Bản dịch
THA -ap545 — Ký Sự về Trưởng Lão Sīvali
Sīvalittheraapadāna
BJT 6078Trước đây một trăm ngàn kiếp, vị Lãnh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc Hữu Nhãn về tất cả các pháp đã hiện khởi.
BJT 6079Giới của vị ấy là không thể đo lường, định được sánh với kim cương, trí tuệ cao quý là không thể ước lượng, và sự giải thoát là không có tương đương.
BJT 6080Ở cuộc hội họp của loài người, chư Thiên, các loài rồng và các đấng Phạm Thiên, được đông đảo các vị Sa-môn và Bà-la-môn, bậc Lãnh Đạo đã thuyết giảng Giáo Pháp.
BJT 6081Được tự tin ở nơi các hội chúng, Ngài đã thiết lập vị Thinh Văn có lợi lộc nhiều, có phước báu rạng ngời vào vị thế tối thắng.
BJT 6082Khi ấy, tôi đã là vị Sát-đế-lỵ ở thành phố tên là Haṁsā. Tôi đã nghe được lời nói ấy của đấng Chiến Thắng (nói) về nhiều đức hạnh của vị Thinh Văn.
BJT 6083Tôi đã thỉnh mời và đã cung cấp vật thực đến Ngài cùng với các vị Thinh Văn trong bảy ngày. Sau khi cúng dường cuộc đại thí, tôi đã phát nguyện vị thế ấy.
BJT 6084Khi ấy, sau khi nhìn thấy tôi khom mình ở bàn chân, bậc Nhân Ngưu đấng Đại Hùng với âm điệu dịu dàng đã nói lời nói này.
BJT 6085Do đó, có ước muốn được nghe lời nói của đấng Chiến Thắng, đám đông người gồm có chư Thiên, A-tu-la, Càn-thát-bà, và các đấng Phạm Thiên có đại thần lực.
BJT 6086Luôn cả các vị Sa-môn và Bà-la-môn đã chắp tay lên lễ bái rằng: “Bạch đấng Siêu Nhân, xin kính lễ Ngài. Bạch đấng Tối Thượng Nhân, xin kính lễ Ngài.
BJT 6087Bạch đấng Đại Hiền Trí, cuộc đại thí đã được vị Sát-đế-lỵ dâng cúng đến Ngài trọn bảy ngày, xin Ngài hãy chú nguyện quả báu cho vị ấy, (chúng tôi) có ước muốn được nghe.”
BJT 60886089. Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Các ngươi hãy lắng nghe lời nói của Ta. Sự cúng dường đã khéo được thiết lập ở đức Phật vô lượng, ở Hội Chúng, ai là người thông báo rằng chính việc cúng dường ấy là có quả báu vô lượng? Và luôn cả người có của cải dồi dào này cũng phát nguyện vị thế tối thượng rằng:
BJT 6090‘Giống như vị tỳ khưu Sudassana là có lợi lộc trong số các vị có lợi lộc dồi dào, mong rằng ta cũng có thể được tương tợ như thế,’ (người này) sẽ đạt được điều ấy trong ngày vị lai.
BJT 6091Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 6092(Người này) sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, có tên là Sīvali.”
BJT 6093Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 6094Trước đây chín mươi mốt kiếp, đấng Lãnh Đạo Thế Gian Vipassī là vị có ánh mắt thu hút, vị thấy rõ tất cả các pháp đã hiện khởi.
BJT 6095Lúc bấy giờ, tôi đã bị bận rộn với việc buôn bán, là người được cảm tình và còn được mong mỏi nữa của một gia đình nọ ở tại thành Bandhumatī.
BJT 6096Khi ấy, có hội đoàn nọ đã thực hiện bữa ăn lớn lao vô cùng nổi tiếng đến bậc Đại Ần Sĩ Vipassī.
BJT 6097Và khi cuộc đại thí được hoàn tất, họ đã dâng cúng món bánh tổng hợp. Trong lúc tìm kiếm, người ta vẫn không nhìn thấy sữa đông tươi và luôn cả mật ong nữa.
BJT 6098Khi ấy, tôi đã cầm lấy sữa đông tươi ấy luôn cả mật ong rồi đã đi đến nhà của người chủ công việc. Trong lúc tìm kiếm vật ấy, họ đã nhìn thấy tôi.
