Bản dịch
THA -ap549 — Ký Sự về Trưởng Lão Abhaya
Abhayattheraapadāna
BJT 6219Trước đây một trăm ngàn kiếp, vị Lãnh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc Hữu Nhãn về tất cả các pháp đã hiện khởi.
BJT 6220Đức Như Lai giúp cho người an trú vào việc đi đến nương nhờ, giúp cho người an trú vào giới, vào mười đường lối tối thượng về (thiện) nghiệp.
BJT 6221Đấng Đại Hùng ấy ban cho người quả vị Sa-môn tối thượng. Tương tợ như thế Ngài ban phát tám sự thể nhập (thiền) và ba minh.
BJT 6222Bậc Tối Thượng Nhân giúp cho chúng sanh gắn bó vào sáu thắng trí. Bậc Bảo Hộ ấy ban cho người bốn pháp phân tích
BJT 6223Sau khi nhìn thấy người có khả năng giác ngộ dầu (ở xa) vô số do-tuần, đấng Điều Phục Nhân trong phút chốc vẫn đi đến gặp và hướng dẫn.
BJT 6224Lúc bấy giờ, tôi đã là con trai của vị Bà-la-môn ở thành Haṁsavatī, là người thông suốt tất cả các bộ Vệ-đà, được công nhận về (khả năng) giảng giải.
BJT 6225Được thiện xảo về ngôn từ, và tự tin về từ đồng nghĩa, là người rõ về cú pháp, hiểu biết về nghi lễ, rành rẽ về việc kết hợp âm điệu thi ca.
BJT 6226Trong khi đi bộ lang thang tôi đã đi đến tu viện Haṁsa. Tôi đã nhìn thấy bậc hàng đầu trong số các vị đang thuyết giảng, được đám đông dân chúng ái mộ.
BJT 6227Trong khi Ngài đang thuyết giảng Giáo Pháp không bị ô nhiễm, (dầu) có sự hiểu biết trái nghịch tôi đã đi đến và đã lắng nghe những lời nói không bị bợn nhơ của Ngài.
BJT 6228Tôi đã không nhìn thấy lời đã được nói ra của bậc Hiền Trí ấy là bị lập lại, lạc đề, hoặc không có ý nghĩa; do đó tôi đã xuất gia.
BJT 6229Trong thời gian không bao lâu, được tự tin về tất cả các học thuật, tôi đã được công nhận bởi tập thể là vị thông thạo về lời dạy của đức Phật.
BJT 6230Khi ấy, tôi đã sáng tác bốn câu kệ có sự diễn tả khéo léo. Tôi đã ngợi ca bậc Cao Cả của tam giới và tôi đã diễn giảng ngày này qua ngày khác:
BJT 6231“Bạch đấng Đại Hùng, Ngài không bị ái luyến trong khi sống trong luân hồi (đầy) sự kinh hãi. Vì lòng bi mẫn Ngài đã không Niết Bàn; do đó bậc Hiền Trí là đấng Bi Mẫn.
BJT 6232Người nào dầu còn là phàm nhân mà đã không bị sự chi phối của phiền não, có sự nhận biết mình, được gắn liền với niệm; do đó người này là không thể nghĩ bàn.
BJT 6233Đối với người nào các phiền não ở trạng thái ngủ ngầm đã trở nên yếu ớt, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ mà không bị cạn kiệt, điều ấy là kỳ diệu.
BJT 6234Vị nào là thầy của tất cả thế gian và thế gian tôn kính như thế đối với vị nào, cũng tương tợ như vậy vị nào là thầy dạy của thế gian, thế gian là xu hướng theo vị ấy.”
BJT 6235Trong khi tán dương đấng Toàn Giác như thế, v.v… Sau khi thực hiện việc thuyết giảng Giáo Pháp đến hết cuộc đời, từ nơi ấy chết đi tôi đã đi đến cõi trời.
BJT 6236Kể từ khi tôi đã tán dương đức Phật cho đến một trăm ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc tán dương.
BJT 6237Ở thế giới chư Thiên, tôi đã cai quản vương quốc rộng lớn và vùng địa phận. Là đấng Chuyển Luân Vương, tôi đã thường xuyên thọ hưởng vương quốc rộng lớn.
