Bản dịch
THA -ap541 — Ký Sự về Trưởng Lão Rādha
Rādhattheraapadāna
BJT 5958Trước đây một trăm ngàn kiếp, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc Hiền Trí, đấng hiểu biết về toàn bộ thế giới, bậc Hữu Nhãn đã hiện khởi.
BJT 5959Là bậc giáo giới, là vị làm cho hiểu rõ, là vị giúp cho tất cả chúng sanh vượt qua, được thiện xảo trong việc thuyết giảng, đức Phật đã giúp cho nhiều người vượt qua.
BJT 5960Bậc Thương Tưởng, đấng Bi Mẫn, vị tầm cầu sự lợi ích cho tất cả chúng sanh, cũng đã an trú vào ngũ giới cho tất cả các ngoại đạo đã đi đến.
BJT 5961Như thế, được tô điểm với các vị A-la-hán có năng lực như thế ấy, (thế gian) đã không bị rối loạn và trống vắng các vị ngoại đạo.
BJT 5962Bậc Đại Hiền Trí ấy cao năm mươi tám ratana (14.50 m) tợ như cây cột trụ bằng vàng, có ba mươi hai hảo tướng.
BJT 5963Cho đến khi ấy, tuổi thọ được biết là một trăm ngàn năm. Trong khi tồn tại như thế, Ngài đã giúp cho nhiều người vượt qua.
BJT 5964Khi ấy, là người Bà-la-môn thông suốt về chú thuật ở tại Haṁsavatī, tôi đã đi đến gặp bậc Quý Nhân ấy và đã lắng nghe việc thuyết giảng Giáo Pháp.
BJT 5965Được tự tin ở nơi các hội chúng, đấng Đại Hùng bậc Hướng Đạo đang tuyên bố vị tỳ khưu có tài biện giải ở vào vị thế tối thắng.
BJT 5966Khi ấy, sau khi thể hiện sự tôn kính đến đấng Lãnh Đạo Thế Gian cùng với Hội Chúng, tôi đã quỳ xuống đê đầu ở chân (Ngài) và đã phát nguyện vị thế ấy.
BJT 5967Do đó, đức Thế Tôn, vị có ánh sáng tợ như khối vàng đã nói với tôi bằng giọng nói thu hút (có khả năng) mang đi các phiền não và ô nhiễm rằng:
BJT 5968“Mong sao ngươi có sự an vui, sống thọ. Mong sao ước nguyện được thành tựu cho ngươi. Sự tôn kính đã được ngươi thể hiện đến Ta cùng Hội Chúng thật vô cùng rộng lớn.
BJT 5969Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 5970(Người này) sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, có tên gọi là Rādha.
BJT 5971Được hoan hỷ về chủng tử đức hạnh của ngươi, người con trai dòng Sakya, bậc Nhân Ngưu, đấng Lãnh Đạo ấy sẽ tuyên bố (ngươi là) vị đứng đầu trong số các vị có tài biện giải.”
BJT 5972Nghe được điều ấy, tôi đã trở nên hoan hỷ, có niệm, có tuệ, định tĩnh. Với tâm từ ái, tôi đã phục vụ đấng Chiến Thắng từ đó cho đến hết cuộc đời.
BJT 5973Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 5974Và tôi đã cai quản Thiên quốc ba trăm lần. Và tôi đã trở thành đấng Chuyển Luân Vương năm trăm lần.
BJT 5975Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm. Do nhờ tác động của nghiệp ấy tôi đã được sung sướng ở tất cả các nơi.
BJT 5976Khi đạt đến lần hiện hữu cuối cùng, tôi đã được sanh ra tại kinh thành Giribbajjatrong gia tộc Bà-la-môn không được sung túc, bị thiếu thốn về y phục và thức ăn.
BJT 5977Tôi đã dâng lên một muỗng thức ăn đến vị Sāriputta như thế ấy. Đến khi già nua và lớn tuổi, khi ấy tôi đã đi đến tu viện.
BJT 5978Là người già cả yếu đuối không có thể lực, các vị không ai cho tôi xuất gia. Vì thế, khi ấy tôi đã trở nên thê thảm, cơ thể bị xuống sắc, có sự sầu muộn.
BJT 5979Sau khi nhìn thấy, đấng Đại Bi, bậc Đại Hiền Trí ấy đã nói với tôi rằng: “Này con trai, lý do gì khiến ngươi lại bị khổ đau vì sầu muộn. Hãy trình bày nỗi khổ đau đã sanh lên ở tâm của ngươi.”
