Bản dịch
THA -ap543 — Ký Sự về Trưởng Lão Lakuṇṭakabhaddiya
1 Lakuṇḍabhaddiyattheraapadāna
BJT 6025Trước đây một trăm ngàn kiếp, vị Lãnh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc Hữu Nhãn về tất cả các pháp đã hiện khởi.
BJT 6026Vào lúc bấy giờ, tôi là con trai nhà triệu phú có đại tài sản ở tại Haṁsavatī. Trong khi đi bộ lang thang, tôi đã đi đến tu viện của Hội Chúng.
BJT 6027Khi ấy, bậc Quang Đăng của thế gian, đấng Lãnh Đạo ấy đang thuyết giảng Giáo Pháp. Ngài đã tán dương vị Thinh Văn ưu tú trong số các vị có giọng nói ngọt ngào.
BJT 6028Nghe được điều ấy, tôi đã trở nên hoan hỷ và đã thể hiện sự tôn kính đến bậc Đại Ẩn Sĩ. Tôi đã đảnh lễ ở bàn chân của bậc Đạo Sư và đã phát nguyện vị thế ấy.
BJT 6029Khi ấy, đức Phật, đấng Hướng Đạo đã chú nguyện ở giữa hội chúng rằng: “Trong thời vị lai xa xăm người này sẽ đạt được điều ước nguyện ấy.
BJT 6030Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên là Gotama, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 6031(Người này) sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, có tên là Bhaddiya.”
BJT 6032Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 6033Trước đây chín mươi hai kiếp, bậc Lãnh Đạo Phussa, vị khó tiếp cận, khó chinh phục, đấng Chiến Thắng tối thượng của tất cả thế gian đã hiện khởi.
BJT 6034Là vị hội đủ tánh hạnh, cao thượng, ngay thẳng, có sự huy hoàng, là người tầm cầu sự lợi ích cho tất cả chúng sanh, Ngài đã giải thoát cho nhiều người khỏi sự trói buộc.
BJT 6035Tôi đã là con chim cu cu cườm ở khu rừng Nandārāma. Tôi sống ở cành cây xoài gần hương thất của Ngài.
BJT 6036Khi ấy, sau khi nhìn thấy đấng Chiến Thắng tối thượng, bậc xứng đáng cúng dường, đang đi khất thực, tôi đã làm cho tâm được tịnh tín và đã hót lên với tiếng hót ngọt ngào.
BJT 6037Khi ấy, tôi đã đi đến khu vườn của đức vua và đã gắp lấy chùm xoài chín muồi có màu da vàng chói rồi đã dâng đến bậc Toàn Giác.
BJT 6038Khi ấy, biết được tâm của tôi, bậc Đại Bi Mẫn, đấng Chiến Thắng, bậc Lãnh Đạo đã nhận lấy bình bát từ tay của vị thị giả.
BJT 60396040. Với tâm hớn hở, tôi đã dâng cúng chùm xoài đến bậc Đại Hiền Trí. Sau khi đặt vào bình bát, tôi đã chắp hai cánh lại đồng thời hót lên với tiếng hót ngọt ngào, quyến rũ, êm tai, vui vẻ nhằm mục đích cúng dường đức Phật. Rồi tôi đã bay về tổ và nằm xuống.
BJT 6041Khi ấy, tôi đã có tâm hoan hỷ, có thiên hướng yêu mến đức Phật. Có con chim ưng với tâm ý xấu xa đã đi đến và đã giết chết tôi.
BJT 6042Từ nơi ấy chết đi, tôi đã thọ hưởng sự sung sướng lớn lao ở cõi trời Đẩu Suất. Do nhờ tác động của nghiệp ấy, tôi đã đi đến nhập vào thai của loài người.
BJT 6043Ở vào kiếp Bhadda này, trong số các vị đang thuyết giảng đã hiện khởi đấng cao quý tên Kassapa, thuộc dòng dõi, có danh tiếng vĩ đại, là thân quyến của đấng Phạm Thiên (dòng dõi Bà-la-môn).
