Bản dịch
THA -ap546 — Ký Sự về Trưởng Lão Vaṅgīsa
Vaṅgīsattheraapadāna
BJT 6120Trước đây một trăm ngàn kiếp, vị Lãnh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc Hữu Nhãn về tất cả các pháp đã hiện khởi.
BJT 6121Cũng giống như sóng ở biển cả, tợ như các vì sao ở bầu trời, tương tợ như thế lời giảng dạy của Ngài được tô điểm bằng các vị A-la-hán.
BJT 6122Ngài đứng đầu chư Thiên, các hàng A-tu-la, các loài rồng, và nhân loại. Ngài là bậc tối thượng ở giữa dân chúng có đông đảo các vị Sa-môn và Bà-la-môn.
BJT 6123Đấng Chiến Thắng, vị đã đi đến tận cùng của thế giới, đang chiếu sáng thế gian bằng các tia sáng. Ngài đang đánh thức những đóa hoa sen xứng đáng được dẫn dắt bằng ngôn từ.
BJT 6124Bậc Tối Thượng Nhân được hội đủ bốn pháp tự tín, có sự sợ hãi và quyến luyến đã được dứt bỏ, đã đạt đến sự bình an, có lòng tự tín.
BJT 6125Đấng Cao Cả của thế gian chứng tỏ vị thế hùng tráng quý cao và toàn bộ nền tảng của bậc đã được giác ngộ, không có tự trách cứ về bất cứ điều gì.
BJT 6126Trong khi Ngài là bậc như thế ấy đang rống lên tiếng rống không chút hãi sợ của loài sư tử, không có người nào phản bác lại dầu là Thiên nhân, hoặc loài người, hay là đấng Phạm Thiên.
BJT 6127Trong khi thuyết giảng Giáo Pháp quý cao, trong khi giúp cho (nhân loại) luôn cả chư Thiên vượt qua, bậc tự tín ở nơi các hội chúng (đã) chuyển vận bánh xe Chánh Pháp.
BJT 6128Sau khi tán dương vị Thinh Văn đứng đầu trong số các vị có tài biện giải được công nhận là tốt lành về nhiều đức hạnh, Ngài đã thiết lập vị ấy vào vị thế tối thắng.
BJT 6129Khi ấy, tôi đã được sanh ra ở thành Haṁsavatī, là người Bà-la-môn được công nhận là tốt lành, là người hiểu biết về tất cả các bộ Vệ-đà, là vị chúa tể của việc tranh cãi, là bậc có sự tiêu diệt người đối đáp.
BJT 6130Tôi đã đi đến gặp đấng Đại Hùng ấy và đã lắng nghe về sự thuyết giảng Giáo Pháp ấy. Được thỏa thích với đức hạnh của vị Thinh Văn, tôi đã đạt được niềm phỉ lạc cao quý.
BJT 6131Tôi đã thỉnh mời đấng Thiện Thệ là niềm vui thích của thế gian cùng với Hội Chúng. Sau khi cung cấp vật thực trong bảy ngày, khi ấy tôi đã khoác lên (các vị) với những tấm vải.
BJT 6132Tôi đã quỳ xuống đê đầu ở bàn chân (Ngài). Được sự cho phép, tôi đã chắp tay lại, đứng ở một bên, mừng rỡ, tôi đã ngợi ca đấng Chiến Thắng tối thượng rằng:
BJT 6133“Bạch đấng tranh luận (dũng mãnh) tợ loài beo, con kính lễ Ngài! Bạch đấng Tối Thượng Nhân, con kính lễ Ngài! Bạch đấng Cao Cả của tất cả thế gian, con kính lễ Ngài! Bạch đấng làm cho không còn hãi sợ, con kính lễ Ngài!
BJT 6134Bạch đấng khuấy động Ma Vương, con kính lễ Ngài! Bạch đấng có sự tiêu diệt tà kiến, con kính lễ Ngài! Bạch đấng ban cho sự thanh tịnh và an lạc, con kính lễ Ngài! Bạch đấng tạo sự nương nhờ, con kính lễ Ngài!
BJT 6135Ngài đang là đấng Bảo Hộ cho những ai không người bảo hộ, là người ban phát sự không sợ hãi cho những ai bị hãi sợ, là vùng đất nghỉ ngơi của chúng sanh, là nơi nương nhờ cho những ai tầm cầu sự nương tựa.”
BJT 6136Sau khi ngợi ca đấng Toàn Giác có đức hạnh lớn lao như thế, v.v… Tôi đã nói rằng: “Con sẽ đạt đến số phận của vị tỳ khưu tranh luận dũng cảm.”
