Bản dịch
THA -ap548 — Ký Sự về Trưởng Lão Kāḷudāyi
Kāḷudāyittheraapadāna
BJT 6189Trước đây một trăm ngàn kiếp, vị Lãnh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc Hữu Nhãn về tất cả các pháp đã hiện khởi.
BJT 6190Bậc Đạo Sư là đấng cao quý trong số các đấng Lãnh Đạo, là bậc hiểu biết về thiện hạnh và ác hạnh, là đấng Chiến Thắng, là bậc ghi nhớ ân nghĩa, là bậc biết được hậu quả, Ngài giúp cho các sanh mạng gắn bó vào niềm tin.
BJT 6191Có thiên hướng về lòng trắc ẩn, Ngài phân định bằng trí tuệ biết được tất cả. Có sự tích lũy về đức độ vô biên, Ngài thuyết giảng về Giáo Pháp quý cao.
BJT 6192Có lần nọ, bậc Đại Anh Hùng ấy thuyết giảng Giáo Pháp ngọt ngào bao gồm bốn Sự Thật ở cuộc hội họp gồm dân chúng vô số kể.
BJT 6193Sau khi lắng nghe Giáo Pháp cao quý có sự tốt đẹp ở phần đầu phần giữa và phần cuối ấy, đã có sự lãnh hội Giáo Pháp của hàng trăm ngàn sanh mạng.
BJT 6194Khi ấy, trái đất đã gây ra tiếng động, và các đám mây mưa đã gào thét. Chư Thiên, Phạm Thiên, nhân loại, và các A-tu-la đã thể hiện hành động tán thán:
BJT 6195“Ôi đấng Bi Mẫn, bậc Đạo Sư! Ôi sự thuyết giảng Giáo Pháp! Ôi đấng Chiến Thắng đã tiếp độ những kẻ bị chìm đắm trong đại dương của hiện hữu!”
BJT 6196Trong khi nhân loại, chư Thiên, và Phạm Thiên sanh lên nỗi niềm bày tỏ như thế, đấng Chiến Thắng đã tán dương vị Thinh Văn đứng đầu trong số các vị tạo niềm tịnh tín cho các gia đình.
BJT 6197Khi ấy, được sanh ra trong gia đình vị quan cận thần ở tại Haṁsavatī, tôi đã là người đáng mến, đáng nhìn, có dồi dào về tài sản và lúa gạo.
BJT 6198Tôi đã đi đến tu viện Haṁsa và đã đảnh lễ đức Như Lai ấy. Tôi đã lắng nghe Giáo Pháp ngọt ngào và đã thể hiện hành động tôn kính đến vị như thế ấy.
BJT 6199Tôi đã quỳ xuống ở cạnh bàn chân (Ngài) và đã nói lời nói này: “Bạch đấng Hiền Trí, vị đứng đầu trong số các vị tạo niềm tịnh tín cho các gia đình đã được Ngài ngợi khen.
BJT 6200Bạch đấng Anh Hùng, con sẽ là vị như thế ấy trong Giáo Pháp của đức Phật tối thượng.” Khi ấy, đấng Đại Bi đang rước lên tôi bằng (dòng nước) Bất Tử.
BJT 6201Ngài đã nói với tôi rằng: “Này con trai, hãy đứng dậy, ngươi sẽ đạt được điều ước nguyện ấy. Sao lại không có kết quả sau khi đã thể hiện hành động tôn kính đến đấng Chiến Thắng?
BJT 6202Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 6203(Người này) sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, có tên là Udāyi.”
BJT 6204Nghe được điều ấy, tôi đã trở nên hoan hỷ. Khi ấy, với tâm từ ái tôi đã chăm sóc đấng Chiến Thắng, bậc Hướng Đạo bằng các vật dụng cho đến hết cuộc đời.
BJT 6205Do kết quả của nghiệp ấy và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 6206Và trong kiếp sống cuối cùng hiện nay, tôi đã được sanh ra trong gia đình vị quan đại thần của vị lãnh chúa Suddhodana ở tại thành Kapilavatthu đáng yêu.
BJT 6207Vào lúc đấng Nhân Ngưu Siddhattha đã được sanh ra ở tại khu rừng Lumbinī đáng yêu vì lợi ích và vì sự an lạc của tất cả thế gian.
BJT 6208Tôi đã được sanh ra đúng vào ngày hôm ấy. Cùng với Ngài ấy, tôi đã lớn lên, trở thành người bạn yêu dấu, được cảm tình, có học thức, rành rẽ về lề lối.