BJT 6238Tôi (đã) được sanh ra ở hai cảnh giới trong bản thể Thiên nhân và loài người, tôi không biết đến cõi tái sanh khác; điều này là quả báu của việc tán dương.
BJT 6239Tôi (đã) được sanh ra ở hai gia tộc, Sát-đế-lỵ và Bà-la-môn, tôi không biết đến gia tộc hạ tiện; điều này là quả báu của việc tán dương.
BJT 6240Và trong kiếp sống cuối cùng hiện nay, tôi là con trai của đức vua Bimbisāra ở tại kinh thành Giribbajja và có tên là Abhaya.
BJT 6241Sau khi rơi vào sự ảnh hưởng của bạn xấu, tôi đã bị mê muội vì ngoại đạo. Được phái đi bởi (Giáo chủ) Nātaputta, tôi đã đi đến gặp đức Phật tối thượng.
BJT 6242Tôi đã hỏi câu hỏi khôn khéo và đã lắng nghe lời giảng giải xuất chúng. Tôi đã xuất gia, chẳng bao lâu tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
BJT 6243Sau khi tán dương đấng Chiến Thắng cao quý, tôi được ca ngợi vào mọi lúc. Với thân hình và khuôn mặt có hương thơm ngát, tôi đã đạt được sự an lạc.
BJT 6244Tôi có được tuệ sắc bén, tuệ vi tiếu, tuệ nhẹ nhàng và tuệ vĩ đại tương tợ y như thế, và tôi có tài biện giải đa dạng nhờ vào tác động của nghiệp ấy.
BJT 6245Với tâm tịnh tín, sau khi ngợi ca danh xưng (của đức Phật) Padumuttara, đấng Tự Chủ, không người sánh bằng, tôi (đã) không đi đến khổ cảnh trong một trăm ngàn kiếp nhờ vào quả báu của nghiệp ấy.
BJT 6246Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 6247Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 6248Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Abhaya đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Abhaya là phần thứ bảy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
7. Abhayattheraapadānaṃ
7. The Story of the Elder Abhaya
7. Thiên sử về trưởng lão Abhaya
195.
195.
195.
‘‘Padumuttaro nāma jino, sabbadhammesu cakkhumā;
Ito satasahassamhi, kappe uppajji nāyako.
The Conqueror named Padumuttara, the one with vision into all things, the Leader, arose in an aeon one hundred thousand aeons ago.
Vị Toàn Giác tên là Padumuttara, bậc có con mắt về các Pháp, bậc Lãnh Đạo đã sanh khởi ở một trăm ngàn kiếp tính từ kiếp này.
196.
196.
196.
‘‘Saraṇagamane kiñci, nivesesi tathāgato;
Kiñci sīle nivesesi, dasakammapathuttame.
The Tathāgata established some people in the going for refuge; he established some in virtue, in the supreme tenfold path of action.
Bậc Như Lai đã làm cho một số người an trú trong sự quy y Tam Bảo, một số người an trú trong giới hạnh, và trong mười con đường hành động cao thượng.
197.
197.
197.
‘‘Deti kassaci so vīro, sāmaññaphalamuttamaṃ;
Samāpattī tathā aṭṭha, tisso vijjā pavacchati.
To some that hero gives the supreme fruit of asceticism; he also bestows the eight attainments and the three true knowledges.
Vị Anh Hùng ấy đã ban cho một số người quả vị Sa-môn cao thượng, tương tự như thế là tám định chứng và ba loại minh kiến.
198.
198.
198.
‘‘Chaḷabhiññāsu yojesi, kiñci sattaṃ naruttamo;
Deti kassaci nātho so, catasso paṭisambhidā.
The supreme among men engaged some beings in the six supernormal knowledges; that Protector gives to some the four analytical knowledges.
Bậc Tối Thượng Nhân đã gắn kết một số chúng sanh với sáu loại thắng trí. Vị Hộ Trì ấy đã ban cho một số người bốn Tuệ Phân Tích.
199.
199.
199.
‘‘Bodhaneyyaṃ pajaṃ disvā, asaṅkheyyampi yojanaṃ †;
Khaṇena upagantvāna, vineti narasārathi.
Seeing people fit to be awakened, though an incalculable distance away, the Charioteer of Men approaches in an instant and disciplines them.
