Bản dịch
THA -ap540 — Ký Sự về Trưởng Lão Uruvelakassapa
8 Uruveḷakassapattheraapadāna
BJT 5913Trước đây một trăm ngàn kiếp, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc Hiền Trí, đấng hiểu biết về toàn bộ thế giới, bậc Hữu Nhãn đã hiện khởi.
BJT 5914Là bậc giáo giới, là vị làm cho hiểu rõ, là vị giúp cho tất cả chúng sanh vượt qua, được thiện xảo trong việc thuyết giảng, đức Phật đã giúp cho nhiều người vượt qua.
BJT 5915Bậc Thương Tưởng, đấng Bi Mẫn, vị tầm cầu sự lợi ích cho tất cả chúng sanh, cũng đã an trú vào ngũ giới cho tất cả các ngoại đạo đã đi đến.
BJT 5916Như thế, được tô điểm với các vị A-la-hán có năng lực như thế ấy, (thế gian) đã không bị rối loạn và trống vắng các vị ngoại đạo.
BJT 5917Bậc Đại Hiền Trí ấy cao năm mươi tám ratana (14.50 m) tợ như cây cột trụ bằng vàng, có ba mươi hai hảo tướng.
BJT 5918Cho đến khi ấy, tuổi thọ được biết là một trăm ngàn năm. Trong khi tồn tại như thế, Ngài đã giúp cho nhiều người vượt qua.
BJT 5919Khi ấy, là người Bà-la-môn được công nhận là tốt lành ở tại Haṁsavatī, tôi đã đi đến gặp đấng Quang Đăng của thế gian và đã lắng nghe việc thuyết giảng Giáo Pháp.
BJT 5920Khi ấy, Ngài đang thiết lập vị Thinh Văn, là bậc đại nhân, có hội chúng lớn vào vị thế tối thắng. Tôi đã lắng nghe và đã trở nên hoan hỷ.
BJT 5921Tôi đã thỉnh mời đấng Chiến Thắng vĩ đại cùng với đoàn tùy tùng đông đảo. Cùng với một ngàn vị Bà-la-môn, tôi đã dâng cúng vật thí.
BJT 5922Sau khi dâng cúng cuộc đại thí, tôi đã đảnh lễ đấng Lãnh Đạo rồi đã đứng ở một bên. Được mừng rỡ, tôi đã nói lời nói này:
BJT 5923“Bạch đấng Anh Hùng, với đức tin của con ở Ngài và với công đức của việc làm hướng thượng, mong sao con luôn có được hội chúng đông đảo khi sanh ra ở nơi này nơi khác.”
BJT 5924Khi ấy, với âm điệu ngọt ngào được rống lên bởi loài voi, được hót lên bởi loài chim karavīka, bậc Đạo Sư đã nói với hội chúng rằng: “Các ngươi hãy nhìn xem người Bà-la-môn này.
BJT 5925(Người này) có màu da vàng chói, có cánh tay lực lưỡng, có khuôn mặt và ánh mắt như đóa hoa sen, có lông dựng đứng sanh lên ở cơ thể, được mừng rỡ, có niềm tin vào đức hạnh của Ta.
BJT 5926Người này phát nguyện vị thế của vị tỳ khưu có âm thanh của loài sư tử. Trong thời vị lai xa xăm người này sẽ đạt được điều ước nguyện ấy.
BJT 5927Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 5928(Người này) sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, có tên là Kassapa.”
BJT 5929Trước đây chín mươi hai kiếp, đã có đấng Đạo Sư, bậc Vô Thượng, đấng Lãnh Đạo Thế Gian Phussa, không có vị tương tợ, không có ai sánh bằng.
BJT 5930Và sau khi đã tiêu diệt tất cả sự tăm tối, đã tháo gở mối rối rắm lớn lao, trong lúc làm hài lòng thế gian luôn cả chư Thiên, Ngài đã đổ mưa cơn mưa Bất Tử.
BJT 5931Chính vào lúc ấy, chúng tôi đã là hàng hậu duệ của đức vua ở thành Bārāṇasī. Tất cả ba anh em chúng tôi đều được thân cận đối với đức vua.
BJT 5932Chúng tôi có cơ thể và dáng vóc của vị anh hùng, có sức mạnh, không bị đánh bại ở chiến trường. Khi ấy, vùng biên địa bị dấy loạn, vị lãnh chúa đã nói với chúng tôi rằng:
BJT 5933“Này các con, hãy đi đến vùng biên địa, hãy càn quét lực lượng lục lâm, hãy làm cho vương quốc của ta được thanh bình, rồi hãy quay trở về và trình báo.”