BJT 61376138. Khi ấy, đức Thế Tôn, bậc có tài biện giải không giới hạn đã nói rằng: “Được tịnh tín, người này đã tự tay mình chăm lo bữa ăn đến đức Phật cùng với (các) Thinh Văn trong bảy ngày và đã ngợi ca đức hạnh của Ta. Người này ước nguyện vị thế của vị tỳ khưu là người tranh luận dũng cảm.
BJT 6139Trong thời vị lai xa xăm người này sẽ đạt được điều ước nguyện ấy sau khi đã thọ hưởng sự thành tựu ở cõi Trời và cõi người không phải là ít.
BJT 6140Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 6141(Người này) sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, có tên là Vaṅgīsa.”
BJT 6142Nghe được điều ấy, tôi đã trở nên hoan hỷ. Khi ấy, với tâm từ ái tôi đã chăm sóc đấng Chiến Thắng, đức Như Lai bằng các vật dụng cho đến hết cuộc đời.
BJT 6143Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đẩu Suất.
BJT 6144Và trong kiếp sống cuối cùng hiện nay, tôi đã được tái sanh vào gia đình du sĩ ngoại đạo. Và đến lúc tôi đã được bảy tuổi tính từ lúc sanh.
BJT 6145Tôi đã trở thành người hiểu biết tất cả các bộ Vệ-đà, được tự tin trong nghệ thuật về tranh luận, là vị chúa tể của các nhà tranh luận, có sự thuyết giảng hay, đánh bại các nhà tranh luận khác.
BJT 6146Vaṅgīsa nghĩa là “Được sanh ra ở xứ Vaṅga” hoặc là “Vị chúa tể về lời nói.” Được đồng tình bởi thế gian, tên của tôi đã là Vaṅgīsa.
BJT 6147Vào lúc tôi đạt đến sự hiểu biết, tôi đã đứng đầu trong lớp trẻ. Khi ấy tôi đã nhìn thấy vị Sāriputta ở thành Rājagaha đáng yêu.
(Tụng phẩm thứ hai mươi lăm).
BJT 6148Trong lúc đi đó đây để khất thực, vị ấy tay ôm bình bát, khéo thu thúc, mắt không láo liên, có lời nói cân nhắc, có tầm nhìn xuống một cán cày.
BJT 6149Sau khi nhìn thấy vị ấy, tôi đã trở nên sửng sốt và đã tức thời nói lên câu kệ văn vẻ thuận theo tâm ý được sáng tác tại chỗ.
BJT 6150Vị ấy đã nói với tôi về đấng Đạo Sư, bậc Toàn Giác, đấng Lãnh Đạo của thế gian. Khi ấy, bậc anh hùng ấy đã nói cho tôi câu trả lời.
BJT 6151Vị ấy đã nói về lời giảng dạy có sự xa lìa tham ái, khó hiểu thấu, cao thượng. Với các sự hiểu biết rõ ràng, tôi đã trở nên hoan hỷ với vị như thế ấy. Tôi đã quỳ xuống đê đầu ở bàn chân (vị Sāriputta) và đã nói rằng: “Xin ngài hãy cho tôi xuất gia.”
BJT 6152Do đó, bậc đại trí tuệ ấy đã đưa tôi đến gặp đức Phật tối thượng. Tôi đã quỳ xuống đê đầu ở bàn chân (Ngài) rồi đã ngồi xuống gần bên bậc Đạo Sư.
BJT 6153Bậc Tối Thượng trong số những người tranh luận đã nói với tôi rằng: “Này Vaṅgīsa, ngươi biết được điều gì, có tài nghệ gì?” Và tôi đã nói với Ngài rằng: “Con có biết.”
BJT 6154“Với tài nghệ đặc biệt của ngươi, nếu ngươi có khả năng thì hãy cho biết về cái sọ người đã chết bị quăng bỏ ở trong rừng cũng đã mười hai năm.”
BJT 6155“Xin vâng.” Khi tôi đồng ý, Ngài đã chỉ cho thấy ba cái sọ người. Tôi đã cho biết rằng đã đạt đến địa ngục, loài người, và cõi trời.
BJT 6156Khi ấy, đấng Lãnh đão đã chỉ cho thấy cái sọ của đức Phật Độc Giác. Do đó, tôi đã bị thất bại và tôi đã cầu xin sự xuất gia.