BJT 6099Dầu họ đã xuất ra đến một ngàn nhưng vẫn không nhận được hai món ấy. Do đó, tôi đã suy nghĩ như vầy: “Việc này sẽ không là chuyện nhỏ.
BJT 6100Giống như tất cả những người này tôn trọng đức Như Lai, thì ta cũng sẽ thể hiện sự tôn kính ở nơi đấng Lãnh Đạo Thế Gian cùng với Hội Chúng.”
BJT 6101Khi ấy, sau khi suy nghĩ như thế, tôi đã nghiền nát sữa đông và mật ong chung lại rồi đã dâng cúng đến đấng Lãnh Đạo Thế Gian cùng với Hội Chúng.
BJT 6102Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 6103Lần khác nữa, tôi đã trở thành vị vua có danh vọng lớn lao ở thành Bārāṇasī. Khi ấy, bị bực mình đối với quân thù, tôi đã cho thực hiện sự ngăn chận ở cổng thành.
BJT 6104Khi ấy, mọi người cùng với các quân lính đã bị ngăn cản và đã bị canh giữ bảy ngày. Sau đó, do kết quả của việc ấy, tôi đã thường xuyên bị rơi vào địa ngục.
BJT 6105Và trong kiếp sống cuối cùng hiện nay, tôi đã được sanh ra ở thành Koliya. Và mẹ của tôi là Suppavāsā, cha là Mahāli người xứ Licchavī.
BJT 6106Do nghiệp phước thiện khi là vị Sát-đế-lỵ và do tác động của việc ngăn chận cổng thành, tôi đã sống bảy năm trong bụng mẹ, chịu khổ đau.
BJT 6107Trong bảy ngày, tôi đã bị mê man ở cửa (sanh ra), gánh chịu sự khổ đau lớn lao. Mẹ của tôi đã bị vô cùng đớn đau như thế do việc bày tỏ sự đồng tình (về quyết định ngăn chận cửa thành trong bảy ngày).
BJT 6108Được đức Phật thương tưởng, tôi đã được sanh ra an toàn. Ngay vào ngày được hạ sanh, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình.
BJT 6109Thầy tế độ của tôi là vị Sāriputta và vị Moggallāna có đại thần lực. Trong khi đang xuống tóc, bậc đại trí đã chỉ dạy cho tôi.
BJT 6110Khi các sợi tóc đang được cạo, tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán. Chư Thiên, các loài rồng, và nhân loại đem lại cho tôi các vật dụng.
BJT 6111Việc tôi đã hoan hỷ cúng dường đến đấng Bảo Hộ Padumuttara và đấng Hướng Đạo Vipassī với các vật dụng một cách đặc biệt.
BJT 6112Do đó, với tính chất đặc biệt của các nghiệp ấy, tôi đạt được lợi lộc dồi dào và thượng hạng ở mọi nơi, ở rừng rú, ở làng mạc, ở sông nước, ở đất liền.
BJT 6113Vào lúc đấng Hướng Đạo ra đi nhằm mục đích thăm viếng vị Revata, đấng Lãnh Đạo cao cả của thế gian đã ra đi cùng với ba mươi ngàn vị tỳ khưu.
BJT 6114Khi ấy, bậc Đại Trí, đấng Đại Hùng, vị Lãnh Đạo Thế Gian cùng với Hội Chúng đã có các vật dụng được chư Thiên đem lại vì sự lợi ích cho tôi.
BJT 6115Được tôi phục vụ, đức Phật đã đi đến và thăm viếng Revata. Sau đó, Ngài đã đi đến Jetavana và đã thiết lập tôi vào vị thế tối thắng.
BJT 6116Bậc Đạo Sư, nguồn lợi ích của tất cả thế gian, đã tán dương tôi ở các hội chúng rằng: “Này các tỳ khưu, trong các đệ tử của Ta, Sivalī là vị đứng đầu trong số các vị có được lợi lộc.”
BJT 6117Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 6118Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 6119Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Sīvalī đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Sīvalī là phần thứ ba.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3. Sīvalittheraapadānaṃ
3. The Apadāna of the Elder Sīvali
3. Câu chuyện về Trưởng lão Sīvali
54.