BJT 5980“Bạch đấng Anh Hùng, con không đạt được sự xuất gia trong Giáo Pháp khéo được thuyết giảng của Ngài. Vì thế, con trở nên thê thảm vì sầu muộn. Bạch đấng Lãnh Đạo, xin Ngài hãy là nơi nương nhờ (của con).”
BJT 5981Khi ấy, bậc Hiền Trí tối thượng đã triệu tập các vị tỳ khưu lại và đã hỏi rằng: “Những vị nào nhớ được hành động hướng thượng của người này, những vị ấy hãy nói lên.”
BJT 5982Khi ấy, vị Sāriputta đã nói rằng: “Con nhớ được hành động của người này. Trong khi con đang đi khất thực, ông đã bảo dâng cúng một muỗng thức ăn đến con.”
BJT 5983“Lành thay! Lành thay! Này Sāriputta, ngươi quả là người biết ơn. Ngươi hãy cho người Bà-la-môn lớn tuổi này xuất gia. Người này sẽ là chủng tử tốt.”
BJT 5984Do đó, tôi đã đạt được sự xuất gia và sự tu lên bậc trên với lời tuyên ngôn hành sự. Trong thời gian không bao lâu, tôi đã thành tựu sự đoạn tận các lậu hoặc.
BJT 5985Vì tôi lắng nghe lời nói của bậc Hiền Trí một cách nghiêm chỉnh, do đó đấng Chiến Thắng đã thiết lập tôi là vị đứng đầu trong số các vị có tài biện giải.
BJT 5986Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5987Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5988Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Rādha đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Rādha là phần thứ chín.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
9. Rādhattheraapadānaṃ
9. The Apadāna of the Elder Rādha
9. Thiên sử về trưởng lão Rādha
296.
296.
296.
‘‘Padumuttaro nāma jino, sabbalokavidū muni;
Ito satasahassamhi, kappe uppajji cakkhumā.
One hundred thousand eons from this one, the Conqueror named Padumuttara, knower of all worlds, the sage, the one with vision, arose.
“Vị Toàn Giác tên là Padumuttara, bậc Mâu-ni thấu suốt tất cả thế gian, bậc có nhãn lực, đã sanh ra ở một trăm ngàn kiếp tính từ đây.
297.
297.
297.
‘‘Ovādako viññāpako, tārako sabbapāṇinaṃ;
Desanākusalo buddho, tāresi janataṃ bahuṃ.
An admonisher, an instructor, a savior of all beings, the Buddha, skilled in teaching, ferried a great multitude across.
Là bậc giáo huấn, bậc làm cho hiểu rõ, bậc cứu độ tất cả chúng sanh, đức Phật thiện xảo trong việc thuyết giảng đã cứu vớt nhiều chúng sanh.
298.
298.
298.
‘‘Anukampako kāruṇiko, hitesī sabbapāṇinaṃ;
Sampatte titthiye sabbe, pañcasīle patiṭṭhapi.
Compassionate, merciful, seeking the welfare of all beings, he established all the sectarians who had arrived in the five precepts.
Là bậc thương xót, bậc bi mẫn, bậc mưu cầu lợi ích cho tất cả chúng sanh, Ngài đã an lập tất cả các du sĩ ngoại đạo đã tìm đến trong năm giới.
299.
299.
299.
‘‘Evaṃ nirākulaṃ āsi, suññataṃ titthiyehi ca;
Vicittaṃ arahantehi, vasībhūtehi tādibhi.
Thus it was untroubled and empty of sectarians, and resplendent with arahants who had attained mastery and were steadfast.
Như vậy, (giáo Pháp) đã được không rối ren, và đã được trống không các du sĩ ngoại đạo, và đã được rực rỡ bởi các vị A-la-hán là những bậc đã đạt đến sự thuần thục, những bậc như thế ấy.
300.
300.
300.
‘‘Ratanānaṭṭhapaññāsaṃ, uggato so mahāmuni;
Kañcanagghiyasaṅkāso, bāttiṃsavaralakkhaṇo.
That great sage was fifty-eight cubits tall, like a golden pillar, possessing the thirty-two excellent marks.
Vị Đại Mâu-ni ấy cao năm mươi tám hắc-tay, tương tợ như trụ bằng vàng, có được ba mươi hai tướng tốt cao quý.
301.
301.
301.