BJT 6157Sau khi xuất gia, tôi ngợi ca đức Thiện Thệ ở nơi này nơi khác. Do đó, các vị tỳ khưu ở đây than phiền về tôi là “Nhà sáng tác thơ ca.”
BJT 6158Do đó, nhằm mục đích tìm hiểu, đức Phật bậc Hướng Đạo đã nói với tôi rằng: “Những câu kệ này đã được suy nghĩ (trước đây) hay là (vừa mới) nảy sanh theo sự việc?”
BJT 6159“Bạch đấng Đại Hùng, con không phải là nhà sáng tác thơ ca, chúng (vừa mới) nảy sanh theo sự việc.” “Này Vaṅgīsa, như thế thì người hãy ngợi ca về Ta theo sự việc.”
BJT 6160Khi ấy, tôi đã ngợi ca đấng Anh Hùng, bậc Ẩn Sĩ tối thượng với những câu kệ theo sự việc. Khi ấy, được hoan hỷ về tôi, đấng Chiến Thắng đã thiết lập tôi vào vị thế đứng đầu.
BJT 6161Do tâm sáng láng, tôi đã vượt trội các vị tốt lành khác. Do điều ấy, tôi đã bị tác động, tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
BJT 6162“Không tìm thấy bất cứ vị nào khác là vị đứng đầu trong số các vị có tài biện giải như là vị tỳ khưu Vaṅgīsa này. Này các tỳ khưu, các ngươi hãy ghi nhận như thế.”
BJT 6163Việc làm đã được thực hiện ở một trăm ngàn kiếp đã cho tôi nhìn thấy quả báu tại đây. Như là tốc độ của mũi tên khéo được bắn ra, tôi đã thiêu đốt các phiền não (của tôi).
BJT 6164Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 6165Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 6166Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Vaṅgīsa đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Vaṅgīsa là phần thứ tư.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
4. Vaṅgīsattheraapadānaṃ
4. The Apadāna of the Elder Vaṅgīsa
4. Thiên truyện về trưởng lão Vaṅgīsa
96.
96.
96.
‘‘Padumuttaro nāma jino, sabbadhammesu cakkhumā;
Ito satasahassamhi, kappe uppajji nāyako.
The Conqueror named Padumuttara, the one with vision regarding all dhammas, the Leader, arose in an aeon one hundred thousand aeons from this one.
“Cách đây một trăm ngàn kiếp, bậc Chiến Thắng tên là Padumuttara, bậc Lãnh Đạo, người có mắt trong tất cả các pháp, đã xuất hiện.
97.
97.
97.
‘‘Yathāpi sāgare ūmi, gagane viya tārakā;
Evaṃ pāvacanaṃ tassa, arahantehi cittitaṃ.
Just as the waves in the ocean are variegated, and like the stars in the sky, so too was his dispensation made variegated by the Arahants.
“Như sóng ở đại dương, như các vì sao trên bầu trời, cũng vậy, giáo pháp của Ngài được làm cho rực rỡ bởi các vị A-la-hán.
98.
98.
98.
‘‘Sadevāsuranāgehi, manujehi purakkhato;
Samaṇabrāhmaṇākiṇṇe, janamajjhe jinuttamo.
The supreme Conqueror, surrounded by devas, asuras, nāgas, and humans, stood in the midst of the people, who were teeming with ascetics and brahmins.
“Bậc Chiến Thắng Tối Thượng, được vây quanh bởi chư thiên, a-tu-la, rồng, và loài người, ở giữa đám đông đầy dẫy sa-môn và bà-la-môn.
99.
99.
99.
‘‘Pabhāhi anurañjanto, loke † lokantagū jino;
Vacanena vibodhento, veneyyapadumāni so.
That Conqueror, who has gone to the world's end, suffusing the world with his radiances, awakens with his speech the lotuses that are the beings to be trained.
“Bậc Chiến Thắng ấy, người đã đi đến tận cùng thế gian, làm cho thế gian hoan hỷ với ánh quang minh, dùng lời nói làm cho những đóa sen chúng sinh cần được giáo hóa nở rộ.
100.
100.
100.
‘‘Vesārajjehi sampanno, catūhi purisuttamo;
Pahīnabhayasārajjo, khemappatto visārado.
The supreme person, endowed with the four grounds of confidence, having abandoned fear and timidity, has reached the state of security and is bold.
“Bậc Tối Thượng Nhân, thành tựu bốn Vô Sở Úy, đã từ bỏ sợ hãi và rụt rè, đạt đến sự an ổn, là bậc dũng mãnh.
101.
101.
101.