BJT 6044Ngài đã làm chói sáng Giáo Pháp, đã khuất phục các ngoại đạo xấu xa, đã huấn luyện những người đáng được huấn luyện, và đã Niết Bàn cùng các vị Thinh Văn.
BJT 6045Khi đấng Cao Cả ấy của thế gian đã Niết Bàn, được tịnh tín nhiều người tạo nên ngôi bảo tháp nhằm mục đích cúng dường đến đức Phật, đến bậc Đạo Sư.
BJT 6046Họ bàn thảo như vầy: “Chúng ta sẽ tạo nên ngôi bảo tháp bảy do-tuần được trang hoàng bằng bảy loại châu báu dành cho bậc Đại Ẩn Sĩ.”
BJT 6047Khi ấy, tôi đã là vị thống lãnh quân đội của đức vua của xứ Kāsi (tên) là Kiki. Tôi đã nói đến việc giảm thiểu kích thước ở ngôi bảo tháp.
BJT 6048Khi ấy, do lời nói của tôi họ đã xây dựng ngôi bảo tháp một do-tuần được trang hoàng bằng bảy loại châu báu dành cho bậc Anh Hùng của nhân loại.
BJT 6049Do nghiệp ấy đã được thực hiện hoàn tất và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 6050Và trong kiếp sống cuối cùng hiện nay, tôi đã được sanh vào gia đình triệu phú sung túc, thịnh vượng, có tài sản lớn lao ở tại kinh thành Sāvatthī.
BJT 6051Sau khi nhìn thấy đấng Thiện Thệ ở lối đi vào thành phố, tôi đã có tâm ý sửng sốt. Sau khi xuất gia không lâu, tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
BJT 6052Do hành động tôi đã làm về kích thước của ngôi bảo tháp, tôi đã được sanh ra có thân hình thấp bé, đáng bị khinh thường.
BJT 6053Sau khi cúng dường bậc Ẩn Sĩ tối thượng với giọng hót ngọt ngào, tôi đã thành tựu bản thể hàng đầu trong số các vị tỳ khưu có giọng nói ngọt ngào.
BJT 6054Do việc dâng cúng trái cây và sự tưởng nhớ đến đức hạnh của đức Phật, tôi được thành tựu quả vị Sa-môn, tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 6055Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 6056Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 6057Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Lakuṇṭakabhaddiya đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Lakuṇṭakabhaddiya là phần thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
1. Lakuṇḍabhaddiyattheraapadānaṃ
1. The Apadāna of the Elder Lakuṇḍabhaddiya
1. Thánh tích của Trưởng lão Lakuṇḍabhaddiya
1.
1.
1.
‘‘Padumuttaro nāma jino, sabbadhammesu cakkhumā;
Ito satasahassamhi, kappe uppajji nāyako.
The Conqueror named Padumuttara, the one with the eye for all phenomena, the Leader, arose one hundred thousand aeons from this one.
Cách đây một trăm ngàn kiếp, bậc Toàn Thắng tên là Padumuttara, bậc có Tuệ Nhãn về tất cả các pháp, bậc Lãnh Đạo, đã sanh khởi trong kiếp ấy.
2.
2.
2.
‘‘Tadāhaṃ haṃsavatiyaṃ, seṭṭhiputto mahaddhano;
Jaṅghāvihāraṃ vicaraṃ, saṅghārāmaṃ agacchahaṃ.
At that time in Haṃsavatī, being the very wealthy son of a treasurer, while wandering on foot, I went to the monastery.
Vào lúc bấy giờ, ở thành phố Haṃsavatī, tôi là con trai của một trưởng giả, là người rất giàu có. Trong khi đang đi dạo, tôi đã đi đến ngôi tự viện của chư Tăng.
3.
3.
3.
‘‘Tadā so lokapajjoto, dhammaṃ desesi nāyako;
Mañjussarānaṃ pavaraṃ, sāvakaṃ abhikittayi.
Then that Light of the World, the Leader, taught the Dhamma; he praised a disciple as the foremost among those with sweet voices.