‘‘Vassasatasahassāni, āyu vijjati tāvade;
Tāvatā tiṭṭhamāno so, tāresi janataṃ bahuṃ.
His lifespan at that time was one hundred thousand years. Remaining for that long, he ferried a great multitude across.
Vào lúc bấy giờ, tuổi thọ được tồn tại là một trăm ngàn năm. Vị ấy, trong khi an trú chừng ấy thời gian, đã cứu vớt nhiều chúng sanh.
302.
302.
302.
‘‘Tadāhaṃ haṃsavatiyaṃ, brāhmaṇo mantapāragū;
Upecca taṃ naravaraṃ, assosiṃ dhammadesanaṃ.
At that time in Haṃsavatī, I was a brahmin, a master of the Vedas. Having approached that best of men, I heard his teaching of the Dhamma.
Lúc bấy giờ, tôi là vị Bà-la-môn thông suốt các câu chú ở tại thành phố Haṃsāvatī. Sau khi đi đến gần bậc Nhân Ngưu ấy, tôi đã được nghe sự thuyết giảng Chánh Pháp.
303.
303.
303.
‘‘Paññapentaṃ mahāvīraṃ, parisāsu visāradaṃ;
Paṭibhāneyyakaṃ bhikkhuṃ, etadagge vināyakaṃ.
I saw the Great Hero, the Leader, confident in the assemblies, as he was appointing a monk of ready wit to the foremost position.
(Tôi đã thấy) bậc Đại Anh Hùng, bậc Dẫn Dắt, tự tin giữa các hội chúng, đang chỉ định vị Tỳ-khưu có biện tài ứng đối vào vị trí tối thượng này.
304.
304.
304.
‘‘Tadāhaṃ kāraṃ katvāna, sasaṅghe lokanāyake;
Nipacca sirasā pāde, taṃ ṭhānaṃ abhipatthayiṃ.
Then, having made an offering to the world-leader together with the Saṅgha, and having fallen at his feet with my head, I aspired for that position.
Lúc bấy giờ, sau khi thực hiện sự cúng dường đến bậc Lãnh Đạo thế gian cùng với Tăng chúng, tôi đã đảnh lễ dưới chân ngài bằng đầu của mình và đã ước nguyện địa vị ấy.
305.
305.
305.
‘‘Tato maṃ bhagavā āha, siṅgīnikkhasamappabho;
Sarena rajanīyena, kilesamalahārinā.
Then the Blessed One, whose radiance was like refined gold, spoke to me with a pleasing voice that removes the stain of defilements:
Sau đó, đức Thế Tôn có ánh sáng tương tợ như vàng siṅgī đã nói với tôi bằng giọng nói làm hài lòng, loại trừ được các cấu uế phiền não.
306.
306.
306.
‘‘‘Sukhī bhavassu dīghāyu, sijjhatu paṇidhī tava;
Sasaṅghe me kataṃ kāraṃ, atīva vipulaṃ tayā.
‘The offering made by you to me together with the Saṅgha is exceedingly vast. Be happy, be long-lived! May your aspiration succeed.’
‘Bởi ngươi, sự cúng dường vô cùng to lớn đã được thực hiện đến ta cùng với Tăng chúng. Ngươi hãy có được sự an lạc, hãy được sống lâu. Mong rằng lời ước nguyện của ngươi được thành tựu.
307.
307.
307.
‘‘‘Satasahassito kappe, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
‘One hundred thousand eons from now, born of the Okkāka clan, a Teacher will be in the world, Gotama by name and clan.’
‘Một trăm ngàn kiếp tính từ đây, vị Đạo Sư sanh trong dòng dõi Okkāka, có tên là Gotama theo họ tộc, sẽ có mặt ở trên đời.
308.
308.
308.
‘‘‘Tassa dhammesu dāyādo, oraso dhammanimmito;
Rādhoti nāmadheyyena, hessati satthu sāvako.
‘An heir to his Dhamma, a true-born son created by the Dhamma, he will be a disciple of the Teacher by the name of Rādha.’
‘Vị ấy sẽ là người thừa tự trong các Pháp của vị Đạo Sư ấy, là người con ruột do Chánh Pháp tạo ra, sẽ là vị Thinh văn của đức Đạo Sư với tên gọi là Rādha.
309.
309.
309.
‘‘‘Sa te hetuguṇe tuṭṭho, sakyaputto narāsabho †;
Paṭibhāneyyakānaggaṃ, paññapessati nāyako’.