‘‘Āsabhaṃ pavaraṃ ṭhānaṃ, buddhabhūmiñca kevalaṃ;
Paṭijānāti lokaggo, natthi sañcodako kvaci.
The chief of the world professes the excellent, foremost state and the entire ground of a Buddha; there is no one anywhere to reprove him.
“Bậc Tối Thượng trong thế gian tuyên bố địa vị cao quý, địa vị Ngưu vương, và toàn bộ Phật địa. Không có ai ở bất cứ đâu có thể khiển trách Ngài.
102.
102.
102.
‘‘Sīhanādamasambhītaṃ, nadato tassa tādino;
Devo naro vā brahmā vā, paṭivattā na vijjati.
When that Such One roars the fearless lion's roar, there is no deva, human, or brahmā who can talk back.
“Khi bậc Như Thị ấy rống lên tiếng rống sư tử không sợ hãi, không có ai, dù là trời, người, hay Phạm thiên, có thể phản bác lại.
103.
103.
103.
‘‘Desento pavaraṃ dhammaṃ, santārento sadevakaṃ;
Dhammacakkaṃ pavatteti, parisāsu visārado.
Teaching the excellent Dhamma, helping the world with its devas to cross over, the confident one sets the Wheel of Dhamma in motion in the assemblies.
“Bậc dũng mãnh giữa các hội chúng, Ngài chuyển bánh xe Pháp, thuyết giảng diệu pháp, giúp cho thế giới cùng với chư thiên vượt qua.
104.
104.
104.
‘‘Paṭibhānavataṃ aggaṃ, sāvakaṃ sādhusammataṃ;
Guṇaṃ bahuṃ pakittetvā, etadagge ṭhapesi taṃ.
Having extolled his many virtues, he established in the foremost rank that disciple who was esteemed by the good and was the foremost among those with ready wit.
“Sau khi tán dương nhiều phẩm hạnh của vị đệ tử được xem là thiện lành, tối thượng trong số những người có tài biện luận, Ngài đã đặt vị ấy vào vị trí tối thượng.
105.
105.
105.
‘‘Tadāhaṃ haṃsavatiyaṃ, brāhmaṇo sādhusammato;
Sabbavedavidū jāto, vāgīso vādisūdano.
At that time, in Haṃsavatī, I was a brahmin esteemed by the good, having become a knower of all the Vedas, a master of speech, a vanquisher of debaters.
“Khi ấy, tại thành Haṃsavatī, tôi là một bà-la-môn được xem là thiện lành, thông thạo tất cả các bộ Vệ-đà, là bậc thầy ngôn ngữ, là người phá tan các luận thuyết.
106.
106.
106.
‘‘Upecca taṃ mahāvīraṃ, sutvāhaṃ dhammadesanaṃ;
Pītivaraṃ paṭilabhiṃ, sāvakassa guṇe rato.
Having approached that Great Hero and heard the Dhamma discourse, I obtained supreme joy, delighting in the virtues of a disciple.
“Sau khi đến gần bậc Đại Hùng ấy và nghe pháp thoại, tôi đã đạt được niềm hỷ lạc cao thượng, hoan hỷ trong các phẩm hạnh của vị đệ tử.
107.
107.
107.
‘‘Nimantetvāva sugataṃ, sasaṅghaṃ lokanandanaṃ;
Sattāhaṃ bhojayitvāhaṃ, dussehacchādayiṃ tadā.
Having invited the Sugata, the delight of the world, together with the Saṅgha, and having fed them for seven days, I then clothed them with fabrics.
“Sau khi thỉnh mời bậc Thiện Thệ, người làm hoan hỷ thế gian, cùng với Tăng chúng, tôi đã cúng dường thực phẩm trong bảy ngày, và khi ấy, tôi đã cúng dường y phục.
108.
108.
108.
‘‘Nipacca sirasā pāde, katokāso katañjalī;
Ekamantaṃ ṭhito haṭṭho, santhaviṃ jinamuttamaṃ.
Having bowed with my head to his feet, having been given leave, with hands folded in reverence, I stood to one side, joyful, and praised the supreme Conqueror.
“Đảnh lễ dưới chân Ngài bằng đầu, được cho phép, chắp tay lại, đứng một bên với lòng hoan hỷ, tôi đã tán dương bậc Chiến Thắng Tối Thượng.
109.
109.
109.
‘‘‘Namo te vādimaddana †, namo te isisattama †;
Namo te sabbalokagga, namo te abhayaṅkara.
Homage to you, O subduer of debaters! Homage to you, O seventh of the seers! Homage to you, O foremost in all the world! Homage to you, O maker of fearlessness!
