Bản dịch
THA -ap542 — Ký Sự về Trưởng Lão Mogharāja
Mogharājattheraapadāna
BJT 5989Trước đây một trăm ngàn kiếp, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc Hiền Trí, đấng hiểu biết về toàn bộ thế giới, bậc Hữu Nhãn đã hiện khởi.
BJT 5990Là bậc giáo giới, là vị làm cho hiểu rõ, là vị giúp cho tất cả chúng sanh vượt qua, được thiện xảo trong việc thuyết giảng, đức Phật đã giúp cho nhiều người vượt qua.
BJT 5991Bậc Thương Tưởng, đấng Bi Mẫn, vị tầm cầu sự lợi ích cho tất cả chúng sanh, cũng đã an trú vào ngũ giới cho tất cả các ngoại đạo đã đi đến.
BJT 5992Như thế, được tô điểm với các vị A-la-hán có năng lực như thế ấy, (thế gian) đã không bị rối loạn và trống vắng các vị ngoại đạo.
BJT 5993Bậc Đại Hiền Trí ấy cao năm mươi tám ratana(14.50 m) tợ như cây cột trụ bằng vàng, có ba mươi hai hảo tướng.
BJT 5994Cho đến khi ấy, tuổi thọ được biết là một trăm ngàn năm. Trong khi tồn tại như thế, Ngài đã giúp cho nhiều người vượt qua.
BJT 5995Lúc bấy giờ, tôi đã ở trong một gia đình nọ tại thành Haṁsavatī. Bị vướng bận trong sự quán xuyến công việc của người khác, tài sản riêng của tôi là không có gì.
BJT 5996Trong khi cư ngụ tại gian nhà nghỉ chân có nền đất đã được sửa soạn, tôi đã đốt lên ngọn lửa ở tại nơi ấy (khiến) nền đất ấy đã trở nên đen và cứng.
BJT 5997Khi ấy, đấng Bảo Hộ, bậc giảng giải về bốn Sự Thật, đã tán dương vị Thinh Văn là vị mặc y thô xấu ở hội chúng.
BJT 5998Hoan hỷ về đức hạnh đó của vị ấy, tôi đã quỳ xuống ở đức Như Lai và đã phát nguyện vị thế tối thượng là vị đứng đầu trong số các vị mặc y thô xấu.
BJT 5999Do đó, đức Thế Tôn Padumuttara đã nói với các vị Thinh Văn rằng: “Các ngươi hãy nhìn xem người nam có y phục thô xấu và thân hình gầy ốm này.
BJT 6000(Người này) với khuôn mặt tịnh tín và có sự phỉ lạc, được sở hữu tài sản về đức tin, có lông dựng đứng sanh lên ở cơ thể, được mừng rỡ, không cử động, có nhúm bông sālā.
BJT 6001Người này phát nguyện vị thế ấy của vị tỳ khưu có được đạo binh về sự chân thật và có thiên hướng về hình tướng của vị mặc y thô xấu ấy.”
BJT 6002Nghe được điều ấy, tôi đã trở nên hoan hỷ và đã quỳ xuống đê đầu ở đấng Chiến Thắng. Tôi đã thực hiện việc làm tốt đẹp trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng cho đến hết cuộc đời.
BJT 6003Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 6004Do hành động đốt nền đất ở gian nhà nghỉ chân, tôi đã bị thiêu đốt, bị khổ đau về cảm thọ ở địa ngục một ngàn năm.
BJT 6005Do phần dư sót của nghiệp ấy, trong năm trăm kiếp sống dầu đã được may mắn sanh ra làm người, tôi đã bị đóng dấu từ lúc mới sanh.
BJT 6006Tôi đã bị nhiễm bệnh phong cùi luôn cả năm trăm kiếp sống. Do tác động của nghiệp ấy, tôi đã trải qua khổ đau lớn lao.