Sau khi nhìn thấy chúng sanh có thể được giác ngộ, dầu ở khoảng cách không thể đếm được bằng do-tuần, bậc Ngự Giả của nhân loại, sau khi đi đến trong khoảnh khắc, đã giáo huấn (vị ấy).
200.
200.
200.
‘‘Tadāhaṃ haṃsavatiyaṃ, ahosiṃ brāhmaṇatrajo;
Pāragū sabbavedānaṃ, veyyākaraṇasammato.
At that time in Haṃsavatī, I was the son of a brahmin, a master of all the Vedas, esteemed as a grammarian.
Vào lúc ấy, ở thành phố Haṃsavatī, tôi là con trai của một vị Bà-la-môn, là người đã đi đến bờ bên kia của tất cả các bộ Vệ-đà, và được công nhận là người thông thạo văn phạm.
201.
201.
201.
‘‘Niruttiyā ca kusalo, nighaṇḍumhi visārado;
Padako keṭubhavidū, chandovicitikovido.
I was skilled in etymology and an expert in lexicography, a master of grammar and a knower of poetics, skilled in the treatise on metrics.
Tôi đã thiện xảo về từ nguyên học, đã thành thạo về từ vựng học, là người thông thạo về cú pháp, là người am tường về thi pháp, và là người thiện xảo về vận luật học.
202.
202.
202.
‘‘Jaṅghāvihāraṃ vicaraṃ, haṃsārāmamupeccahaṃ;
Addasaṃ varadaṃ † seṭṭhaṃ, mahājanapurakkhataṃ.
Wandering on a walking tour, I approached the Hamsa Park; I saw the supreme bestower of the ultimate blessing, surrounded by a great assembly of people.
Trong khi đang đi dạo, tôi đã đi đến tu viện Haṃsārāma và đã nhìn thấy bậc Ban Thí Ân Phước, bậc Tối Thượng, đang được đại chúng vây quanh.
203.
203.
203.
‘‘Desentaṃ virajaṃ dhammaṃ, paccanīkamatī ahaṃ;
Upetvā tassa kalyāṇaṃ, sutvāna vimalaṃ ahaṃ †.
I, being of hostile mind, approached him as he was teaching the stainless Dhamma. Having approached, I heard his beautiful and immaculate word.
Với tâm ý chống đối, tôi đã đi đến (vị ấy) đang thuyết giảng Giáo Pháp không còn bụi bẩn. Sau khi đã lắng nghe lời dạy tốt đẹp và không còn tỳ vết của ngài, tôi...
204.
204.
204.
‘‘Byāhataṃ punaruttaṃ vā, apatthaṃ vā niratthakaṃ;
Nāddasaṃ tassa munino, tato pabbajito ahaṃ.
I saw no contradicted or repeated word, nor any meaningless or useless word of that sage; therefore, I went forth.
Tôi đã không nhận thấy lời nói mâu thuẫn, hoặc lặp lại, hoặc vô nghĩa, hoặc vô ích của bậc Thánh ấy. Do đó, tôi đã xuất gia.
205.
205.
205.
‘‘Nacireneva kālena, sabbasattavisārado;
Nipuṇo buddhavacane, ahosiṃ guṇisammato.
In just a short time, I became an expert in all the scriptures, skilled in the Buddha's word, and esteemed for my qualities.
Không bao lâu sau, tôi đã trở thành người thành thạo về tất cả các bộ luận, là người thiện xảo về lời dạy của đức Phật, và được công nhận là người có phẩm hạnh.
206.
206.
206.
‘‘Tadā catasso gāthāyo, ganthayitvā subyañjanā;
Santhavitvā tilokaggaṃ, desayissaṃ dine dine.
Then, having composed four verses with beautiful phrasing and having praised the foremost of the three worlds, I taught them day after day.
Vào lúc ấy, sau khi đã sáng tác bốn câu kệ có văn từ tốt đẹp, sau khi đã tán dương bậc Tối Thắng trong ba cõi, tôi đã thuyết giảng mỗi ngày.
207.
207.
207.
‘‘Virattosi mahāvīro, saṃsāre sabhaye vasaṃ;
Karuṇāya na nibbāyi, tato kāruṇiko muni.
The great hero is dispassionate, though dwelling in fearful saṃsāra. Because of compassion, he did not attain Nibbāna; therefore, the sage is supremely compassionate.