54.
54.
‘‘Padumuttaro nāma jino, sabbadhammesu cakkhumā;
Ito satasahassamhi, kappe uppajji nāyako.
The Conqueror named Padumuttara, one with vision into all phenomena, the Leader, arose one hundred thousand aeons from this one.
“Đức Phật Toàn Giác hiệu là Padumuttara, bậc có tuệ nhãn trong tất cả các pháp, bậc Lãnh Đạo đã sanh khởi ở một trăm ngàn kiếp tính từ kiếp này.”
55.
55.
55.
‘‘Sīlaṃ tassa asaṅkheyyaṃ, samādhi vajirūpamo;
Asaṅkheyyaṃ ñāṇavaraṃ, vimutti ca anopamā.
His virtue is incalculable, his concentration is like a diamond; his supreme knowledge is incalculable, and his liberation is incomparable.
“Giới của vị ấy không thể đếm được, định giống như kim cương, trí tuệ tối thượng không thể đếm được, và sự giải thoát không thể so sánh.”
56.
56.
56.
‘‘Manujāmaranāgānaṃ, brahmānañca samāgame;
Samaṇabrāhmaṇākiṇṇe, dhammaṃ desesi nāyako.
In an assembly of humans, devas, nāgas, and brahmās, thronged with ascetics and brahmins, the Leader taught the Dhamma.
“Bậc Lãnh Đạo đã thuyết Pháp trong cuộc hội họp của người, chư thiên, và loài rồng, và của các Phạm thiên, nơi đầy dẫy Sa-môn và Bà-la-môn.”
57.
57.
57.
‘‘Sasāvakaṃ mahālābhiṃ, puññavantaṃ jutindharaṃ;
Ṭhapesi etadaggamhi, parisāsu visārado.
The one confident in assemblies established in the foremost position a disciple who was of great gain, meritorious, and radiant.
“Bậc vô úy trong các hội chúng đã đặt vị Thinh Văn của mình, người có nhiều tài lộc, có phước, mang ánh sáng, vào địa vị tối thượng.”
58.
58.
58.
‘‘Tadāhaṃ khattiyo āsiṃ, nagare haṃsasavhaye;
Sutvā jinassa taṃ vākyaṃ, sāvakassa guṇaṃ bahuṃ.
Then I was a khattiya in the city named Haṃsa; having heard that statement of the Conqueror about the many virtues of that disciple,
“Lúc bấy giờ, tôi là một vị Sát-đế-lỵ ở tại thành phố có tên là Haṃsa. Sau khi nghe lời nói ấy của Đức Phật Toàn Giác về nhiều đức hạnh của vị Thinh Văn.”
59.
59.
59.
‘‘Nimantayitvā sattāhaṃ, bhojayitvā sasāvakaṃ;
Mahādānaṃ daditvāna, taṃ ṭhānamabhipatthayiṃ.
having invited the Buddha with his disciples for seven days and fed them, and having given a great gift, I aspired to that position.
“Sau khi thỉnh mời trong bảy ngày, cúng dường vật thực cùng với các vị Thinh Văn, sau khi thực hiện việc bố thí vĩ đại, tôi đã ước nguyện địa vị ấy.”
60.
60.
60.
‘‘Tadā maṃ vinataṃ pāde, disvāna purisāsabho;
Sarena mahatā vīro †, idaṃ vacanamabravi.
Then, seeing me bowed at his feet, the bull among men, the hero, with a great voice spoke this utterance:
Lúc bấy giờ, bậc Anh Hùng, đấng Tối Thắng giữa loài người, sau khi nhìn thấy tôi đang cúi đầu dưới chân ngài, đã cất lên lời nói này bằng một giọng nói oai hùng:
61.
61.
61.
‘‘‘Tato jinassa vacanaṃ, sotukāmā mahājanā;
Devadānavagandhabbā, brahmāno ca mahiddhikā’.
Then, desiring to hear the Conqueror's word, were a great crowd, devas, dānavas, gandhabbas, and powerful brahmās.