BJT 6209Đến khi hai mươi chín tuổi, trong lúc ra đi Ngài đã xuất gia. Sau khi trải qua sáu năm, Ngài đã trở thành đức Phật, đấng Hướng Đạo.
BJT 6210Sau khi đã chiến thắng Ma Vương cùng với đạo quân binh, sau khi đã làm cho các lậu hoặc bị quăng bỏ, sau khi đã vượt qua đại dương của hiện hữu, Ngài đã trở thành đức Phật (ở thế gian) luôn cả chư Thiên.
BJT 6211Ngài đã đi đến nơi có tên là Isi(patana) và đã hướng dẫn nhóm năm vị. Sau đó, đức Thế Tôn đã đi đến nơi này, đã đi đến nơi khác và đã hướng dẫn.
BJT 6212Khi ấy, trong lúc đang huấn luyện những người đáng được huấn luyện, trong lúc tiếp cận (thế gian) cùng với chư Thiên, đấng Chiến Thắng ấy đã đi đến ngọn núi Māgadha và đã cư ngụ ở tại nơi ấy.
BJT 6213Khi ấy, được phái đi bởi vị lãnh chúa Suddhodana, tôi đã đi đến, đã gặp đấng Thập Lực, đã xuất gia, và đã trở thành vị A-la-hán.
BJT 6214Khi ấy, tôi đã cầu xin bậc Đại Ẩn Sĩ và đã thuyết phục Ngài đi đến Kapila. Sau đó, tôi đã trở lại thành phố và đã tạo được niềm tịnh tín cho đại gia tộc.
BJT 6215Được hoan hỷ về đức hạnh ấy, đấng Chiến Thắng, bậc Hướng Đạo ấy ở hội chúng đông đảo đã tuyên bố tôi là vị đứng đầu trong số các vị tạo niềm tịnh tín cho các gia đình.
BJT 6216Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 6217Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 6218Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Kāḷudāyi đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Kāḷudāyi là phần thứ sáu.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
6. Kāḷudāyittheraapadānaṃ
6. The Story of the Elder Kāḷudāyī
6. Tiểu sử của trưởng lão Kāḷudāyī
165.
165.
165.
‘‘Padumuttaro nāma jino, sabbadhammesu cakkhumā;
Ito satasahassamhi, kappe uppajji nāyako.
The Victor named Padumuttara, one with vision into all things, the Leader, arose in an aeon a hundred thousand hence from this one.
Vị Toàn Giác tên là Padumuttara, bậc có Mắt trong tất cả các pháp, bậc Lãnh Đạo đã sanh lên ở một trăm ngàn kiếp tính từ kiếp này.
166.
166.
166.
‘‘Nāyakānaṃ varo satthā, guṇāguṇavidū jino;
Kataññū katavedī ca, titthe yojeti pāṇine †.
The Teacher, best of leaders, the Victor who knows virtue and its opposite, grateful and appreciative, guides beings at the ford.
Bậc Đạo Sư là vị tối thượng trong các bậc lãnh đạo, bậc Toàn Thắng biết rõ điều có đức và không có đức; Ngài là bậc tri ân và biết ơn, và Ngài gắn kết các chúng sanh vào bến bờ (Niết-bàn).
167.
167.
167.
‘‘Sabbaññutena ñāṇena, tulayitvā dayāsayo;
Deseti pavaraṃ dhammaṃ, anantaguṇasañcayo.
With his knowledge of omniscience, having reflected with a compassionate heart, he, an accumulation of endless virtues, teaches the excellent Dhamma.
Bậc có lòng bi mẫn, là kho tàng vô lượng công đức, sau khi cân nhắc bằng trí tuệ Nhất thiết trí, Ngài thuyết giảng Chánh pháp cao thượng.
168.
168.
168.
‘‘Sa kadāci mahāvīro, anantajinasaṃsari †;
Deseti madhuraṃ dhammaṃ, catusaccūpasañhitaṃ.
Sometimes that Great Hero, the endless Victor wandering through saṃsāra, teaches the sweet Dhamma connected with the Four Noble Truths.
Bậc Đại Hùng, bậc chiến thắng vô biên trong luân hồi, đôi khi Ngài thuyết giảng giáo pháp ngọt ngào, tương ứng với Tứ Thánh Đế.
169.
169.
169.