“‘Kính lễ Ngài, bậc nhiếp phục các luận sư; kính lễ Ngài, bậc ẩn sĩ thứ bảy; kính lễ Ngài, bậc tối thượng trong toàn thể thế gian; kính lễ Ngài, bậc ban cho sự vô úy.
110.
110.
110.
‘‘‘Namo te māramathana †, namo te diṭṭhisūdana;
Namo te santisukhada, namo te saraṇaṅkara.
Homage to you, O crusher of Māra! Homage to you, O dispeller of views! Homage to you, O giver of peace and happiness! Homage to you, O maker of refuge!
“‘Kính lễ Ngài, bậc nhiếp phục Ma vương; kính lễ Ngài, bậc phá tan tà kiến; kính lễ Ngài, bậc ban cho an lạc tịch tịnh; kính lễ Ngài, bậc tạo ra nơi nương tựa.
111.
111.
111.
‘‘‘Anāthānaṃ bhavaṃ nātho, bhītānaṃ abhayappado;
Vissāmabhūmi † santānaṃ, saraṇaṃ saraṇesinaṃ’.
You, venerable sir, are the protector for the unprotected, the giver of fearlessness to the fearful, a resting place for the weary, a refuge for those seeking refuge.
“‘Ngài là nơi nương tựa cho những người không nơi nương tựa, là người ban cho sự vô úy cho những người sợ hãi, là nơi nghỉ ngơi cho những người mệt mỏi, là nơi quy y cho những người tìm cầu nơi quy y.’
112.
112.
112.
‘‘Evamādīhi sambuddhaṃ, santhavitvā mahāguṇaṃ;
Avocaṃ vādisūdassa †, gatiṃ pappomi bhikkhuno.
Having praised the Perfectly Enlightened One of great virtue with these and other such words, I said: ‘May I attain the state of the monk Vādisūda.’
“Sau khi tán dương bậc Chánh Đẳng Giác, người có những phẩm hạnh vĩ đại, bằng những lời như vậy, tôi đã nói: ‘Xin cho con đạt được cảnh giới của Tỳ khưu Vādisūda.’
113.
113.
113.
‘‘Tadā avoca bhagavā, anantapaṭibhānavā;
‘Yo so buddhaṃ abhojesi, sattāhaṃ sahasāvakaṃ.
Then the Blessed One, possessing infinite ready wit, spoke: ‘He who fed the Buddha, together with his disciples, for seven days,
“Khi ấy, Thế Tôn, người có trí tuệ biện tài vô hạn, đã nói: ‘Người nào đã cúng dường thực phẩm cho đức Phật cùng với các đệ tử trong bảy ngày,
114.
114.
114.
‘‘‘Guṇañca me pakittesi, pasanno sehi pāṇibhi;
Eso patthayate ṭhānaṃ, vādisūdassa bhikkhuno.
‘…and with a devoted mind proclaimed my virtues. This one aspires to the position of the monk Vādisūda.
“‘với lòng tịnh tín, bằng chính đôi tay của mình, và đã tán dương các phẩm hạnh của ta, người này mong muốn địa vị của Tỳ khưu Vādisūda.
115.
115.
115.
‘‘‘Anāgatamhi addhāne, lacchase taṃ manorathaṃ;
Devamānusasampattiṃ, anubhotvā anappakaṃ.
‘In a future time, having experienced the abundant fortune of devas and humans, you will obtain that wish of your heart.
“‘Trong tương lai, sau khi hưởng thụ không ít tài sản của chư thiên và loài người, ngươi sẽ đạt được điều mong muốn trong tâm ấy.’
116.
116.
116.
‘‘‘Satasahassito kappe, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
‘One hundred thousand aeons from now, a Teacher will arise in the world, born in the Okkāka clan, Gotama by name and by clan.
Cách đây một trăm ngàn kiếp, một vị sanh trong dòng dõi Okkāka, với danh hiệu là Gotama, bậc Đạo Sư sẽ xuất hiện ở thế gian.
117.
117.
117.
‘‘‘Tassa dhammesu dāyādo, oraso dhammanimmito;
Vaṅgīso nāma nāmena, hessati satthu sāvako’.
‘An heir to his Dhamma, a legitimate son fashioned by the Dhamma, he will become a disciple of the Teacher, Vaṅgīsa by name.’
Vị ấy sẽ có một người thừa tự Pháp, một người con đích thực do Pháp hóa sanh, với danh hiệu là Vaṅgīsa, sẽ là một vị Thinh văn của bậc Đạo Sư.