BJT 6007Ở vào kiếp Bhadda này, với tâm ý tịnh tín tôi đã làm hài lòng vị có danh vọng tối cao bằng món thức ăn.
BJT 6008Do tính chất đặc biệt của nghiệp ấy và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 6009Khi đạt đến lần hiện hữu cuối cùng, tôi đã được sanh ra trong gia tộc Sát-đế-lỵ. Khi cha tôi băng hà, tôi đã được kế thừa vương quốc rộng lớn.
BJT 6010Bị bệnh phong cùi chế ngự, tôi không đạt được sự vui sướng và sự an lạc. Vì sự sung sướng về vương quốc là rỗng không, cho nên tôi là Mogharājā.
BJT 6011Sau khi nhìn thấy sự xấu xa của thân thể, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình. Tôi đã đi đến làm học trò của vị Bà-la-môn cao cả tên Bāvarī.
BJT 6012Cùng với đoàn tùy tùng đông đảo, tôi đã đi đến gặp đấng Lãnh Đạo nhân loại. Tôi đã hỏi đấng Anh Hùng ấy là vị (có khả năng) khuất phục người đối đáp một câu hỏi khôn khéo.
BJT 6013Thế giới này, thế giới khác, thế giới Phạm Thiên, luôn cả thế giới chư Thiên không biết rõ quan điểm của Ngài, của vị Gotama có danh vọng.
BJT 6014“Bằng cách nào Thần Chết không nhìn thấy người đang suy xét về thân này?” Là người có mục đích, tôi đã đi đến với người có sự thấy biết vượt trội như vậy bằng câu chất vấn.
BJT 6015“Này Mogharāja, hãy luôn luôn có niệm. Ngươi hãy suy xét thân này là không. Sau khi dẹp bỏ tà kiến về tự ngã,như vậy ngươi có thể vượt trội Thần Chết.
BJT 6016Thần Chết không nhìn thấy người đang suy xét về thân này là như thế.” Đức Phật, người thầy thuốc chữa tất cả các loại bệnh đã giảng cho tôi như vậy.
BJT 6017Với sự chấm dứt của câu kệ, tôi có râu tóc đã được cạo bỏ, có sự mặc lên tấm vải ca-sa, tôi đã trở thành vị tỳ khưu A-la-hán như thế.
BJT 6018Bị hành hạ bởi căn bệnh, tôi đã không cư ngụ trong các trú xá thuộc về hội chúng (nghĩ rằng): “Chớ để trú xá bị dơ bẩn,” tôi đã bị hành hạ bởi các cơn bệnh về gió.
BJT 6019Sau khi đã đem về từ đống rác, từ bãi tha ma, và từ các đường lộ, từ đó tôi đã làm nên y hai lớp và tôi đã mặc y thô xấu.
BJT 6020Hoan hỷ về đức hạnh ấy của tôi, bậc Thầy Thuốc vĩ đại, đấng Hướng Đạo đã thiết lập tôi vào vị thế tối thắng trong số các vị mặc y thô xấu.
BJT 6021Có sự đoạn tận thiện và ác, đã được dứt bỏ mọi cơn bệnh, tợ như ngọn lửa không còn nhiên liệu, tôi đã Niết Bàn không còn lậu hoặc.
BJT 6022Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 6023Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 6024Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Mogharāja đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Mogharāja là phần thứ mười.
Phần Tóm Lược:
Vị Kaccāna, vị trưởng lão Vakkali, vị có tên là Mahākappina, vị Dabba, vị có tên là Kumāra, vị Bāhiya, vị Koṭṭhita có năng lực, vị Uruvelakassapa, vị Rādha, và bậc trí tuệ Mogharājā. Ở đây có ba trăm và luôn cả sáu mươi hai câu kệ đã được gộp chung lại.
Phẩm Kaccāna là phẩm thứ năm mươi bốn.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
10. Mogharājattheraapadānaṃ
10. The Apadāna of the Elder Mogharāja
10. Phẩm truyện về trưởng lão Mogharāja
327.