‘‘Sutvāna taṃ dhammavaraṃ, ādimajjhantasobhaṇaṃ;
Pāṇasatasahassānaṃ, dhammābhisamayo ahu.
Having heard that excellent Dhamma, lovely in the beginning, middle, and end, a hundred thousand beings had a breakthrough to the Dhamma.
Sau khi nghe được diệu pháp ấy, thiện xảo ở phần đầu, phần giữa, và phần cuối, một trăm ngàn chúng sanh đã chứng ngộ chơn pháp.
170.
170.
170.
‘‘Ninnāditā tadā bhūmi, gajjiṃsu ca payodharā;
Sādhukāraṃ pavattiṃsu, devabrahmanarāsurā.
Then the earth resounded and the rain clouds thundered; devas, brahmās, humans, and asuras gave cries of approval.
Khi ấy, mặt đất vang rền, và các đám mây sấm vang chớp giật; chư Thiên, Phạm thiên, loài người, và a-tu-la đã đồng thanh tán dương 'Lành thay!'
171.
171.
171.
‘‘‘Aho kāruṇiko satthā, aho saddhammadesanā;
Aho bhavasamuddamhi, nimugge uddharī jino’.
‘Oh, how compassionate is the Teacher! Oh, what a teaching of the good Dhamma! Oh, how the Victor uplifts those sunk in the ocean of existence!’
‘Ôi, bậc Đạo Sư thật bi mẫn thay! Ôi, lời thuyết giảng Chánh pháp thật tuyệt vời thay! Ôi, bậc Toàn Thắng đã cứu vớt những chúng sanh bị chìm đắm trong biển cả của sự hiện hữu!’
172.
172.
172.
‘‘Evaṃ pavedajātesu, sanarāmarabrahmasu;
Kulappasādakānaggaṃ, sāvakaṃ vaṇṇayī jino.
While the world with its humans, devas, and brahmās was thus filled with rapture, the Victor praised the disciple who was foremost among those who inspire confidence in families.
Khi niềm hân hoan khởi lên như vậy giữa loài người, chư Thiên và Phạm thiên, bậc Toàn Thắng đã tán dương vị đệ tử đứng đầu trong số những người làm cho gia tộc phát sanh tín tâm.
173.
173.
173.
‘‘Tadāhaṃ haṃsavatiyaṃ, jātomaccakule ahuṃ;
Pāsādiko dassaniyo, pahūtadhanadhaññavā.
At that time I was in Haṃsavatī, born into a minister’s family. I was inspiring to see and handsome, possessing abundant wealth and grain.
Khi ấy, tại thành Haṃsāvatī, tôi đã sanh ra trong gia đình của một vị quan đại thần; tôi là người đáng mến, ưa nhìn, và có nhiều của cải và lúa gạo.
174.
174.
174.
‘‘Haṃsārāmamupeccāhaṃ, vanditvā taṃ tathāgataṃ;
Suṇitvā madhuraṃ dhammaṃ, kāraṃ katvā ca tādino.
Having approached the Haṃsa Park, I venerated the Tathāgata. Having heard the sweet Dhamma, I paid homage to the Stable One.
Tôi đã đi đến tu viện Haṃsārāma, đảnh lễ bậc Như Lai ấy, lắng nghe giáo pháp ngọt ngào, và đã thực hiện sự cúng dường đến bậc Tādino (Như Hằng).
175.
175.
175.
‘‘Nipacca pādamūlehaṃ, imaṃ vacanamabraviṃ;
‘Kulappasādakānaggo, yo tayā santhuto † mune.
Having bowed down at his feet, I spoke this utterance: ‘O Sage, the one praised by you as foremost among those who inspire confidence in families—’
Tôi đã cúi mình dưới chân Ngài và thốt lên lời này: ‘Bạch bậc Thánh Giả, vị nào đã được Ngài tán thán là bậc đứng đầu trong số những người làm cho gia tộc phát sanh tín tâm.
176.
176.
176.
‘‘‘Tādiso homahaṃ vīra †, buddhaseṭṭhassa sāsane’;
Tadā mahākāruṇiko, siñcanto vā matena maṃ.
‘May I become one like that, O Hero, in the teaching of a supreme Buddha.’ Then the greatly compassionate one, as if sprinkling me with nectar,
‘Bạch đấng Anh Hùng, trong giáo pháp của bậc Tối Thắng Giả, nguyện cho con được trở thành người như vậy.’ Khi ấy, bậc Đại Bi, như thể rưới nước cam lồ lên con,
177.