118.
118.
118.
‘‘Taṃ sutvā mudito hutvā, yāvajīvaṃ tadā jinaṃ;
Paccayehi upaṭṭhāsiṃ, mettacitto tathāgataṃ.
Having heard that, becoming joyful, for as long as life lasted I then attended upon that Conqueror, the Tathāgata, with requisites and a mind of loving-kindness.
Khi ấy, sau khi nghe lời ấy, con đã hoan hỷ, với tâm từ, con đã hộ độ bậc Như Lai, bậc Chiến Thắng bằng các vật dụng cho đến trọn đời.
119.
119.
119.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tusitaṃ † agamāsahaṃ.
By that well-done kamma, and by my volitions and aspirations, having abandoned the human body, I went to the Tusita heaven.
Do nghiệp lành đã tạo ấy, và do các tác ý cùng nguyện vọng, sau khi từ bỏ thân người, con đã đi đến cõi trời Tusita (Đâu Suất).
120.
120.
120.
‘‘Pacchime ca bhave dāni, jāto vippakule † ahaṃ;
Paccājāto † yadā āsiṃ, jātiyā sattavassiko.
And now in this final existence, I was born in a brahmin clan. When I was seven years of age from birth,
Và nay, trong kiếp sống cuối cùng này, con đã sanh vào dòng dõi Bà-la-môn. Khi con được sanh ra, con đã được bảy tuổi tính từ lúc sanh.
121.
121.
121.
‘‘Sabbavedavidū jāto, vādasatthavisārado;
Vādissaro † cittakathī, paravādappamaddano.
I became one who knew all the Vedas, an expert in the science of debate, a master of disputation, an eloquent speaker, and a crusher of the views of others.
Con đã trở thành người thông hiểu tất cả các bộ Vệ-đà, thiện xảo trong luận điển tranh luận, bậc thầy về ngôn từ, người có tài ăn nói tuyệt diệu, người có thể đè bẹp các tà thuyết của người khác.
122.
122.
122.
‘‘Vaṅge jātoti vaṅgīso, vacane issaroti vā;
Vaṅgīso iti me nāmaṃ, abhavī lokasammataṃ.
‘Because I was born in the Vaṅga country,’ I was called Vaṅgīsa; or ‘because I was a master of speech,’ I was called Vaṅgīsa. Thus my name became esteemed by the world.
Vì sanh ở xứ Vaṅga nên gọi là Vaṅgīsa, hoặc vì là bậc thầy về ngôn từ nên gọi là Vaṅgīsa. Tên của con là Vaṅgīsa như vậy, đã được thế gian công nhận.
123.
123.
123.
‘‘Yadāhaṃ viññutaṃ patto, ṭhito paṭhamayobbane;
Tadā rājagahe ramme, sāriputtamahaddasaṃ †.
When I reached maturity and was established in the first stage of youth, at that time, in delightful Rājagaha, I saw Sāriputta.
Khi con đã đạt đến sự hiểu biết, đang trong tuổi thanh xuân đầu tiên, khi ấy tại thành Rājagaha (Vương Xá) khả ái, con đã được thấy ngài Sāriputta (Xá-lợi-phất).
Pañcavīsatimaṃ bhāṇavāraṃ.
The Twenty-Fifth Recitation Section.
Phẩm tụng thứ hai mươi lăm.
124.
124.
124.
‘‘Piṇḍāya vicarantaṃ taṃ, pattapāṇiṃ susaṃvutaṃ;
Alolakkhiṃ mitabhāṇiṃ, yugamattaṃ nidakkhitaṃ †.
I saw him wandering for almsfood, bowl in hand, well-restrained, with non-roving eyes, speaking moderately, looking a yoke’s length ahead.
Con đã thấy ngài đang đi khất thực, tay cầm bát, khéo thu thúc, mắt không láo liên, nói năng có chừng mực, nhìn trong tầm một ách cày.
125.
125.
125.
‘‘Taṃ disvā vimhito hutvā, avocaṃ mamanucchavaṃ †;
Kaṇikāraṃva nicitaṃ †, cittaṃ gāthāpadaṃ ahaṃ.
Having seen him and becoming amazed, I uttered a beautiful and fitting line of verse, composed like a Kaṇikāra flower.
Thấy ngài, con đã kinh ngạc, và con đã thốt lên một câu kệ tuyệt diệu, thích hợp với con, tựa như một đóa hoa Kaṇikāra được kết khéo.
126.
126.
126.