‘Lúc ấy, đại chúng, các vị trời, dānavā, gandhabbā, và các vị Phạm thiên có đại thần lực, đều mong muốn được nghe lời dạy của đấng Chiến Thắng.
62.
62.
62.
‘‘Samaṇabrāhmaṇā ceva, namassiṃsu katañjalī;
‘Namo te purisājañña, namo te purisuttama.
Ascetics and brahmins too paid homage with raised hands in reverence: ‘Homage to you, O thoroughbred of men! Homage to you, O supreme among men!
Các vị Sa-môn và Bà-la-môn cũng chắp tay đảnh lễ: ‘Kính lễ ngài, bậc Thượng nhân! Kính lễ ngài, bậc Tối thắng trong loài người!
63.
63.
63.
‘‘‘Khattiyena mahādānaṃ, dinnaṃ sattāhikampi vo †;
Sotukāmā phalaṃ tassa, byākarohi mahāmune’.
‘A great gift was given to you for seven days by the king. We are desirous of hearing its fruit; declare it, O great sage!’
‘Vị vua đã dâng cúng đại thí đến các ngài trong suốt bảy ngày; chúng con mong muốn được nghe quả báu của việc ấy, xin bậc Đại Mâu-ni hãy tuyên thuyết.’
64.
64.
64.
‘‘Tato avoca bhagavā, ‘suṇātha mama bhāsitaṃ;
Appameyyamhi buddhamhi, sasaṅghamhi patiṭṭhitā †.
Then the Blessed One said: ‘Listen to my speech. The offering is established in the immeasurable Buddha, together with the Saṅgha.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn phán rằng: ‘Hãy lắng nghe lời ta nói đây: Sự cúng dường đã được thiết lập nơi đức Phật vô lượng, cùng với Tăng đoàn.
65.
65.
65.
‘‘‘Dakkhiṇā tāya † ko vattā, appameyyaphalā hi sā;
Api ce sa mahābhogo, ṭhānaṃ pattheti uttamaṃ.
‘Who can speak of the fruit of that offering? For it has immeasurable fruit. Moreover, this one of great wealth aspires to the supreme position.
‘Ai có thể nói hết được quả báu của sự cúng dường ấy, vì quả báu ấy là vô lượng? Hơn nữa, vị vua có đại phước báu ấy đã mong cầu một địa vị tối thượng.
66.
66.
66.
‘‘‘Lābhī vipulalābhānaṃ, yathā bhikkhu sudassano;
Tathāhampi bhaveyyanti, lacchase taṃ anāgate.
‘“Just as the bhikkhu Sudassana is a recipient of abundant gains, so too may I be”—since you aspire thus, you will obtain that in the future.
‘Như Tỳ-kheo Sudassana là người nhận được nhiều lợi lộc dồi dào, vị ấy đã phát nguyện: ‘Mong rằng con cũng được như vậy.’ Ngươi sẽ đạt được điều đó trong tương lai.
67.
67.
67.
‘‘‘Satasahassito kappe, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
‘A hundred thousand aeons from now, one born of the Okkāka clan, a Teacher named Gotama by clan name will be in the world.
‘Một trăm ngàn kiếp nữa kể từ kiếp này, một vị Đạo Sư sẽ xuất hiện trên thế gian, sanh trong dòng dõi Okkāka, mang họ là Gotama.
68.
68.
68.
‘‘‘Tassa dhammesu dāyādo, oraso dhammanimmito;
Sīvali nāma nāmena, hessati satthu sāvako’.
‘His heir in the Dhamma, his true-born son fashioned by the Dhamma, will be a disciple of the Teacher named Sīvali.’
‘Vị ấy sẽ là người thừa tự Pháp của đức Đạo Sư, là người con đích thực do Pháp hóa sanh, một vị thinh văn của Đạo Sư, có tên là Sīvali.’
69.
69.
69.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsūpago ahaṃ.
By that well-done kamma and by my volitions and aspirations, having abandoned the human body, I went to Tāvatiṃsa.
Nhờ vào nghiệp lành đã tạo tác ấy, cùng với những tâm tư và nguyện ước, sau khi từ bỏ thân người, tôi đã sanh lên cõi trời Ba Mươi Ba.
70.
70.
70.