177.
177.
‘‘Āha maṃ ‘putta uttiṭṭha, lacchase taṃ manorathaṃ;
Kathaṃ nāma jine kāraṃ, katvāna viphalo siyā.
said to me: ‘Rise up, son, you will obtain your heart’s desire. How indeed could one who has paid homage to a Victor be fruitless?’
đã phán với con rằng: ‘Này con, hãy đứng dậy! Con sẽ đạt được điều tâm nguyện ấy. Làm sao việc cúng dường đến bậc Toàn Thắng lại có thể trở thành vô quả được?’
178.
178.
178.
‘‘‘Satasahassito kappe, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
‘A hundred thousand aeons from now, one born in the Okkāka clan, Gotama by family name, will be the Teacher in the world.’
‘Một trăm ngàn kiếp nữa kể từ kiếp này, một vị Đạo Sư sẽ xuất hiện trên thế gian, sanh ra từ dòng dõi Okkāka, có danh xưng là Gotama.’
179.
179.
179.
‘‘‘Tassa dhammesu dāyādo, oraso dhammanimmito;
Udāyi nāma nāmena, hessati satthu sāvako’.
‘His heir in the Dhamma, his legitimate son created by the Dhamma, will be a disciple of the Teacher named Udāyī.’
‘Vị ấy sẽ là một vị đệ tử của bậc Đạo Sư, là người thừa tự trong Chánh pháp, là người con ruột do Chánh pháp hóa sanh, có tên là Udāyī.’
180.
180.
180.
‘‘Taṃ sutvā mudito hutvā, yāvajīvaṃ tadā jinaṃ;
Mettacitto paricariṃ, paccayehi vināyakaṃ.
Having heard that, I was delighted. For the rest of my life, with a mind of loving-kindness, I served that Victor, the Leader, with the requisites.
Sau khi nghe lời ấy, tôi đã hoan hỷ và với tâm từ, tôi đã phục vụ bậc Toàn Thắng, bậc Lãnh Đạo, bằng các vật dụng cho đến trọn đời.
181.
181.
181.
‘‘Tena kammavipākena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
By the result of that deed and by my intentions and aspirations, having abandoned my human body, I went to Tāvatiṃsa.
Nhờ quả của nghiệp ấy, và nhờ các tư tâm và lời nguyện, sau khi từ bỏ thân người, tôi đã đi đến cõi trời Tāvatiṃsa (Đao Lợi).
182.
182.
182.
‘‘Pacchime ca bhave dāni, ramme kapilavatthave;
Jāto mahāmaccakule, suddhodanamahīpate †.
And now, in my final existence, I was born in a great minister’s family in lovely Kapilavatthu, while Suddhodana was king.
Và bây giờ, trong kiếp sống cuối cùng này, tại thành Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ) khả ái, tôi đã sanh ra trong gia đình của một vị đại thần của vua Suddhodana.
183.
183.
183.
‘‘Tadā ajāyi siddhattho, ramme lumbinikānane;
Hitāya sabbalokassa, sukhāya ca narāsabho.
Then Siddhattha, that bull among men, was born in the lovely Lumbinī grove, for the welfare and happiness of the entire world.
Khi ấy, bậc Nhân Ngưu (bậc cao cả trong loài người) là Siddhattha (Tất-đạt-đa) đã đản sanh tại khu vườn Lumbinī (Lâm-tỳ-ni) khả ái, vì lợi ích và hạnh phúc cho toàn thể thế gian.
184.
184.
184.
‘‘Tadaheva ahaṃ jāto, saha teneva vaḍḍhito;
Piyo sahāyo dayito, viyatto nītikovido.
I was born on that very same day and grew up together with him. I was his dear and beloved companion, accomplished and skilled in policy.
Tôi đã sanh ra vào chính ngày ấy, và đã lớn lên cùng với ngài. Tôi là người bạn thân thiết và được yêu mến, là người thông minh và am tường về chánh trị.
185.
185.
185.
‘‘Ekūnatiṃso vayasā, nikkhamitvā agārato †;
Chabbassaṃ vītināmetvā, āsi buddho vināyako.
At the age of twenty-nine, having gone forth from the home, and after spending six years, the Leader became the Buddha.
Vào năm hai mươi chín tuổi, ngài đã từ bỏ gia đình ra đi; sau khi trải qua sáu năm, bậc Lãnh Đạo đã trở thành bậc Giác Ngộ.