327.
327.
‘‘Padumuttaro nāma jino, sabbalokavidū muni;
Ito satasahassamhi, kappe uppajji cakkhumā.
One hundred thousand eons from this one, the Conqueror named Padumuttara, a sage, knower of all worlds, the One with Vision, arose.
“Vị Chiến Thắng tên là Padumuttara, bậc Mâu-ni thông suốt tất cả thế gian, bậc có Mắt, đã sanh ra trong một trăm ngàn kiếp tính từ kiếp này.
328.
328.
328.
‘‘Ovādako viññāpako, tārako sabbapāṇinaṃ;
Desanākusalo buddho, tāresi janataṃ bahuṃ.
An admonisher, an instructor, one who ferries all beings across; the Buddha, skilled in teaching, ferried a great many people across.
“Ngài là bậc giáo huấn, bậc làm cho hiểu rõ, bậc cứu độ tất cả chúng sanh. Vị Phật thiện xảo trong việc thuyết giảng đã cứu vớt nhiều chúng sanh.
329.
329.
329.
‘‘Anukampako kāruṇiko, hitesī sabbapāṇinaṃ;
Sampatte titthiye sabbe, pañcasīle patiṭṭhapi.
Compassionate and merciful, seeking the welfare of all living beings, he established in the five precepts all the sectarians who came to him.
“Ngài là bậc thương xót, bậc có lòng bi mẫn, bậc mưu cầu lợi ích cho tất cả chúng sanh. Ngài đã an lập tất cả các người ngoại đạo đã đến trong năm giới.
330.
330.
330.
‘‘Evaṃ nirākulaṃ āsi, suññataṃ titthiyehi ca;
Vicittaṃ arahantehi, vasībhūtehi tādibhi.
Thus it was untroubled and empty of sectarians, but resplendent with arahants—self-controlled and steadfast ones.
“Như vậy, (giáo pháp) đã không bị rối loạn, và trống không các người ngoại đạo; (giáo pháp) được trang hoàng bởi các vị A-la-hán, những bậc đã tự chủ và vững vàng.
331.
331.
331.
‘‘Ratanānaṭṭhapaññāsaṃ, uggato so mahāmuni;
Kañcanagghiyasaṅkāso, bāttiṃsavaralakkhaṇo.
That great sage was fifty-eight cubits tall; he resembled a golden stupa and was endowed with the thirty-two excellent marks.
“Bậc Đại Mâu-ni ấy cao năm mươi tám ratana, giống như cây cột bằng vàng, có ba mươi hai tướng tốt cao quý.
332.
332.
332.
‘‘Vassasatasahassāni, āyu vijjati tāvade;
Tāvatā tiṭṭhamāno so, tāresi janataṃ bahuṃ.
His lifespan then was a hundred thousand years; remaining for that long, he ferried a great many people across.
“Vào lúc bấy giờ, tuổi thọ là một trăm ngàn năm. Ngài sống lâu đến chừng ấy và đã cứu vớt nhiều chúng sanh.
333.
333.
333.
‘‘Tadāhaṃ haṃsavatiyaṃ, kule aññatare ahuṃ;
Parakammāyane yutto, natthi me kiñci saṃdhanaṃ.
At that time I was in a certain family in Haṃsavatī. Engaged in working for others, I had no wealth of my own.
“Lúc bấy giờ, tôi đã sanh ra trong một gia tộc nào đó ở thành phố Haṃsavatī. Tôi chuyên làm công cho người khác, tôi không có chút tài sản riêng nào.
334.
334.
334.
‘‘Paṭikkamanasālāyaṃ, vasanto katabhūmiyaṃ;
Aggiṃ ujjālayiṃ tattha, daḷhaṃ kaṇhāsi sā † hī.
Dwelling in a dining hall on prepared ground, I lit a fire there. Indeed, that ground became intensely black.