Bậc Đại Anh Hùng là người đã ly tham. Trong khi đang sống ở trong vòng luân hồi đáng sợ hãi, do lòng bi mẫn ngài đã không nhập Niết-bàn. Do đó, bậc Thánh là người có lòng bi mẫn.
208.
208.
208.
‘‘Puthujjano vayo santo, na kilesavaso ahu;
Sampajāno satiyutto, tasmā eso acintiyo.
Though being a worldling, he was not under the sway of the defilements. Being clearly comprehending and endowed with mindfulness, therefore he is inconceivable.
Trong khi còn là một kẻ phàm phu, ngài đã không bị các phiền não chi phối, là người có sự tỉnh giác, là người được gắn liền với chánh niệm. Do đó, vị này là không thể nghĩ bàn.
209.
209.
209.
‘‘Dubbalāni kilesāni, yassāsayagatāni me;
Ñāṇaggiparidaḍḍhāni, na khīyiṃsu tamabbhutaṃ.
His weakened defilements, which had come under his sway, were scorched by the fire of knowledge, yet were not destroyed—that was an amazing thing!
Các phiền não yếu ớt của ngài, những thứ nằm trong khuynh hướng tâm, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa của trí tuệ. Việc chúng không bị tiêu diệt (trước đó) là điều kỳ diệu.
210.
210.
210.
‘‘Yo sabbalokassa garu, loko † yassa tathā garu;
Tathāpi lokācariyo, loko tassānuvattako.
He who is the teacher of the whole world, whom the world likewise reveres. Therefore, he is the teacher of the world, and the world follows in his footsteps.
Vị nào là bậc Đạo Sư của toàn thể thế gian, và thế gian cũng tôn kính vị ấy như vậy. Do đó, ngài là bậc Thầy của thế gian, và thế gian là người đi theo ngài.
211.
211.
211.
‘‘Evamādīhi sambuddhaṃ, kittayaṃ dhammadesanaṃ;
Yāvajīvaṃ karitvāna, gato saggaṃ tato cuto.
Thus praising the Perfectly Enlightened One with these and other verses, and teaching the Dhamma for my entire life, when I passed away from that existence, I went to heaven.
Sau khi đã tán dương đức Chánh Đẳng Giác bằng những (lời kệ) như thế và các câu khác, sau khi đã thực hiện việc thuyết giảng Giáo Pháp cho đến trọn đời, sau khi mệnh chung từ nơi ấy, tôi đã đi đến cõi trời.
212.
212.
212.
‘‘Satasahassito kappe, yaṃ buddhamabhikittayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, kittanāya idaṃ phalaṃ.
One hundred thousand aeons ago, I praised the Buddha. I have not known a woeful destination since; this is the fruit of that praise.
Kể từ khi tôi đã tán dương đức Phật ở một trăm ngàn kiếp trước, tôi không còn biết đến cảnh giới khổ. Đây là kết quả của việc tán dương.
213.
213.
213.
‘‘Devaloke mahārajjaṃ, pādesiṃ kañcanagghiyaṃ †;
Cakkavattī mahārajjaṃ, bahusonubhaviṃ ahaṃ.
In the world of the devas, I experienced great kingship, like a golden pillar; I have also experienced the great kingship of a wheel-turning monarch many times.
Tôi đã đạt được vương quyền vĩ đại ở cõi trời, giống như cột trụ bằng vàng. Tôi đã nhiều lần kinh nghiệm được vương quyền vĩ đại của bậc Chuyển Luân Vương.
214.
214.
214.
‘‘Duve bhave pajāyāmi, devatte atha mānuse;
Aññaṃ gatiṃ na jānāmi, kittanāya idaṃ phalaṃ.
I have been born in two kinds of existence, the divine and the human. I know no other destination; this is the fruit of that praise.
Tôi chỉ sanh vào hai cảnh giới: Hoặc là ở cõi trời hoặc là ở cõi người. Tôi không biết đến cảnh giới nào khác. Đây là kết quả của việc tán dương.
215.
215.
215.
‘‘Duve kule pajāyāmi, khattiye atha brāhmaṇe;
Nīce kule na jāyāmi, kittanāya idaṃ phalaṃ.
I have been born into two families, the warrior and the brahmin. I am not born into a low family; this is the fruit of that praise.