Vào lúc bấy giờ, bậc Lãnh Đạo ấy, ngọn đuốc của thế gian, đã thuyết giảng Giáo Pháp. Ngài đã tán dương vị đệ tử là bậc tối thượng trong số những người có giọng nói ngọt ngào.
4.
4.
4.
‘‘Taṃ sutvā mudito hutvā, kāraṃ katvā mahesino;
Vanditvā satthuno pāde, taṃ ṭhānamabhipatthayiṃ.
Having heard that, being delighted, and having made an offering to the Great Sage, I venerated the Teacher's feet and aspired for that position.
Nghe lời ấy xong, tôi đã trở nên hoan hỷ, đã thực hiện sự cúng dường đến bậc Đại Ẩn Sĩ; sau khi đảnh lễ đôi chân của bậc Đạo Sư, tôi đã phát nguyện về địa vị ấy.
5.
5.
5.
‘‘Tadā buddho viyākāsi, saṅghamajjhe vināyako;
‘Anāgatamhi addhāne, lacchase taṃ manorathaṃ.
Then the Buddha, the Guide, declared in the midst of the Saṅgha: ‘In a future time, you will obtain that which your heart desires.’
Khi ấy, đức Phật, bậc Lãnh Đạo, đã thọ ký ở giữa Tăng chúng rằng: ‘Trong thời vị lai, ngươi sẽ thành tựu được ước nguyện ấy.
6.
6.
6.
‘‘‘Satasahassito kappe, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
‘One hundred thousand aeons from now, one born of the Okkāka clan, Gotama by clan name, will be the Teacher in the world.’
‘Cách một trăm ngàn kiếp kể từ kiếp này, vị Đạo Sư sanh trong dòng dõi Okkāka, có tên là Gotama theo họ tộc, sẽ xuất hiện ở thế gian.
7.
7.
7.
‘‘‘Tassa dhammesu dāyādo, oraso dhammanimmito;
Bhaddiyo nāma nāmena, hessati satthu sāvako’.
‘An heir to his Dhamma, a legitimate son created by the Dhamma, he will be a disciple of the Teacher, named Bhaddiya.’
‘Vị ấy sẽ là người thừa tự trong các Pháp của ngài, là người con đích thực do Pháp tạo nên, có tên là Bhaddiya, sẽ là vị Thinh Văn của bậc Đạo Sư.’
8.
8.
8.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
By that well-done deed, and by my volitions and aspirations, having abandoned the human body, I went to Tāvatiṃsa.
Do nhờ nghiệp thiện đã được thực hiện tốt đẹp ấy, và do nhờ các tâm nguyện và các lời ước nguyện, sau khi từ bỏ thân người, tôi đã đi đến cõi trời Ba Mươi Ba.
9.
9.
9.
‘‘Dvenavute ito kappe, phusso uppajji nāyako;
Durāsado duppasaho, sabbalokuttamo jino.
Ninety-two aeons from this one, the Leader Phussa arose, a Conqueror difficult to assail, difficult to overcome, supreme in all the world.
Cách đây chín mươi hai kiếp tính từ kiếp này, bậc Lãnh Đạo tên là Phussa đã xuất hiện, là bậc Toàn Thắng, khó có thể tiếp cận, khó có thể áp đảo, là đấng tối thượng trong tất cả các thế gian.
10.
10.
10.
‘‘Caraṇena ca sampanno, brahā uju patāpavā;
Hitesī sabbasattānaṃ †, bahuṃ mocesi bandhanā.
Endowed with conduct, great, upright, and majestic, a seeker of the welfare of all beings, he released many from bondage.
Ngài viên mãn về hạnh kiểm, là đấng vĩ đại, ngay thẳng, và đầy uy lực; là đấng mưu cầu lợi ích cho tất cả chúng sanh, ngài đã giải thoát nhiều chúng sanh khỏi sự trói buộc.
11.
11.
11.
‘‘Nandārāmavane tassa, ahosiṃ phussakokilo †;
Gandhakuṭisamāsanne, ambarukkhe vasāmahaṃ.
