Bản dịch
THA -ap544 — Ký Sự về Trưởng Lão Kaṅkhārevata
Kaṅkhārevatattheraapadāna
BJT 6058Trước đây một trăm ngàn kiếp, vị Lãnh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc Hữu Nhãn về tất cả các pháp đã hiện khởi.
BJT 6059Ngài có hàm sư tử, có giọng nói của Phạm Thiên, có âm điệu của loài chim thiên nga và tiếng trống, có sự bước đi hùng dũng của loài rồng, có ánh sáng vượt trội mặt trăng và mặt trời.
BJT 6060Bậc Đại Trí, đấng Đại Hùng là có thiền chứng lớn lao, có sức mạnh lớn lao. Bậc Đại Bi, đấng Bảo Hộ là có sự xua đi màn tăm tối lớn lao.
BJT 6061Có lần nọ, đấng Cao Cả của tam giới ấy, bậc Toàn Giác, đấng Hiền Trí, vị hiểu biết về thiên hướng của chúng sanh, trong lúc đang huấn luyện cho nhiều người đáng được huấn luyện, Ngài đã thuyết giảng Giáo Pháp.
BJT 6062Trong lúc tán dương ở hội chúng về vị anh hùng có thiền chứng, thỏa thích về thiền, an tịnh, không bị chộn rộn, đấng Chiến Thắng đã làm cho dân chúng được hoan hỷ.
BJT 6063Khi ấy, tôi đã là vị Bà-la-môn thông suốt các bộ Vệ Đà ở thành Haṁsavatī. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp, được hoan hỷ tôi đã phát nguyện vị thế ấy.
BJT 6064Lúc bấy giờ, đấng Chiến Thắng, bậc Hướng Đạo đã chú nguyện ở giữa hội chúng rằng: “Này Bà-la-môn, ngươi hãy hoan hỷ, ngươi sẽ đạt được điều ước nguyện ấy.
BJT 6065Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên là Gotama, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 6066(Người này) sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, có tên là Revata.”
BJT 6067Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 6068Và trong kiếp sống cuối cùng hiện nay, tôi đã được sanh ra ở thành Koliya, được thành tựu gia tộc Sát-đế-lỵ sung túc, thịnh vượng, có tài sản lớn lao.
BJT 6069Vào lúc đức Phật đã thuyết giảng Giáo Pháp ở Kapilavatthu, khi ấy được tịnh tín ở đấng Thiện Thệ, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình.
BJT 6070Tôi đã có nhiều sự hoài nghi về điều được phép và không được phép, ở việc này việc nọ. Sau khi thuyết giảng về Giáo Pháp tối thượng, đức Phật đã hướng dẫn tất cả các điều ấy.
BJT 6071Do đó, tôi đã vượt qua luân hồi và tôi sống luôn luôn được thỏa thích trong sự an lạc của thiền. Khi ấy, đức Phật, sau khi nhìn thấy tôi, Ngài đã nói điều này:
BJT 6072“Bất cứ điều hoài nghi nào ở nơi đây hoặc ở cõi khác, do sự hiểu biết của chính mình hoặc do sự hiểu biết của người khác, những vị nào có thiền chứng, có sự tinh cần, đang thực hành Phạm hạnh, dứt bỏ tất cả những hoài nghi ấy.”
BJT 6073Việc làm đã được thực hiện ở một trăm ngàn kiếp đã cho tôi nhìn thấy quả báu tại đây. Như là tốc độ của mũi tên khéo được bắn ra, tôi đã thiêu đốt các phiền não của tôi.
BJT 6074Do đó, sau khi nhìn thấy tôi được thỏa thích trong thiền, đức Phật, vị đã đi đến tận cùng của thế giới, bậc Hiền Trí, đấng Đại Trí đã tuyên bố tôi là đứng đầu trong số các vị tỳ khưu có thiền chứng.
BJT 6075Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 6076Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 6077Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Kaṅkhārevata đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Kaṅkhārevata là phần thứ nhì.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
2. Kaṅkhārevatattheraapadānaṃ
2. The Apadāna of the Elder Kaṅkhārevata
2. Phần Thí Dụ về trưởng lão Kaṅkhārevata
34.
34.
34.
‘‘Padumuttaro nāma jino, sabbadhammesu cakkhumā;
Ito satasahassamhi, kappe uppajji nāyako.
The Conqueror named Padumuttara, one with vision into all phenomena, the Leader, arose one hundred thousand aeons from this one.
“Đức Phật Toàn Giác hiệu là Padumuttara, bậc có tuệ nhãn trong tất cả các pháp, bậc Lãnh Đạo đã sanh khởi ở một trăm ngàn kiếp tính từ kiếp này.”
35.
35.
35.
‘‘Sīhahanu brahmagiro, haṃsadundubhinissano †;
Nāgavikkantagamano, candasūrādikappabho.