“Trong lúc đang ở tại nhà nghỉ, trên nền đất đã được dọn dẹp, tôi đã đốt lên ngọn lửa. Ở nơi ấy, quả thật nền đất ấy đã trở nên đen kịt.
335.
335.
335.
‘‘Tadā parisatiṃ nātho, catusaccapakāsako;
Sāvakaṃ sampakittesi, lūkhacīvaradhārakaṃ.
Then in the assembly the Protector, the proclaimer of the Four Truths, praised a disciple, a wearer of rough robes.
“Lúc bấy giờ, bậc Lãnh Đạo, vị tuyên thuyết về Tứ Thánh Đế, đã tán dương ở giữa hội chúng một vị đệ tử là người mặc y thô xấu.
336.
336.
336.
‘‘Tassa tamhi guṇe tuṭṭho, paṇipacca † tathāgataṃ;
Lūkhacīvaradhāraggaṃ, patthayiṃ ṭhānamuttamaṃ.
Pleased with that quality of his, I paid homage to the Tathāgata and aspired to that supreme position: to be the foremost among the wearers of rough robes.
“Hài lòng về đức hạnh ấy của vị kia, tôi đã đảnh lễ đấng Như Lai và đã phát nguyện về địa vị cao tột, đứng đầu trong số những người mặc y thô xấu.
337.
337.
337.
‘‘Tadā avoca bhagavā, sāvake padumuttaro;
‘Passathetaṃ purisakaṃ, kucelaṃ tanudehakaṃ.
Then the Blessed One, Padumuttara, said to his disciples: ‘Look at this man, poorly dressed and with a thin body.
“Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn Padumuttara đã nói với các vị đệ tử: ‘Các ngươi hãy nhìn người đàn ông này, người có y phục xấu xí, người có thân hình gầy gò.
338.
338.
338.
‘‘‘Pītippasannavadanaṃ, saddhādhanasamanvitaṃ †;
Udaggatanujaṃ haṭṭhaṃ, acalaṃ sālapiṇḍitaṃ.
‘His face is serene with rapture, endowed with the wealth of faith. Joyful, with his body-hair standing on end, he is as firm as a solid sāl tree.’
“‘Người có gương mặt trong sáng vì hoan hỷ, người được phú cho tài sản là đức tin, người có lông tóc dựng đứng, người vui vẻ, người không dao động, người vững chắc như cụm cây sāla.
339.
339.
339.
‘‘‘Eso pattheti taṃ ṭhānaṃ, saccasenassa bhikkhuno;
Lūkhacīvaradhārissa, tassa vaṇṇasitāsayo †.
‘He aspires to the position of the bhikkhu Saccasena, the wearer of rough robes. His heart is intent on that quality.’
“‘Người này, với ý muốn dựa vào lời tán dương về vị Tỳ khưu Saccasena là người mặc y thô xấu, đang phát nguyện về địa vị ấy.
340.
340.
340.
‘‘Taṃ sutvā mudito hutvā, nipacca sirasā jinaṃ;
Yāvajīvaṃ subhaṃ kammaṃ, karitvā jinasāsane.
Delighted on hearing this, I bowed my head to the Conqueror and performed good deeds in the Conqueror’s Dispensation for the rest of my life;
“Sau khi nghe điều ấy, tôi đã trở nên hoan hỷ, đã cúi đầu đảnh lễ đấng Chiến Thắng, và đã làm các nghiệp tốt lành trong giáo pháp của đấng Chiến Thắng cho đến trọn đời.
341.
341.
341.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsūpago ahaṃ.
and by that well-done kamma, and by my volition and aspiration, when I abandoned my human body, I went to the Tāvatiṃsa heaven.
“Do nghiệp đã được làm tốt đẹp ấy và do các tác ý và lời nguyện, sau khi từ bỏ thân người, tôi đã đi đến cõi trời Ba Mươi Ba.