186.
186.
186.
‘‘Jetvā sasenakaṃ māraṃ, khepayitvāna āsave;
Bhavaṇṇavaṃ taritvāna, buddho āsi sadevake.
Having conquered Māra with his army and destroyed the taints, having crossed the ocean of existence, he became the Buddha in the world with its devas.
Sau khi chiến thắng Ma vương cùng với quân đội, sau khi đoạn tận các lậu hoặc, sau khi vượt qua biển cả của sự hiện hữu, Ngài đã trở thành bậc Giác Ngộ trong thế giới cùng với chư Thiên.
187.
187.
187.
‘‘Isivhayaṃ gamitvāna †, vinetvā pañcavaggiye;
Tato vinesi bhagavā, gantvā gantvā tahiṃ tahiṃ.
Having gone to Isipatana and trained the group of five monks, the Blessed One then trained others, traveling from place to place.
Sau khi đi đến nơi gọi là Isipatana và giáo hóa nhóm năm vị, sau đó đức Thế Tôn đã đi đến nhiều nơi khác nhau để giáo hóa.
188.
188.
188.
‘‘Veneyye vinayanto so, saṅgaṇhanto sadevakaṃ;
Upecca magadhe giriṃ †, viharittha tadā jino.
Training those who could be trained, gathering together the world with its devas, the Victor approached the mountain in Magadha and dwelt there at that time.
Ngài đã giáo hóa những người có thể được giáo hóa, và đã nhiếp phục thế giới cùng với chư Thiên. Khi ấy, bậc Toàn Thắng đã đi đến ngọn núi ở xứ Magadha (Ma-kiệt-đà) và trú ngụ tại đó.
189.
189.
189.
‘‘Tadā suddhodanenāhaṃ, bhūmipālena pesito;
Gantvā disvā dasabalaṃ, pabbajitvārahā ahuṃ.
Then I was sent by Suddhodana, the protector of the land. Having gone and seen the One with Ten Powers, I went forth and became an arahant.
Khi ấy, tôi được vua Suddhodana phái đi; sau khi đi và diện kiến bậc Thập Lực, tôi đã xuất gia và trở thành một vị A-la-hán.
190.
190.
190.
‘‘Tadā mahesiṃ yācitvā, pāpayiṃ kapilavhayaṃ;
Tato purāhaṃ gantvāna, pasādesiṃ mahākulaṃ.
Then, having invited the Great Seer, I had him come to Kapilavatthu. Going on ahead of him, I inspired confidence in the great clan.
Khi ấy, sau khi thỉnh cầu bậc Đại Thánh, tôi đã đưa Ngài đến thành Kapilavatthu. Sau đó, tôi đã đi trước và làm cho dòng tộc vĩ đại phát sanh tín tâm.
191.
191.
191.
‘‘Jino tasmiṃ guṇe tuṭṭho, maṃ mahāparisāya so †;
Kulappasādakānaggaṃ, paññāpesi vināyako.
Pleased with that quality of mine, the Victor, the Leader, declared me in the great assembly to be the foremost among those who inspire confidence in families.
Bậc Toàn Thắng, bậc Lãnh Đạo, hài lòng với đức hạnh ấy của tôi, đã tuyên bố giữa đại chúng rằng tôi là người đứng đầu trong số những người làm cho gia tộc phát sanh tín tâm.
192.
192.
192.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burnt up… I dwell taintless.
Các phiền não của tôi đã được đốt cháy… (vân vân)… tôi sống không còn lậu hoặc.
193.
193.
193.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Welcome indeed was my coming… the Buddha’s teaching has been done.
Thật là một sự khéo đến của tôi… (vân vân)… giáo pháp của Đức Phật đã được thực hành.
194.
194.
194.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the Buddha’s teaching has been done.
Bốn Tuệ phân tích… (vân vân)… giáo pháp của Đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā kāḷudāyithero imā gāthāyo
Thus indeed the Venerable Elder Kāḷudāyī spoke these verses.
Quả thật, trưởng lão khả kính Kāḷudāyi đã nói những câu kệ này như vậy.
Abhāsitthāti.
He recited these verses.
Đã nói lên như thế.
Kāḷudāyittherassāpadānaṃ chaṭṭhaṃ.
The Story of the Elder Kāḷudāyī, the sixth.
Thiên sử về trưởng lão Kāḷudāyī là phần thứ sáu.