Tôi chỉ sanh vào hai dòng dõi: Hoặc là dòng dõi Sát-đế-lỵ hoặc là dòng dõi Bà-la-môn. Tôi không sanh vào dòng dõi thấp kém. Đây là kết quả của việc tán dương.
216.
216.
216.
‘‘Pacchime ca bhave dāni, giribbajapuruttame;
Raññohaṃ bimbisārassa, putto nāmena cābhayo.
And now, in my final existence, in the excellent city of Giribbaja, I am the son of King Bimbisāra, by name Abhaya.
Và bây giờ, trong kiếp sống cuối cùng, ở tại thành phố Giribbaja cao quý, tôi là con trai của đức vua Bimbisāra, và có tên là Abhaya.
217.
217.
217.
‘‘Pāpamittavasaṃ gantvā, nigaṇṭhena vimohito;
Pesito nāṭaputtena, buddhaseṭṭhamupeccahaṃ.
Having come under the influence of a bad friend, deluded and sent by Nigaṇṭha Nāṭaputta, I approached the supreme Buddha.
Sau khi đã đi vào vòng ảnh hưởng của người bạn xấu, sau khi bị làm cho mê muội bởi người Nigantha, con trai của Nāṭa, tôi đã được phái đi và đã đi đến gặp bậc Tối Thắng Giác Ngộ.
218.
218.
218.
‘‘Pucchitvā nipuṇaṃ pañhaṃ, sutvā byākaraṇuttamaṃ;
Pabbajitvāna naciraṃ, arahattamapāpuṇiṃ.
Having asked a subtle question and heard the supreme explanation, I went forth and, not long after, attained Arahantship.
Sau khi đã hỏi câu hỏi tế nhị và đã lắng nghe lời giải đáp cao thượng, sau khi đã xuất gia, không bao lâu sau tôi đã chứng đạt quả vị A-la-hán.
219.
219.
219.
‘‘Kittayitvā jinavaraṃ, kittito homi sabbadā;
Sugandhadehavadano, āsiṃ sukhasamappito.
Having praised the excellent Conqueror, I am always praised. My body and mouth were fragrant, and I was endowed with happiness.
Sau khi đã tán dương bậc Toàn Thắng cao cả, tôi luôn luôn được tán dương. Tôi đã có thân và miệng tỏa hương thơm, và đã được ban cho sự an lạc.
220.
220.
220.
‘‘Tikkhahāsalahupañño, mahāpañño tathevahaṃ;
Vicittapaṭibhāno ca, tassa kammassa vāhasā.
By the power of that kamma, I have sharp, joyful, and swift wisdom; likewise great wisdom and varied eloquence.
Do năng lực của nghiệp ấy, tôi có trí tuệ sắc bén, nhanh trí, và lanh lợi, và cũng có trí tuệ vĩ đại. Và tôi có tài ứng đối đa dạng.
221.
221.
221.
‘‘Abhitthavitvā padumuttarāhaṃ, pasannacitto asamaṃ sayambhuṃ;
Na gacchi kappāni apāyabhūmiṃ, sataṃ sahassāni balena tassa.
Having praised Padumuttara, the Incomparable, the Self-Become, with a confident mind, by the power of that act I did not go to a plane of misery for a hundred thousand aeons.
Với tâm ý trong sạch, tôi đã tán dương đức Padumuttara, bậc Vô Song, bậc Tự Sanh. Do năng lực của việc ấy, tôi đã không đi đến cảnh giới khổ trong một trăm ngàn kiếp.
222.
222.
222.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burnt up… I dwell without taints.
“Các phiền não đã được tôi đốt cháy... (vân vân)... tôi sống không còn lậu hoặc.”
223.
223.
223.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Welcome indeed was my coming… the Buddha’s teaching has been done.
“Sự đến của tôi quả là khéo đến... (vân vân)... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
224.
224.
224.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the Buddha’s teaching has been done.
“Bốn Tuệ Phân Tích... (vân vân)... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā abhayo thero imā gāthāyo
Thus, it is said, the Venerable Elder Abhaya uttered these verses.
Như vầy, được nghe, trưởng lão Abhaya khả kính những vần kệ này
Abhāsitthāti.
He spoke thus.
đã nói lên như thế.
Abhayattherassāpadānaṃ sattamaṃ.
The Seventh Apadāna of the Elder Abhaya.
Thiên sự của trưởng lão Abhaya, phần thứ bảy.