In his Nandārāma park, I was a cuckoo named Phussa. Near the fragrant chamber, I lived in a mango tree.
Ở trong khu rừng Nandārāma của ngài, tôi đã là con chim tu hú tên là Phussa; tôi đã sống ở trên cây xoài gần bên hương thất.
12.
12.
12.
‘‘Tadā piṇḍāya gacchantaṃ, dakkhiṇeyyaṃ jinuttamaṃ;
Disvā cittaṃ pasādetvā, mañjunābhinikūjahaṃ †.
Then, seeing the supreme Conqueror, one worthy of offerings, going for alms-food, I gladdened my mind and sang with a sweet voice.
Khi ấy, sau khi nhìn thấy bậc Tối Thắng, đấng xứng đáng được cúng dường, đang đi khất thực, tôi đã làm cho tâm được trong sạch và đã cất tiếng hót líu lo ngọt ngào.
13.
13.
13.
‘‘Rājuyyānaṃ tadā gantvā, supakkaṃ kanakattacaṃ;
Ambapiṇḍaṃ gahetvāna, sambuddhassopanāmayiṃ.
Then, having gone to the royal park and taken a cluster of well-ripened mangoes with golden skin, I offered it to the Perfectly Enlightened One.
Khi ấy, sau khi đi đến vườn ngự uyển, tôi đã lấy chùm xoài chín mọng, có vỏ màu vàng óng, và đã dâng lên đức Chánh Đẳng Giác.
14.
14.
14.
‘‘Tadā me cittamaññāya, mahākāruṇiko jino;
Upaṭṭhākassa hatthato, pattaṃ paggaṇhi nāyako.
Then the greatly compassionate Conqueror, the Leader, knowing my mind, took the bowl from his attendant’s hand.
Khi ấy, bậc Toàn Thắng, đấng Đại Bi, sau khi biết được tâm của tôi, bậc Lãnh Đạo đã nhận lấy bình bát từ tay của vị thị giả.
15.
15.
15.
‘‘Adāsiṃ haṭṭhacittohaṃ †, ambapiṇḍaṃ mahāmune;
Patte pakkhippa pakkhehi, pañjaliṃ † katvāna mañjunā.
With a joyful mind, I gave a cluster of mangoes to the Great Sage. Placing it in his bowl, I made a graceful gesture of reverence with my wings.
Với tâm hoan hỷ, tôi đã dâng chùm xoài đến bậc Đại Tu Sĩ; sau khi đặt vào trong bình bát, tôi đã dùng đôi cánh để chắp lại một cách đáng yêu.
16.
16.
16.
‘‘Sarena rajanīyena, savanīyena vaggunā;
Vassanto buddhapūjatthaṃ, nīḷaṃ † gantvā nipajjahaṃ.
With a voice that was enthralling, pleasant to hear, and sweet, I sang in homage to the Buddha; then I went to my nest and lay down.
Với giọng hót đáng say mê, dễ nghe, và du dương, tôi đã hót lên nhằm mục đích cúng dường đức Phật, rồi sau khi đi về tổ, tôi đã nằm xuống.
17.
17.
17.
‘‘Tadā muditacittaṃ maṃ, buddhapemagatāsayaṃ;
Sakuṇagghi upāgantvā, ghātayī duṭṭhamānaso.
Then, while I had a joyful mind, my heart filled with love for the Buddha, a hawk with a wicked mind approached and killed me.
Khi ấy, con diều hâu có tâm ác độc đã đến gần và giết chết tôi, là kẻ có tâm hoan hỷ và có ý hướng về lòng thương yêu đối với đức Phật.
18.
18.
18.
‘‘Tato cutohaṃ tusite, anubhotvā mahāsukhaṃ;
Manussayonimāgacchiṃ, tassa kammassa vāhasā.
By the power of that kamma, having passed away from there, I experienced great happiness in the Tusita heaven and then came to a human existence.
Sau khi mệnh chung từ nơi ấy, tôi đã hưởng thụ niềm hạnh phúc to lớn ở cõi trời Đâu Suất; do năng lực của nghiệp ấy, tôi đã đi đến thai mẹ loài người.