342.
342.
342.
‘‘Paṭikkamanasālāyaṃ, bhūmidāhakakammunā;
Samasahassaṃ niraye, adayhiṃ vedanāṭṭito.
Because of the kamma of burning the ground in the dining hall, I was burned in hell for a thousand years, afflicted by painful feelings.
“Do nghiệp đốt nền đất ở tại nhà nghỉ, tôi đã bị thiêu đốt ở địa ngục trong suốt một ngàn năm, bị dày vò bởi các cảm thọ.
343.
343.
343.
‘‘Tena kammāvasesena, pañca jātisatānihaṃ;
Manusso kulajo hutvā, jātiyā lakkhaṇaṅkito.
By the residue of that kamma, for five hundred births, though I became a man born of a good family, I bore a mark from birth.
“Do quả còn sót lại của nghiệp ấy, trong năm trăm kiếp, sau khi sanh làm người trong gia tộc tốt, tôi đã bị đánh dấu bởi một vết bớt từ lúc sanh ra.
344.
344.
344.
‘‘Pañca jātisatāneva, kuṭṭharogasamappito;
Mahādukkhaṃ anubhaviṃ, tassa kammassa vāhasā.
For five hundred births I was afflicted with leprosy; I experienced great suffering by the force of that kamma.
“Cũng trong năm trăm kiếp, tôi đã bị mắc phải bệnh cùi. Do năng lực của nghiệp ấy, tôi đã phải chịu đựng sự đau khổ cùng cực.
345.
345.
345.
‘‘Imasmiṃ bhaddake kappe, upariṭṭhaṃ yasassinaṃ;
Piṇḍapātena tappesiṃ, pasannamānaso ahaṃ.
In this fortunate aeon, with a reverent mind, I satisfied the glorious Upariṭṭha with almsfood.
“Ở trong kiếp hiền kiếp này, với tâm ý trong sáng, tôi đã làm cho vị (Độc Giác Phật) Upariṭṭha có danh tiếng được hài lòng bằng vật thực khất thực.
346.
346.
346.
‘‘Tena kammavisesena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
Through that special kamma, and through my volitions and aspirations, having abandoned the human body, I went to Tāvatiṃsa.
“Do sự đặc biệt của nghiệp ấy và do các tác ý và lời nguyện, sau khi từ bỏ thân người, tôi đã đi đến cõi trời Ba Mươi Ba.
347.
347.
347.
‘‘Pacchime bhave sampatte, ajāyiṃ khattiye kule;
Pituno accayenāhaṃ, mahārajjasamappito.
Having reached my final existence, I was born into a khattiya family. Upon the passing of my father, I was established in the great kingship.
“Khi đã đạt đến kiếp sống cuối cùng, tôi đã sanh ra trong dòng dõi Sát-đế-lỵ. Sau khi phụ thân qua đời, tôi đã được trao cho vương quốc to lớn.
348.
348.
348.
‘‘Kuṭṭharogādhibhūtohaṃ, na ratiṃ na sukhaṃ labhe;
Moghaṃ rajjaṃ sukhaṃ yasmā, mogharājā tato ahaṃ.
Being overcome by the disease of leprosy, I obtained no delight and no happiness. Because the kingship was in vain, therefore I was Mogharāja.
“Tôi bị bệnh cùi hành hạ, đã không có được sự vui thích, không có được sự an lạc. Bởi vì vương quốc và sự an lạc là vô ích (đối với tôi), do đó tôi là Mogharāja (Vua Vô Ích).
349.
349.
349.
‘‘Kāyassa dosaṃ disvāna, pabbajiṃ anagāriyaṃ;
Bāvarissa dijaggassa, sissattaṃ ajjhupāgamiṃ.
Having seen the fault of the body, I went forth into the homeless life. I undertook the discipleship of Bāvari, the foremost of the twice-born.