‘‘Ācikkhi so me satthāraṃ, sambuddhaṃ lokanāyakaṃ;
Tadā so paṇḍito vīro, uttariṃ † samavoca me.
He told me of the Teacher, the Perfectly Enlightened One, the leader of the world. Then that wise hero spoke further to me.
Ngài đã chỉ cho con về bậc Đạo Sư, bậc Chánh Đẳng Giác, vị Lãnh Đạo thế gian. Khi ấy, bậc hiền trí, bậc anh hùng ấy đã nói với con những lời cao thượng hơn.
127.
127.
127.
‘‘Virāgasaṃhitaṃ vākyaṃ, katvā duddasamuttamaṃ;
Vicittapaṭibhānehi, tosito tena tādinā.
He uttered the supreme word connected with dispassion, which is hard to see; I was pleased by that Such a One of varied and ready wit.
Sau khi nói lên lời nói liên quan đến sự ly tham, khó thấy, tối thượng, con đã được làm cho hoan hỷ bởi vị như vậy (tādinā) với trí tuệ biện tài đa dạng.
128.
128.
128.
‘‘Nipacca sirasā pāde, ‘pabbājehī’ti maṃ bravi;
Tato maṃ sa mahāpañño, buddhaseṭṭhamupānayi.
Bowing with my head to his feet, I said: ‘Ordain me!’ Then that one of great wisdom led me to the supreme Buddha.
Con đã cúi đầu đảnh lễ dưới chân ngài và thưa rằng: 'Xin hãy cho con xuất gia.' Sau đó, bậc đại trí tuệ ấy đã dẫn con đến với bậc Tối Thắng giữa các vị Phật.
129.
129.
129.
‘‘Nipacca sirasā pāde, nisīdiṃ satthu santike;
Mamāha vadataṃ seṭṭho, kacci vaṅgīsa jānāsi †.
Having bowed with my head to his feet, I sat down near the Teacher. The best of speakers said to me: ‘Vaṅgīsa, do you know any skill?’
Con đã cúi đầu đảnh lễ dưới chân Ngài và ngồi xuống gần bậc Đạo Sư. Bậc Tối Thắng giữa những người thuyết giảng đã hỏi con: 'Này Vaṅgīsa, ngươi có biết nghề gì không?'
130.
130.
130.
‘‘Kiñci sippanti tassāhaṃ, ‘jānāmī’ti ca abraviṃ;
Matasīsaṃ vanacchuddhaṃ, api bārasavassikaṃ;
To his question about any skill, I replied, ‘I know.’ I know of a dead person's skull, discarded in the forest, even one twelve years old;
Con đã thưa với Ngài rằng: 'Con có biết.' (Con biết về) một cái sọ người chết, bị vứt bỏ trong rừng, dù đã mười hai năm;
Tava vijjāvisesena, sace sakkosi vācaya †.
The Buddha said: ‘By your special knowledge, if you are able, declare it.’
(Đức Phật phán:) 'Với kiến thức đặc biệt của ngươi, nếu có thể, hãy nói ra.'
131.
131.
131.
‘‘Āmoti me paṭiññāte, tīṇi sīsāni dassayi;
Nirayanaradevesu, upapanne avācayiṃ.
When I agreed, saying ‘Yes,’ he showed me three skulls. I declared that they had been reborn in hell, among humans, and among the devas.
Khi con đã vâng lời, Ngài đã đưa ra ba cái sọ. Con đã nói rõ về những người đã tái sanh trong địa ngục, cõi người, và cõi trời.
132.
132.
132.
‘‘Tadā khīṇāsavasseva †, sīsaṃ dassesi nāyako;
Tatohaṃ vihatārabbho, pabbajjaṃ samayācisaṃ.
Then the Leader showed me the skull of one whose taints were destroyed. At that, my effort thwarted, I requested the going forth.
Khi ấy, bậc Lãnh Đạo đã đưa ra sọ của một vị đã tận diệt các lậu hoặc. Lúc đó, con đã thất bại trong nỗ lực của mình và đã xin được xuất gia.
133.
133.
133.
‘‘Pabbajitvāna sugataṃ, santhavāmi tahiṃ tahiṃ;
Tato maṃ kabbavittosi †, ujjhāyantiha bhikkhavo.
Having gone forth, I praised the Sugata here and there. Because of this, the monks here complained about me, saying, ‘You are one who delights in poetry!’
Sau khi xuất gia, con đã tán thán bậc Thiện Thệ ở nơi này nơi kia. Do đó, các vị Tỳ-khưu ở đây đã khiển trách con rằng: 'Vị này ham thích thi kệ.'