With a jaw like a lion, a voice like Brahmā, a tone like a royal swan and a kettledrum; with the gait of a noble elephant, and a radiance surpassing the moon and sun.
“Ngài có xương hàm như sư tử, giọng nói như Phạm Thiên, âm thanh như thiên nga, dáng đi như voi chúa, ánh sáng vượt hơn mặt trăng, mặt trời.”
36.
36.
36.
‘‘Mahāmatī mahāvīro, mahājhāyī mahābalo †;
Mahākāruṇiko nātho, mahātamapanūdano †.
Of great wisdom, a great hero, a great meditator, of great strength; the greatly compassionate protector, the dispeller of the great darkness.
“Ngài có trí tuệ vĩ đại, có tinh tấn vĩ đại, thường nhập thiền định vĩ đại, có sức mạnh vĩ đại, có lòng bi mẫn vĩ đại, là bậc Nương Tựa, là đấng xua tan bóng tối vĩ đại.”
37.
37.
37.
‘‘Sa kadāci tilokaggo, veneyyaṃ vinayaṃ bahuṃ †;
Dhammaṃ desesi sambuddho, sattāsayavidū muni.
Sometimes that foremost of the three worlds, the Perfectly Enlightened One, the sage who knows the dispositions of beings, taught the Dhamma, training many who were to be trained.
“Vào một lúc nào đó, bậc Tối Thượng trong ba cõi, bậc Toàn Giác, bậc Hiền Trí thấu rõ tâm ý chúng sanh, trong khi đang giáo huấn nhiều chúng sanh cần được giáo huấn, đã thuyết giảng Giáo Pháp.”
38.
38.
38.
‘‘Jhāyiṃ jhānarataṃ vīraṃ, upasantaṃ anāvilaṃ;
Vaṇṇayanto parisatiṃ, tosesi † janataṃ jino.
Praising in the assembly a hero who was a meditator delighting in meditation, peaceful and untroubled, the Conqueror gladdened the people.
“Đức Phật Toàn Giác, trong khi tán dương ở giữa hội chúng về vị (Tỳ khưu) thường nhập thiền, thích thú trong thiền, có tinh tấn, đã tịch tịnh, không ô nhiễm, đã làm cho quần chúng hoan hỷ.”
39.
39.
39.
‘‘Tadāhaṃ haṃsavatiyaṃ, brāhmaṇo vedapāragū;
Dhammaṃ sutvāna mudito, taṃ ṭhānamabhipatthayiṃ.
At that time, in Haṃsavatī, I was a brahmin, a master of the Vedas. Having heard the Dhamma, being joyful, I aspired to that position.
“Lúc bấy giờ, tôi là một vị Bà-la-môn thông suốt Vệ-đà ở tại thành Haṃsāvatī. Sau khi nghe Pháp, tôi đã hoan hỷ và đã ước nguyện địa vị ấy.”
40.
40.
40.
‘‘Tadā jino viyākāsi, saṅghamajjhe vināyako;
‘Mudito hohi tvaṃ brahme, lacchase taṃ manorathaṃ.
Then the Conqueror, the Leader, in the midst of the Saṅgha, declared: ‘Be joyful, brahmin; you will obtain that heart’s desire.
“Lúc bấy giờ, Đức Phật Toàn Giác, bậc Lãnh Đạo, đã thọ ký ở giữa Tăng chúng rằng: ‘Này Bà-la-môn, ngươi hãy hoan hỷ, ngươi sẽ đạt được ước nguyện ấy.”
41.
41.
41.
‘‘‘Satasahassito kappe, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
One hundred thousand aeons from now, one born of the Okkāka clan, Gotama by name, will be a Teacher in the world.
“‘Cách đây một trăm ngàn kiếp, bậc Đạo Sư sanh ra trong dòng dõi Okkāka, có tên tộc là Gotama, sẽ có mặt ở đời.”
42.
42.
42.
‘‘‘Tassa dhammesu dāyādo, oraso dhammanimmito;
Revato nāma nāmena, hessati satthu sāvako’.
His heir in the Dhamma, a true-born son fashioned by the Dhamma, will be a disciple of the Teacher, Revata by name.’
“‘Vị ấy sẽ là vị Thinh Văn của bậc Đạo Sư, có tên là Revata, là người thừa tự trong các Pháp của vị ấy, là người con từ ngực sanh ra, do Pháp tạo ra.’”
43.
43.
43.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
By that well-done kamma, and by my volitions and aspirations, having abandoned the human body, I went to Tāvatiṃsa.
“Do nghiệp đã được làm tốt đẹp ấy và do các tác ý và ước nguyện, sau khi từ bỏ thân người, tôi đã đi đến cõi trời Tāvatiṃsa.”
44.
44.
44.
‘‘Pacchime ca bhave dāni, jātohaṃ koliye pure;
Khattiye kulasampanne, iddhe phīte mahaddhane.
And now in my final existence, I was born in the city of the Koliyas, in a well-born Khattiya family, prosperous, affluent, and of great wealth.