19.
19.
19.
‘‘Imamhi bhaddake kappe, brahmabandhu mahāyaso;
Kassapo nāma gottena, uppajji vadataṃ varo.
In this fortunate aeon, a kinsman of Brahmā, of great fame, Kassapa by clan name, the best of speakers, arose.
Ở trong kiếp hiền thiện này, bậc có danh tiếng lớn lao, là thân quyến của Phạm Thiên, có tên là Kassapa theo dòng họ, là bậc tối thượng của những người thuyết giảng, đã xuất hiện.
20.
20.
20.
‘‘Sāsanaṃ jotayitvā so, abhibhuyya kutitthiye;
Vinayitvāna veneyye, nibbuto so sasāvako.
He illuminated the teaching, vanquished the holders of wrong views, and having disciplined those who could be trained, he attained Nibbāna along with his disciples.
Vị ấy sau khi làm cho giáo Pháp được tỏa sáng, sau khi chinh phục các kẻ ngoại đạo, sau khi huấn luyện các chúng sanh cần được huấn luyện, vị ấy cùng với các vị Thinh Văn đã tịch diệt.
21.
21.
21.
‘‘Nibbute tamhi lokagge, pasannā janatā bahū;
Pūjanatthāya buddhassa, thūpaṃ kubbanti satthuno.
When that foremost one in the world had attained Parinibbāna, many people with serene minds built a stūpa for the Teacher in order to honor the Buddha.
Khi bậc Tối Thượng trong thế gian ấy đã tịch diệt, nhiều người có tâm trong sạch đã xây dựng bảo tháp của bậc Đạo Sư nhằm mục đích cúng dường đức Phật.
22.
22.
22.
‘‘‘Sattayojanikaṃ thūpaṃ, sattaratanabhūsitaṃ;
Karissāma mahesissa’, iccevaṃ mantayanti te.
‘We will make a stūpa for the Great Sage seven yojanas in size and adorned with the seven kinds of gems.’ Thus they conferred.
Những người ấy đã bàn bạc với nhau như vầy: ‘Chúng ta sẽ xây dựng bảo tháp của bậc Đại Thiền Sĩ cao bảy do-tuần, được trang hoàng bằng bảy loại bảo vật.’
23.
23.
23.
‘‘Kikino kāsirājassa, tadā senāya nāyako;
Hutvāhaṃ appamāṇassa, pamāṇaṃ cetiye vadiṃ.
At that time, having become the army commander for Kiki, the king of Kāsī, I declared the measurement for the cetiya of the Immeasurable One.
Khi ấy, sau khi là vị tướng quân của đức vua Kiki xứ Kāsi, tôi đã nói về kích thước của bảo tháp của đấng Vô Lượng.
24.
24.
24.
‘‘Tadā te mama vākyena, cetiyaṃ yojanuggataṃ;
Akaṃsu naravīrassa, nānāratanabhūsitaṃ.
Then, by my word, they made a cetiya for that heroic man, one yojana high and adorned with various gems.
Khi ấy, do lời nói của tôi, những người ấy đã xây dựng bảo tháp của bậc Anh Hùng của nhân loại cao một do-tuần, được trang hoàng bằng nhiều loại bảo vật khác nhau.
25.
25.
25.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
Through that well-done deed and my volitions and aspirations, having abandoned my human body, I went to the Tāvatiṃsa heaven.
Do nhờ nghiệp thiện đã được thực hiện tốt đẹp ấy, và do nhờ các tâm nguyện và các lời ước nguyện, sau khi từ bỏ thân người, tôi đã đi đến cõi trời Ba Mươi Ba.
26.
26.
26.
‘‘Pacchime ca bhave dāni, jāto seṭṭhikule ahaṃ;
Sāvatthiyaṃ puravare, iddhe phīte mahaddhane.
And now, in my final existence, I was born into a treasurer’s family in the excellent city of Sāvatthī, a city successful, prosperous, and very wealthy.