‘Pleased with your causal qualities, he, the son of the Sakyans, the bull among men, the leader, will declare you foremost among those with ready wit.’
‘Vị Lãnh Đạo ấy, bậc Nhân Ngưu, người con của dòng Sakya, do hài lòng về các đức tánh là nhân duyên của ngươi, sẽ tuyên bố (ngươi) là tối thượng về tài ứng đối.’
310.
310.
310.
‘‘Taṃ sutvā mudito hutvā, yāvajīvaṃ tadā jinaṃ;
Mettacitto paricariṃ, sato paññāsamāhito.
Having heard that, I was joyful. Then, for as long as I lived, with a mind of loving-kindness, mindful, and composed in wisdom, I served the Conqueror.
Sau khi nghe điều ấy, tôi đã trở nên hoan hỷ. Lúc bấy giờ, tôi đã hầu hạ bậc Toàn Giác cho đến trọn đời, là người có chánh niệm, có trí tuệ, có tâm từ.
311.
311.
311.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
Through that well-done deed, and through my volitions and aspirations, having abandoned the human body, I went to Tāvatiṃsa.
Do nghiệp đã được làm tốt đẹp ấy và do các tác ý và ước nguyện, sau khi từ bỏ thân người, tôi đã đi đến cõi trời Tāvatiṃsa (Đao-lợi).
312.
312.
312.
‘‘Satānaṃ tīṇikkhattuñca, devarajjamakārayiṃ;
Satānaṃ pañcakkhattuñca, cakkavattī ahosahaṃ.
Three hundred times I exercised the sovereignty of the devas, and five hundred times I was a wheel-turning monarch.
Và tôi đã trị vì vương quốc của chư Thiên được ba trăm lần. Và tôi đã là vị Chuyển Luân Vương được năm trăm lần.
313.
313.
313.
‘‘Padesarajjaṃ vipulaṃ, gaṇanāto asaṅkhiyaṃ;
Sabbattha sukhito āsiṃ, tassa kammassa vāhasā.
My local sovereignty was vast, uncountable by way of calculation. By the power of that kamma, I was happy in all existences.
Vương quốc ở các địa phương thì rộng lớn, không thể đếm được về số lượng. Do năng lực của nghiệp ấy, tôi đã được an lạc ở khắp mọi nơi.
314.
314.
314.
‘‘Pacchime bhave sampatte, giribbajapuruttame;
Jāto vippakule niddhe, vikalacchādanāsane.
When I reached my final existence, I was born in the excellent city of Giribbaja into an impoverished brahmin family, lacking in clothing and food.
Khi đã đạt đến kiếp sống cuối cùng, tôi đã sanh ra ở thành phố Giribbaja cao quý, trong gia đình Bà-la-môn nghèo khó, thiếu thốn y phục và vật thực.
315.
315.
315.
‘‘Kaṭacchubhikkhaṃ pādāsiṃ, sāriputtassa tādino;
Yadā jiṇṇo ca vuddho ca, tadārāmamupāgamiṃ.
I gave a ladleful of almsfood to Sāriputta, the steadfast one. When I was old and aged, I went to the monastery.
Tôi đã dâng cúng một muỗng vật thực đến ngài Sāriputta là bậc như thế ấy. Khi đã già nua và lớn tuổi, lúc bấy giờ tôi đã đi đến tu viện.
316.
316.
316.
‘‘Pabbajati na maṃ koci †, jiṇṇadubbalathāmakaṃ;
Tena dīno vivaṇṇaṅgo †, soko cāsiṃ tadā ahaṃ.
No one would ordain me, for I was old, weak, and feeble. Because of that I was miserable and of discolored appearance, and I became sorrowful.
Không một ai cho tôi xuất gia, là người già nua, yếu ớt, và suy nhược. Do đó, lúc bấy giờ tôi đã trở nên khốn khổ, có dung sắc xấu xí, và có sự sầu muộn.
317.
317.
317.
‘‘Disvā mahākāruṇiko, mamamāha † mahāmuni;
‘Kimatthaṃ puttasokaṭṭo, brūhi te cittajaṃ rujaṃ’.
Seeing me, the Greatly Compassionate One, the Great Sage, said to me: ‘Why, my son, are you afflicted with sorrow? Tell me of the sickness born of your mind.’
Vị Đại Mâu-ni, bậc có lòng đại bi, sau khi nhìn thấy tôi đã nói rằng: ‘Này con, vì sao con bị sầu muộn? Hãy nói ra chứng bệnh sanh từ tâm của con.’