“Và bây giờ, trong kiếp sống cuối cùng, tôi đã sanh vào dòng dõi Sát-đế-lỵ, có gia tộc hoàn hảo, thịnh vượng, sung túc, có nhiều của cải ở tại thành Koliya.”
45.
45.
45.
‘‘Yadā kapilavatthusmiṃ, buddho dhammamadesayi;
Tadā pasanno sugate, pabbajiṃ anagāriyaṃ.
When the Buddha taught the Dhamma in Kapilavatthu, then, with confidence in the Well-farer, I went forth into homelessness.
“Khi Đức Phật thuyết Pháp ở tại thành Kapilavatthu, khi ấy tôi tín thành nơi Đức Thiện Thệ và đã xuất gia, sống không gia đình.”
46.
46.
46.
‘‘Kaṅkhā me bahulā āsi, kappākappe tahiṃ tahiṃ;
Sabbaṃ taṃ vinayī buddho, desetvā dhammamuttamaṃ.
I had many doubts, here and there, concerning what is proper and improper; the Buddha dispelled all of that by teaching the supreme Dhamma.
“Tôi đã có nhiều hoài nghi về những điều thích hợp và không thích hợp ở nơi này nơi kia. Đức Phật, sau khi thuyết giảng Giáo Pháp tối thượng, đã loại trừ tất cả những điều ấy.”
47.
47.
47.
‘‘Tatohaṃ tiṇṇasaṃsāro, sadā jhānasukhe rato;
Viharāmi tadā buddho, maṃ disvā etadabravi.
Therefore, having crossed over doubt, I dwelled, ever delighting in the bliss of jhāna. Then the Buddha, having seen me, spoke thus:
“Do đó, tôi đã vượt qua hoài nghi, luôn thích thú trong sự an lạc của thiền định và trú ngụ. Khi ấy, Đức Phật sau khi thấy tôi đã nói lời này.”
48.
48.
48.
‘‘‘Yā kāci kaṅkhā idha vā huraṃ vā, sakavediyā vā paravediyā vā;
Ye jhāyino tā pajahanti sabbā, ātāpino brahmacariyaṃ carantā’.
‘Whatever doubts there are, either in this world or in another, whether known by oneself or known by others—those who are meditators, being ardent and practicing the holy life, abandon them all.’
“‘Bất cứ hoài nghi nào có, ở đời này hay đời sau, do tự mình biết hay do người khác biết, tất cả những hoài nghi ấy, những vị thường nhập thiền, có sự tinh cần, sống đời phạm hạnh, đều từ bỏ.’”
49.
49.
49.
‘‘Satasahasse kataṃ kammaṃ, phalaṃ dassesi me idha;
Sumutto saravegova kilese jhāpayiṃ mama.
The kamma performed a hundred thousand aeons ago has shown its fruit to me in this life; like the speed of a well-released arrow, I have burned up my defilements.
“Nghiệp đã làm cách đây một trăm ngàn kiếp đã cho quả đối với tôi ở đây. Giống như tốc độ của mũi tên được bắn đi khéo léo, tôi đã thiêu đốt các phiền não của tôi.”
50.
50.
50.
‘‘Tato jhānarataṃ disvā, buddho lokantagū muni;
Jhāyīnaṃ bhikkhūnaṃ aggo, paññāpeti mahāmati.
Then, seeing me delighting in jhāna, the Buddha—the sage who has gone to the world’s end, the one of great wisdom—designated me as foremost among the meditating bhikkhus.
“Khi ấy, Đức Phật, bậc đã đi đến tận cùng thế gian, bậc Hiền Trí, bậc có trí tuệ vĩ đại, sau khi thấy (vị ấy) thích thú trong thiền, đã tuyên bố (vị ấy) là bậc tối thượng trong số các Tỳ khưu thường nhập thiền.”
51.
51.
51.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burned up … I dwell taintless.
“Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt... (vân vân)... tôi trú ngụ không còn lậu hoặc.”
52.
52.
52.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Welcome indeed was my coming … the Buddha’s teaching has been fulfilled.
“Sự đến của tôi quả là khéo đến... (vân vân)... giáo huấn của Đức Phật đã được thực hành.”
53.
53.
53.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the Buddha’s teaching has been fulfilled.”
“Bốn Tuệ Phân Tích... (vân vân)... giáo huấn của Đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā kaṅkhārevato thero imā gāthāyo
Thus, it is said, the venerable Elder Kaṅkhārevata
Như vậy, quả thật Đại đức Trưởng lão Kaṅkhārevata đã nói những câu kệ này
Abhāsitthāti.
uttered these verses.
đã nói như thế ấy.
Kaṅkhārevatattherassāpadānaṃ dutiyaṃ.
The Second Apadāna of the Elder Kaṅkhārevata.
Phần thứ hai về câu chuyện của Trưởng lão Kaṅkhārevata (đã kết thúc).