Và bây giờ, ở trong kiếp sống cuối cùng, tôi đã được sanh vào trong gia đình của vị trưởng giả ở tại thành phố Sāvatthī cao quý, là nơi được thịnh vượng, sung túc, và có nhiều của cải.
27.
27.
27.
‘‘Purappavese sugataṃ, disvā vimhitamānaso;
Pabbajitvāna na ciraṃ, arahattamapāpuṇiṃ.
Seeing the Well-Farer entering the city, my mind was struck with wonder. Having gone forth, it was not long before I attained arahantship.
Khi đức Thiện Thệ đi vào thành, sau khi nhìn thấy ngài, tôi có tâm kinh ngạc vui mừng; sau khi đã xuất gia, không bao lâu tôi đã đạt được quả vị A-la-hán.
28.
28.
28.
‘‘Cetiyassa pamāṇaṃ yaṃ, akariṃ tena kammunā;
Lakuṇḍakasarīrohaṃ, jāto paribhavāraho.
Because of that deed by which I set the measurement for the cetiya, I was born with a dwarfish body, deserving of contempt.
Do nghiệp ấy mà tôi đã thực hiện việc đo lường bảo tháp, tôi đã sanh ra có thân hình thấp lùn, đáng bị khinh miệt.
29.
29.
29.
‘‘Sarena madhurenāhaṃ, pūjitvā isisattamaṃ;
Mañjussarānaṃ bhikkhūnaṃ, aggattamanupāpuṇiṃ.
Having honored the best of seers with a sweet voice, I attained the foremost place among monks with melodious voices.
Do tôi đã cúng dường bậc Thiền Sĩ Tối Thượng bằng giọng nói ngọt ngào, tôi đã đạt được địa vị tối thắng ở giữa các vị Tỳ khưu có giọng nói ngọt ngào.
30.
30.
30.
‘‘Phaladānena buddhassa, guṇānussaraṇena ca;
Sāmaññaphalasampanno, viharāmi anāsavo.
Through the gift of fruit to the Buddha and through recollecting his qualities, I dwell without taints, endowed with the fruit of recluseship.
Do nhờ việc dâng cúng trái cây đến đức Phật và do nhờ việc tùy niệm các đức hạnh, tôi sống không có lậu hoặc, là người viên mãn với quả vị Sa-môn.
31.
31.
31.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ, bhavā sabbe samūhatā;
Nāgova bandhanaṃ chetvā, viharāmi anāsavo.
My defilements have been burned up; all existences have been eradicated. Like an elephant that has cut its bond, I dwell without taints.
Các phiền não của tôi đã được đốt sạch, tất cả các hữu đã được nhổ lên. Giống như con voi đực đầu đàn sau khi cắt đứt các dây trói, tôi sống không có lậu hoặc.
32.
32.
32.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi, buddhaseṭṭhassa santike;
Tisso vijjā anuppattā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Indeed, my coming into the presence of the best of Buddhas was a good one. The three knowledges have been attained; the Buddha’s teaching has been done.
Ồ, việc tôi đến nơi sự hiện diện của đức Phật Tối Thượng quả là khéo đến. Ba minh đã được chứng đạt, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
33.
33.
33.
‘‘Paṭisambhidā catasso, vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, and these eight liberations, and the six higher knowledges have been realized. The Buddha’s teaching has been done.
Bốn Tuệ Phân Tích, và tám giải thoát này, sáu thắng trí đã được chứng ngộ, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā lakuṇḍabhaddiyo thero imā gāthāyo
Thus indeed the Venerable Elder Lakuṇḍabhaddiya spoke these verses.
Quả thật, trưởng lão Lakuṇḍabhaddiya đáng kính đã nói những câu kệ này
Abhāsitthāti.
Thus he spoke.
đã nói lên như vậy.
Lakuṇḍabhaddiyattherassāpadānaṃ paṭhamaṃ.
The First Apadāna of the Elder Lakuṇḍabhaddiya.
Phần Thí Dụ về trưởng lão Lakuṇḍabhaddiya thứ nhất.