‘‘Ekanavutito kappe, vipassī lokanāyako;
Uppajji cārudassano, sabbadhammavipassako.
Ninety-one aeons from this one, Vipassī, the world leader, arose—one of lovely appearance, one who sees all phenomena.
Cách đây chín mươi mốt kiếp, đức Vipassī, bậc Lãnh Đạo thế gian, đã xuất hiện, Ngài có dung mạo khả ái và là bậc thấy rõ tất cả các pháp.
71.
71.
71.
‘‘Tadāhaṃ bandhumatiyaṃ, kulassaññatarassa ca;
Dayito passito ceva, āsiṃ kammantavāvaṭo †.
At that time in Bandhumatī, I was the dear and favored one of a certain family, engaged in managing its affairs.
Lúc bấy giờ, tại thành Bandhumatī, tôi là người làm công siêng năng, được yêu mến và kính trọng trong một gia đình nọ.
72.
72.
72.
‘‘Tadā aññataro pūgo, vipassissa mahesino;
Parivesaṃ akārayi, mahantamativissutaṃ.
Then a certain group of supporters had a great and very famous serving of food prepared for the great seer Vipassī.
Khi ấy, một nhóm người đã tổ chức một buổi cúng dường phục vụ rất lớn lao và nổi tiếng đến đức Đại Ẩn Sĩ Vipassī.
73.
73.
73.
‘‘Niṭṭhite ca mahādāne, daduṃ khajjakasañhitaṃ;
Navaṃ dadhiṃ madhuñceva, vicinaṃ neva addasuṃ.
When the great offering was finished, they were to give food prepared with sweetmeats, but though they searched for fresh curd and fresh honey, they did not find any.
Khi buổi đại thí đã hoàn tất, họ muốn dâng cúng các món ăn cứng. Họ tìm kiếm sữa chua tươi và mật ong tươi nhưng không tìm thấy.
74.
74.
74.
‘‘Tadāhaṃ taṃ gahetvāna, navaṃ dadhiṃ madhumpi ca;
Kammassāmigharaṃ gacchiṃ, tamesantā mamaddasuṃ.
Then, having taken that fresh curd and fresh honey, I went to my employer's house. Those who were searching for it saw me.
Lúc ấy, tôi lấy sữa chua tươi và mật ong tươi ấy rồi đi đến nhà của người chủ. Những người đang tìm kiếm các vật phẩm ấy đã nhìn thấy tôi.
75.
75.
75.
‘‘Sahassamapi datvāna, nālabhiṃsu ca taṃ dvayaṃ;
Tatohaṃ evaṃ cintesiṃ, ‘netaṃ hessati orakaṃ.
Even having offered a thousand, they could not obtain those two things. Therefore, I thought thus: ‘This offering will not be an inferior one.’
Dù đã trả một ngàn (đồng tiền), họ vẫn không có được hai thứ ấy. Do đó, tôi đã suy nghĩ rằng: ‘Sự cúng dường này sẽ không thể tầm thường được.’
76.
76.
76.
‘‘‘Yathā ime janā sabbe, sakkaronti tathāgataṃ;
Ahampi kāraṃ kassāmi, sasaṅghe lokanāyake’.
‘Just as all these people honor the Tathāgata, I too will make an offering to the World-Leader, together with the Saṅgha.’
‘Như tất cả những người này đang tôn kính đức Như Lai, tôi cũng sẽ thực hiện sự cúng dường đến bậc Lãnh Đạo thế gian cùng với Tăng đoàn.’
77.
77.
77.
‘‘Tadāhamevaṃ cintetvā, dadhiṃ madhuñca ekato;
Madditvā lokanāthassa, sasaṅghassa adāsahaṃ.
Then, having thought thus, I mixed the curd and honey together and gave it to the World-Protector, together with the Saṅgha.
Khi ấy, sau khi suy nghĩ như vậy, tôi đã trộn sữa chua và mật ong lại với nhau rồi dâng cúng đến bậc Hộ Trì thế gian cùng với Tăng đoàn.
78.
78.
78.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
By that well-done kamma and by volition and aspirations, having abandoned the human body, I went to Tāvatiṃsa.