318.
318.
318.
‘‘‘Pabbajjaṃ na labhe vīra, svākkhāte tava sāsane;
Tena sokena dīnosmi, saraṇaṃ hohi nāyaka’.
‘I cannot obtain the going forth, O Hero, in your well-expounded Dispensation. Because of this sorrow I am miserable. Be my refuge, O Leader!’
‘Thưa bậc Anh Hùng, con không nhận được sự xuất gia ở trong giáo Pháp đã được Ngài khéo thuyết giảng. Do sự sầu muộn ấy, con bị khốn khổ. Thưa bậc Lãnh Đạo, xin Ngài hãy là nơi nương tựa (cho con).’
319.
319.
319.
‘‘Tadā bhikkhū samānetvā, apucchi munisattamo;
‘Imassa adhikāraṃ ye, saranti byāharantu te’.
Then, having assembled the bhikkhus, the best of sages asked: ‘Whoever remembers a service done by this man, let them speak.’
Lúc bấy giờ, sau khi triệu tập các vị Tỳ khưu, bậc Thánh Mâu-ni cao cả đã hỏi rằng: ‘Những ai nhớ được sự giúp đỡ của người này, các vị ấy hãy nói ra.’
320.
320.
320.
‘‘Sāriputto tadāvoca, ‘kāramassa sarāmahaṃ;
Kaṭacchubhikkhaṃ dāpesi, piṇḍāya carato mama’.
Then Sāriputta spoke: ‘I remember a service done by him. He gave me a ladleful of almsfood while I was wandering for alms.’
Lúc bấy giờ, ngài Sāriputta đã nói rằng: ‘Con nhớ được sự giúp đỡ của người này. Vị ấy đã dâng cúng một muỗng vật thực đến con đang trong khi đi khất thực.’
321.
321.
321.
‘‘‘Sādhu sādhu kataññūsi, sāriputta imaṃ tuvaṃ;
Pabbājehi dijaṃ vuḍḍhaṃ, hessatājāniyo ayaṃ’.
‘Good, good, Sāriputta, you are grateful! You should ordain this old brahmin. This one will become a noble thoroughbred.’
‘Lành thay, lành thay, Sāriputta, ngươi là người biết ơn. Ngươi hãy cho vị Bà-la-môn lớn tuổi này xuất gia. Vị này sẽ là người cao quý.’
322.
322.
322.
‘‘Tato alatthaṃ pabbajjaṃ, kammavācopasampadaṃ;
Na cireneva kālena, pāpuṇiṃ āsavakkhayaṃ.
Then I obtained the going forth and the higher ordination through a formal act. Before long, I attained the destruction of the taints.
Sau đó, tôi đã nhận được sự xuất gia, sự tu lên bậc trên bằng lời tuyên bố của nghiệp sự. Và không bao lâu, tôi đã đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc.
323.
323.
323.
‘‘Sakkaccaṃ munino vākyaṃ, suṇāmi mudito yato;
Paṭibhāneyyakānaggaṃ, tato maṃ ṭhapayī jino.
Because I listened respectfully and joyfully to the Sage’s words, the Conqueror therefore appointed me foremost among those with ready wit.
“Bởi vì tôi đã hoan hỷ lắng nghe lời dạy của bậc Mâu Ni một cách kính cẩn; do đó, đấng Chiến Thắng đã đặt tôi vào địa vị tối thượng trong số những vị có tài biện giải.
324.
324.
324.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burnt up… I dwell free of taints.
“Các phiền não của tôi đã được đốt cháy… (vân vân)… tôi sống không còn lậu hoặc.
325.
325.
325.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
A good coming indeed was mine… the Buddha’s teaching has been done.
“Sự đến của tôi thật là khéo đến… (vân vân)… giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
326.
326.
326.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the Buddha’s teaching has been done.
“Bốn Tuệ Phân Tích… (vân vân)… giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā rādho thero imā gāthāyo
Thus indeed the Venerable Elder Rādha spoke these verses:
Như vậy, quả thật trưởng lão Rādha khả kính đã nói những câu kệ này
Abhāsitthāti.
He spoke thus.
đã nói lên như thế.
Rādhattherassāpadānaṃ navamaṃ.
The Ninth Apadāna of the Elder Rādha.
Phẩm truyện về trưởng lão Rādha, thứ chín.