;
Vacchagotto dijo tassa, jāyāya ahamokkamiṃ.
Now in my final existence, in delightful Kapilavatthu, I was conceived in the womb of the wife of the brahmin Vacchagotta.
“Và nay trong kiếp sống cuối cùng, ở tại thành Kapilavatthu khả ái, có người Bà-la-môn thuộc dòng họ Vaccha, tôi đã nhập vào bụng của vợ người ấy.
262.
262.
262.
‘‘Mātu me dohaḷo āsi, tirokucchigatassa me;
Jāyamānasamīpamhi, vanavāsāya nicchayo.
While I was in my mother’s womb, she had a craving. Near the time of my birth, my mother resolved to live in the forest.
“Trong khi tôi đang ở trong bụng mẹ, mẹ của tôi đã có sự thèm muốn. Khi gần đến lúc sanh, (bà) đã có quyết định về việc trú ngụ trong rừng.
263.
263.
263.
‘‘Tato me ajanī mātā, ramaṇīye vanantare;
Gabbhato nikkhamantaṃ maṃ, kāsāyena paṭiggahuṃ.
Then my mother gave birth to me in a delightful forest grove. As I was emerging from the womb, they received me with a saffron-colored cloth.
“Sau đó, mẹ tôi đã sanh ra tôi ở trong chốn rừng sâu khả ái. Họ đã đón nhận tôi, người đang đi ra từ bụng mẹ, bằng tấm y kāṣāya.
264.
264.
264.
‘‘Tato kumāro siddhattho, jāto sakyakuladdhajo;
Tassa mitto piyo āsiṃ, saṃvisaṭṭho sumāniyo.
Then Prince Siddhattha was born, the banner of the Sakyan clan. I was his dear and intimate friend, greatly cherished.
“Sau đó, hoàng tử Siddhattha, ngọn cờ của dòng họ Sakya, đã được sanh ra. Tôi đã là người bạn thân thiết, gần gũi, và được quý mến của vị ấy.
265.
265.
265.
‘‘Sattasārebhinikkhante, ohāya vipulaṃ yasaṃ;
Ahampi pabbajitvāna, himavantamupāgamiṃ.
When he, the essence of beings, had gone forth, having abandoned his vast retinue, I too went forth and proceeded to the Himavanta.
“Khi bậc Tinh Hoa của chúng sanh đã xuất gia, sau khi từ bỏ danh tiếng rộng lớn, tôi cũng đã xuất gia và đã đi đến Hy-mã-lạp sơn.
266.
266.
266.
‘‘Vanālayaṃ bhāvanīyaṃ, kassapaṃ dhutavādikaṃ;
Disvā sutvā jinuppādaṃ, upesiṃ narasārathiṃ.
Having seen Kassapa—the forest-dweller, the praiseworthy, the exponent of ascetic practices—and having heard of the Victor’s arising, I approached the Tamer of Men.
“Sau khi nhìn thấy ngài Kassapa, người trú ngụ trong rừng, đáng được tôn kính, người thuyết giảng về hạnh đầu-đà, và sau khi nghe về sự xuất hiện của bậc Chiến Thắng, tôi đã đi đến bậc Điều Ngự Nhân.
267.
267.
267.
‘‘So me dhammamadesesi, sabbatthaṃ sampakāsayaṃ;
Tatohaṃ pabbajitvāna, vanameva punāgamaṃ †.
He taught me the Dhamma, clearly explaining all its meanings. After that, having gone forth, I returned again to the forest.
“Vị ấy đã thuyết giảng Giáo pháp cho tôi, trong khi tuyên thuyết về tất cả ý nghĩa. Sau đó, tôi đã xuất gia và đã trở lại chính khu rừng.
268.
268.
268.
‘‘Tatthāppamatto viharaṃ, chaḷabhiññā aphassayiṃ †;
Aho suladdhalābhomhi, sumittenānukampito.
Dwelling there diligently, I attained the six supernormal knowledges. Oh, what a good gain I have obtained, having been shown compassion by a good friend!
“Tại nơi ấy, trong khi trú ngụ không dể duôi, tôi đã chứng được sáu thắng trí. Ôi, tôi đã có được lợi lộc đã được khéo thành tựu, đã được người bạn tốt thương tưởng.
269.
269.
269.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burnt up… I dwell without taints.
“Các phiền não đã được tôi đốt sạch... (tóm tắt)... tôi sống không còn lậu hoặc.
270.
270.
270.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Indeed, my coming was a good coming… the Buddha’s teaching has been done.
“Thật sự, sự đến của tôi là khéo đến... (tóm tắt)... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
271.
271.
271.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the Buddha’s teaching has been done.
“Bốn Tuệ Phân Tích... (tóm tắt)... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā vanavaccho thero imā gāthāyo
Thus, it is said, the Venerable Elder Vanavaccha these verses…
Như vậy, quả thật trưởng lão khả kính Vanavaccha đã nói lên những câu kệ này:
Abhāsitthāti.
She spoke [these verses].
Đã nói lên như vậy.
Vanavacchattherassāpadānaṃ navamaṃ.
The Ninth Apadāna of the Elder Vanavaccha is concluded.
Thiên sử Trưởng lão Vanavaccha, câu chuyện thứ chín.