134.
134.
134.
‘‘Tato vīmaṃsanatthaṃ me, āha buddho vināyako;
Takkikā panimā gāthā, ṭhānaso paṭibhanti taṃ.
Then, in order to test me, the Buddha, the Guide, said: ‘Are these verses thought out, or do they occur to you spontaneously according to the occasion?’
Khi ấy, để thử con, Đức Phật, bậc Điều Ngự, đã phán hỏi: 'Những câu kệ này là do ngươi suy nghĩ ra, hay chúng tự khởi lên trong trí ngươi một cách tức thời?'
135.
135.
135.
‘‘Na kabbavittohaṃ vīra, ṭhānaso paṭibhanti maṃ;
Tena hi dāni vaṅgīsa, ṭhānaso santhavāhi maṃ.
‘I am not one who delights in poetry, O Hero; they occur to me spontaneously.’ ‘Well then, Vaṅgīsa, praise me now spontaneously.’
(Con thưa:) 'Bạch đấng Anh Hùng, con không ham thích thi kệ, chúng tự khởi lên trong trí con một cách tức thời.' (Ngài phán:) 'Vậy thì, này Vaṅgīsa, bây giờ hãy tán thán ta một cách tức thời.'
136.
136.
136.
‘‘Tadāhaṃ santhaviṃ vīraṃ, gāthāhi isisattamaṃ;
Ṭhānaso me tadā tuṭṭho, jino agge ṭhapesi maṃ.
Then I praised the Hero, the seventh of the seers, with verses spontaneously. Then the Conqueror, pleased with me, placed me in the foremost position.
Khi ấy, con đã tán thán bậc Anh Hùng, bậc Thánh Tối Thượng, bằng những câu kệ tức thời. Lúc đó, bậc Chiến Thắng đã hoan hỷ với con và đặt con vào vị trí đệ nhất.
137.
137.
137.
‘‘Paṭibhānena cittena, aññesamatimaññahaṃ;
Pesale tena saṃviggo, arahattamapāpuṇiṃ.
With varied and ready wit, I looked down on other virtuous monks. Because of that, being stirred with urgency, I attained arahantship.
Với trí tuệ biện tài tuyệt diệu, con đã xem thường các vị Tỳ-khưu hiền thiện khác. Do đó, con đã khởi tâm kinh cảm và đã chứng đắc quả A-la-hán.
138.
138.
138.
‘‘‘Paṭibhānavataṃ aggo, añño koci na vijjati;
Yathāyaṃ bhikkhu vaṅgīso, evaṃ dhāretha bhikkhavo’.
‘Monks, of those with ready wit, this monk Vaṅgīsa is the foremost. There is no other like him. Thus you should bear it in mind.’
(Đức Phật phán:) 'Này các Tỳ-khưu, trong số những người có trí tuệ biện tài, không có ai khác là bậc tối thượng như Tỳ-khưu Vaṅgīsa này. Các ngươi hãy ghi nhớ như vậy.'
139.
139.
139.
‘‘Satasahasse kataṃ kammaṃ, phalaṃ dassesi me idha;
Sumutto saravegova kilese jhāpayiṃ mama.
The kamma performed a hundred thousand aeons ago has shown its fruit for me here. Like the speed of a released arrow, I have burned up my defilements.
Nghiệp đã tạo từ một trăm ngàn kiếp trước đã cho quả đối với con ở đây. Tựa như tốc độ của mũi tên được bắn đi, con đã thiêu đốt các phiền não của mình.
140.
140.
140.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burned up… I dwell without taints.
Các phiền não của con đã được thiêu đốt... (v.v.)... con sống không còn lậu hoặc.
141.
141.
141.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Indeed, my coming was a good coming… the Buddha's teaching has been done.
Sự đến của con thật là khéo đến... (v.v.)... lời giáo huấn của Đức Phật đã được thực hành.
142.
142.
142.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the Buddha's teaching has been done.
Bốn Tuệ Phân Tích... (v.v.)... lời giáo huấn của Đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā vaṅgīso thero imā gāthāyo
Thus indeed the venerable elder Vaṅgīsa spoke these verses.
Như vậy, thật vậy, Trưởng lão Vaṅgīsa đã nói lên những câu kệ này.
Abhāsitthāti.
So he spoke.
đã nói như vậy.
Vaṅgīsattherassāpadānaṃ catutthaṃ.
The Biography of the Elder Vaṅgīsa, the Fourth.
Phần tiểu sử của trưởng lão Vaṅgīsa là phần thứ tư.