Nhờ vào nghiệp lành đã tạo tác ấy, cùng với những tâm tư và nguyện ước, sau khi từ bỏ thân người, tôi đã đi đến cõi trời Ba Mươi Ba.
79.
79.
79.
‘‘Punāhaṃ bārāṇasiyaṃ, rājā hutvā mahāyaso;
Sattukassa tadā duṭṭho, dvārarodhamakārayiṃ.
Again, having become a king of great fame in Bārāṇasī, at that time, being hostile toward an enemy, I caused the city gate to be blocked.
Một lần khác, tôi là một vị vua có danh tiếng lẫy lừng ở Bārāṇasī. Lúc bấy giờ, vì tức giận kẻ thù, tôi đã ra lệnh đóng cửa thành.
80.
80.
80.
‘‘Tadā tapassino ruddhā, ekāhaṃ rakkhitā ahuṃ;
Tato tassa vipākena, pāpatiṃ † nirayaṃ bhusaṃ.
At that time, ascetics were blocked and detained for one day. By the ripening of that kamma, I reached a terrible hell.
Khi ấy, các vị ẩn sĩ bị vây hãm và phải chịu khổ sở trong một ngày. Do quả báo của nghiệp ấy, tôi đã phải sa vào địa ngục đau khổ tột cùng.
81.
81.
81.
‘‘Pacchime ca bhave dāni, jātohaṃ koliye pure;
Suppavāsā ca me mātā, mahāli licchavī pitā.
And now in my final existence, I was born in the city of the Koliyas; Suppavāsā was my mother, and Mahāli the Licchavi was my father.
Và nay, trong kiếp sống cuối cùng này, tôi được sanh ra tại thành Koliya. Mẹ của tôi là Suppavāsā, và cha tôi là Mahāli thuộc dòng Licchavī.
82.
82.
82.
‘‘Khattiye puññakammena, dvārarodhassa vāhasā;
Satta vassāni nivasiṃ, mātukucchimhi dukkhito.
By meritorious kamma, I came to be among the Khattiyas. By the force of blocking the gate, I dwelt for seven years in my mother’s womb, afflicted with suffering.
Nhờ nghiệp phước, tôi được sanh vào dòng dõi Sát-đế-lỵ. Do năng lực của việc đóng cửa thành, tôi đã phải chịu khổ, nằm trong bụng mẹ suốt bảy năm.
83.
83.
83.
‘‘Sattāhaṃ dvāramūḷhohaṃ, mahādukkhasamappito;
Mātā me chandadānena, evaṃ āsi sudukkhitā.
For seven days I was obstructed at the passage of birth, afflicted with great suffering. Because of giving her consent to that act, my mother was likewise greatly afflicted with suffering.
Trong bảy ngày, tôi bị kẹt ở cửa sanh, phải chịu đựng nỗi khổ lớn lao. Mẹ tôi cũng phải chịu đựng sự đau đớn tột cùng như vậy, do bà đã đồng thuận (với việc đóng cửa thành).
84.
84.
84.
‘‘Suvatthitohaṃ nikkhanto, buddhena anukampito;
Nikkhantadivaseyeva, pabbajiṃ anagāriyaṃ.
Being shown compassion by the Buddha, I came forth in safety. On the very day I came forth, I went forth into the homeless life.
Được đức Phật thương tưởng, tôi đã sanh ra một cách an toàn. Ngay trong ngày sanh ra, tôi đã xuất gia, sống đời không nhà.
85.
85.
85.
‘‘Upajjhā sāriputto me, moggallāno mahiddhiko;
Kese oropayanto me, anusāsi mahāmati.
My preceptor was Sāriputta. Moggallāna, of great psychic power and great wisdom, instructed me while my hair was being brought down.
Thầy tế độ của tôi là ngài Sāriputta; còn ngài Moggallāna, bậc có đại thần lực, đại trí tuệ, đã giáo huấn tôi trong khi cạo tóc cho tôi.
86.
86.
86.
‘‘Kesesu chijjamānesu, arahattamapāpuṇiṃ;
Devā nāgā manussā ca, paccaye upanenti me.
While my hair was being cut, I attained Arahantship. Devas, nāgas, and humans bring requisites to me.