Sau khi đã nhìn thấy sự nguy hại của thân xác, tôi đã xuất gia vào đời sống không nhà; tôi đã đến gần và trở thành đệ tử của vị Bà-la-môn lỗi lạc Bāvari.
350.
350.
350.
‘‘Mahatā parivārena, upecca naranāyakaṃ;
Apucchiṃ nipuṇaṃ pañhaṃ, taṃ vīraṃ vādisūdanaṃ.
With a great retinue, having approached the Leader of Men, that Hero, the destroyer of disputants, I asked a subtle question.
Với đoàn tùy tùng đông đảo, tôi đã đến gần bậc Lãnh Đạo của nhân loại; tôi đã hỏi câu hỏi tế nhị đến bậc Anh Hùng ấy, là đấng dẹp tan các tà kiến.
351.
351.
351.
‘‘‘Ayaṃ loko paro loko, brahmaloko sadevako;
Diṭṭhiṃ no † nābhijānāmi, gotamassa yasassino.
‘This world, the other world, the Brahma-world with its devas—I do not know the view of the glorious Gotama.
‘Thế gian này, thế gian khác, thế giới Phạm Thiên cùng với chư Thiên; tôi không thể biết được tri kiến của ngài Gotama, bậc có danh tiếng lẫy lừng.’
352.
352.
352.
‘‘‘Evābhikkantadassāviṃ, atthi pañhena āgamaṃ;
Kathaṃ lokaṃ avekkhantaṃ, maccurājā na passati’.
‘I have come to you of such excellent vision with a question: Looking upon the world in what way does the King of Death not see one?’
‘Tôi đã đến với câu hỏi dành cho bậc có tuệ kiến siêu việt như thế: ‘Làm thế nào để người quán xét thế gian mà vua Thần Chết không nhìn thấy được?’
353.
353.
353.
‘‘‘Suññato lokaṃ avekkhassu, mogharāja sadā sato;
Attānudiṭṭhiṃ uhacca, evaṃ maccutaro siyā.
‘Look upon the world as empty, Mogharāja, always mindful. Having uprooted the view of self, in this way one may cross beyond death.’
‘Này Mogharāja, hãy luôn luôn chánh niệm, hãy quán xét thế gian là trống không. Sau khi đã nhổ lên quan kiến về tự ngã, người ấy có thể vượt qua được sự chết theo cách như vậy.’
354.
354.
354.
‘‘‘Evaṃ lokaṃ avekkhantaṃ, maccurājā na passati’;
Iti maṃ abhaṇi buddho, sabbarogatikicchako.
‘The King of Death does not see one who looks upon the world in this way.’ Thus the Buddha, the healer of all diseases, spoke to me.
‘Vua Thần Chết không nhìn thấy được người quán xét thế gian theo cách như vậy.’ Đức Phật, bậc Y Sư chữa trị tất cả các chứng bệnh, đã nói với tôi như thế.
355.
355.
355.
‘‘Saha gāthāvasānena, kesamassuvivajjito;
Kāsāvavatthavasano, āsiṃ bhikkhu tathārahā.
Simultaneously with the end of the verse, I was devoid of hair and beard, clad in the ochre robe; in that way I became a worthy bhikkhu.
Ngay khi các câu kệ vừa chấm dứt, tôi đã trở thành vị tỳ-khưu, không còn râu tóc, mặc y phục màu cà-sa, và xứng đáng với các vật cúng dường.
356.
356.
356.
‘‘Saṅghikesu vihāresu, na vasiṃ rogapīḷito;
Mā vihāro padussīti, vātarogehi pīḷito †.
Being afflicted by disease, I did not dwell in the monasteries belonging to the Sangha; being tormented by wind-diseases, I thought, ‘May the monastery not be spoiled.’
Bị bệnh tật hành hạ, bị các chứng bệnh về gió làm cho đau đớn, tôi đã không sống ở các ngôi tự viện của chư Tăng với ý nghĩ rằng: ‘Mong rằng ngôi tự viện không bị hư hoại.’