Trong khi tóc đang được cạo, tôi đã chứng đắc quả A-la-hán. Chư thiên, long vương và loài người đều mang vật dụng đến cúng dường cho tôi.
87.
87.
87.
‘‘Padumuttaranāthañca, vipassiñca vināyakaṃ;
Yaṃ pūjayiṃ pamudito, paccayehi visesato.
Because I joyfully honored the Protector Padumuttara and Vipassī the Leader with special requisites,
Bởi vì tôi đã hoan hỷ cúng dường một cách đặc biệt bằng các vật dụng đến đức Thế Tôn Padumuttara và đức Lãnh Đạo Vipassī.
88.
88.
88.
‘‘Tato tesaṃ visesena, kammānaṃ vipuluttamaṃ;
Lābhaṃ labhāmi sabbattha, vane gāme jale thale.
therefore, because of the excellence of those kammas, I receive abundant and supreme gain everywhere—in the forest, in the village, in the water, and on land.
Do đó, nhờ quả đặc biệt của những nghiệp ấy, tôi nhận được lợi lộc dồi dào và cao quý ở khắp mọi nơi, dù ở trong rừng, trong làng, trên nước hay trên cạn.
89.
89.
89.
‘‘Revataṃ dassanatthāya, yadā yāti vināyako;
Tiṃsabhikkhusahassehi, saha lokagganāyako.
When the Leader, the world's foremost guide, went to see Revata, he did so together with thirty thousand bhikkhus.
Khi bậc Lãnh Đạo, đấng Dẫn Dắt hàng đầu thế gian, cùng với ba mươi ngàn vị Tỳ-kheo đi đến để thăm viếng ngài Revata.
90.
90.
90.
‘‘Tadā devopaṇītehi, mamatthāya mahāmati;
Paccayehi mahāvīro, sasaṅgho lokanāyako.
Then, for my sake, the great hero, the world-leader of great wisdom, together with his Saṅgha, was attended by me with requisites brought by the devas.
“Khi ấy, vì lợi ích của tôi, bậc Đại Trí, bậc Đại Hùng, bậc Lãnh Đạo Thế Gian cùng với Tăng chúng,
91.
91.
91.
‘‘Upaṭṭhito mayā buddho, gantvā revatamaddasa;
Tato jetavanaṃ gantvā, etadagge ṭhapesi maṃ.
The Buddha, having been attended on by me, went and saw Revata. Then, having gone to Jetavana, he established me in the foremost position.
đã được tôi phục vụ bằng các vật dụng do chư thiên mang đến. Sau khi đi đến và gặp ngài Revata, rồi đi đến Jetavana, đức Phật đã đặt tôi vào vị trí tối thượng.
92.
92.
92.
‘‘‘Lābhīnaṃ sīvali aggo, mama sissesu bhikkhavo’;
Sabbalokahito satthā, kittayī parisāsu maṃ.
The Teacher, the benefactor of the whole world, praised me in the assemblies: ‘Bhikkhus, among my disciples who are recipients of gain, Sīvali is the foremost.’
“‘Này các Tỳ khưu, trong số các đệ tử của ta, Sīvali là tối thượng về tài lộc.’ Bậc Đạo Sư, người mưu cầu hạnh phúc cho toàn thể thế gian, đã tán dương tôi giữa các hội chúng.
93.
93.
93.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burned up … I dwell free of taints.
“Các phiền não của tôi đã được đốt cháy… (vân vân)… tôi sống không còn lậu hoặc.
94.
94.
94.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Welcome indeed was my coming … the Buddha’s teaching has been fulfilled.
“Sự đến của tôi thật là khéo đến… (vân vân)… giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
95.
95.
95.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges … the Buddha’s teaching has been fulfilled.
“Bốn Tuệ Phân Tích… (vân vân)… giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā sīvalithero imā gāthāyo
Thus, it is said, the venerable Elder Sīvali
Như vậy, quả thật Tôn giả trưởng lão Sīvali đã nói những câu kệ này
Abhāsitthāti.
He recited these verses.
Đã nói lên như thế.
Sīvalittherassāpadānaṃ tatiyaṃ.
The Third Apadāna of the Elder Sīvali is concluded.
Thiên truyện về trưởng lão Sīvali, phần thứ ba.