357.
357.
357.
‘‘Saṅkārakūṭā āhitvā, susānā rathikāhi ca;
Tato saṅghāṭiṃ karitvā, dhārayiṃ lūkhacīvaraṃ.
Having collected rags from rubbish heaps, charnel grounds, and from the streets, I then made a patchwork robe and wore the rough robe.
Sau khi đã thu lượm (vải) từ các đống rác, từ các nghĩa địa, và từ các đường phố, sau đó tôi đã may thành y phục hai lớp và đã mặc tấm y thô xấu.
358.
358.
358.
‘‘Mahābhisakko tasmiṃ me, guṇe tuṭṭho vināyako;
Lūkhacīvaradhārīnaṃ, etadagge ṭhapesi maṃ.
The Great Physician, the Guide, pleased with this quality of mine, appointed me foremost among the wearers of rough robes.
Bậc Y Sư Vĩ Đại, đấng Dẫn Dắt, đã hài lòng về đức hạnh ấy của tôi và đã đặt tôi vào vị trí tối thượng trong số những người mặc y phục thô xấu.
359.
359.
359.
‘‘Puññapāpaparikkhīṇo, sabbarogavivajjito;
Sikhīva anupādāno, nibbāyissamanāsavo.
With merit and demerit exhausted, devoid of all disease, like a fire without fuel, I, being without clinging and without taints, will attain final Nibbāna.
Phước và tội đã được tận trừ, tất cả các chứng bệnh đã được loại bỏ, giống như ngọn lửa không còn nhiên liệu, tôi sẽ tịch diệt, không còn lậu hoặc.
360.
360.
360.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burnt... I dwell without taints.
Các phiền não của tôi đã được đốt cháy ... (vân vân) ... tôi sống không còn lậu hoặc.
361.
361.
361.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Indeed, my coming was a good coming... the Buddha’s teaching has been done.
Sự đến của tôi quả là tốt đẹp ... (vân vân) ... giáo huấn của đức Phật đã được thực hành.
362.
362.
362.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges... the Buddha’s teaching has been done.”
Bốn Tuệ Phân Tích ... (vân vân) ... giáo huấn của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā mogharājā thero imā gāthāyo
Thus indeed the Venerable Elder Mogharāja
Như vậy, quả thật Trưởng lão Mogharāja đã nói những câu kệ này:
Abhāsitthāti.
spoke these verses.
Đã nói như vậy.
Mogharājattherassāpadānaṃ dasamaṃ.
The tenth Apadāna, that of the Elder Mogharāja.
Thánh tích của Trưởng lão Mogharāja, phần thứ mười.
The Kaccāyana Chapter, the fifty-fourth.
Phẩm Kaccāyana, phần thứ năm mươi bốn.
Tassuddānaṃ –
The summary:
Phần tóm lược như sau:
Kaccāno vakkalī thero, mahākappinasavhayo;
Dabbo kumāranāmo ca, bāhiyo koṭṭhiko vasī.
Kaccāna, the Elder Vakkali, the one named Mahākappina, Dabba also called Kumāra, Bāhiya, and Koṭṭhika the self-controlled.
Trưởng lão Kaccāna, Vakkalī, vị có tên là Mahākappina, Dabba có tên là Kumāra, Bāhiya, và Koṭṭhika bậc tự chủ.
Uruveḷakassapo rādho, mogharājā ca paṇḍito;
Tīṇi gāthāsatānettha, bāsaṭṭhi ceva piṇḍitā.
Uruveḷa Kassapa, Rādha, and Mogharāja the wise; here three hundred and sixty-two verses are collected in total.
Uruveḷakassapa, Rādha, và Mogharāja bậc hiền trí. Ở đây, ba trăm sáu mươi hai câu kệ đã được thu thập.