BJT 5934Do đó, chúng tôi đã nói rằng: “Nếu bệ hạ có thể ban đấng Lãnh Đạo cho chúng con về việc hộ độ, do việc đó chúng con sẽ làm tốt nhiệm vụ cho bệ hạ.”
BJT 5935Do đó, chúng tôi đã đạt được điều ân huệ. Được phái đi bởi vị quân vương, chúng tôi đã làm cho vùng biên địa buông khí giới và đã đi đến gặp đức vua lần nữa.
BJT 5936Chúng tôi đã thỉnh cầu đức vua về việc hộ độ bậc Đạo Sư và đã đạt được đấng Lãnh Đạo Thế Gian, bậc Hiền Trí Anh Hùng, chúng tôi đã cung phụng Ngài cho đến hết cuộc đời.
BJT 5937(Chúng tôi đã dâng cúng) các tấm vải vô cùng giá trị, các vị nếm thượng hạng, các chỗ nằm ngồi đáng yêu, và các dược phẩm có lợi ích.
BJT 5938Sau khi dâng cúng đến bậc Hiền Trí cùng với Hội Chúng các phẩm vật được phát sanh đúng pháp của chúng tôi, chúng tôi là những người có giới, có lòng bi mẫn, có tâm gắn bó với sự tu tập.
BJT 5939Chúng tôi đã luôn luôn phục vụ đấng Lãnh Đạo với tâm từ ái. Khi bậc Cao Cả của thế gian ấy Niết Bàn, chúng tôi đã cúng dường tùy theo năng lực.
BJT 5940Mệnh chung từ nơi ấy, tất cả chúng tôi đã đi đến cõi trời Đẩu Suất, đã thọ hưởng sự an lạc lớn lao ở tại nơi ấy; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 5941Giống như người làm trò ảo thuật ở sân khấu biểu diễn nhiều hình thức, tương tợ như thế trong khi xoay vần ở hiện hữu tôi đã là vị chúa tể xứ Videha.
BJT 59425943. Có thiên hướng tà kiến theo lời nói của đạo sĩ lõa thể tên Guṇa, tôi đã bước lên đạo lộ đi địa ngục. Tôi đã không chấp nhận lời khuyên nhủ của người con gái của tôi là Rujā. Trong khi được chỉ dạy theo nhiều cách thức bởi đấng Phạm Thiên Nārada, tôi đã từ bỏ tà kiến ác xấu.
BJT 5944Sau khi đã làm tròn đủ mười đường lối về nghiệp (thiện) một cách đặc biệt, tôi đã từ bỏ xác thân và đã đi đến cõi trời như là (đi đến) nhà của chính mình.
BJT 5945Khi đạt đến lần hiện hữu cuối cùng, tôi đã là thân quyến của đấng Phạm Thiên (dòng dõi Bà-la-môn). Tôi đã được sanh ra trong đại gia tộc Bà-la-môn ở thành phố Bārāṇasī thịnh vượng.
BJT 5846Bị hãi sợ về sự chết, sự bệnh, và sự già, tôi đã từ bỏ tài sản lớn lao, trong lúc tầm cầu đạo lộ Niết Bàn, tôi đã xuất gia ở những đạo sĩ tóc bện.
BJT 5947Khi ấy, hai người em trai của tôi đã xuất gia cùng với tôi. Tôi đã tạo dựng khu ẩn cư ở tại Uruvelā và đã cư ngụ (ở đó).
BJT 5948Kassapa là tên theo gia tộc và là người cư trú ở Uruvelā, do đó đã có sự định đặt tên cho tôi là Uruvelakassapa.
BJT 5949Người em trai của tôi ở lân cận khu vực Nādī có tên là Nādīkassapa và (người em trai) ở lân cận khu vực Gayā có tên là Gayākassapa.
BJT 5950Người (em trai) nhỏ nhất có hai trăm, người em trai giữa có ba trăm, tôi có năm trăm đệ tử không thiếu sót, tất cả đều đi theo (sự hướng dẫn của) tôi.
BJT 5952Cùng nhóm tùy tùng một ngàn người, tôi đã trở thành vị tỳ khưu theo lối “được gọi đến.” Cùng với tất cả các vị ấy, tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
BJT 59535954. Các vị ấy và luôn cả nhiều người đệ tử khác đã tháp tùng theo tôi. Và tôi có khả năng để chỉ dạy. Do đó trong sự hiện diện của đại chúng, bậc Ẩn Sĩ tối thượng đã thiết lập tôi vào vị thế tối thắng. Ôi việc tôn kính đã được thực hiện ở đức Phật đã có quả báu sanh lên cho tôi!
BJT 5955Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5956Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5957Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Uruvelakassapa đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Uruvelakassapa là phần thứ tám.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
8. Uruveḷakassapattheraapadānaṃ
8. The Apadāna of the Elder Uruveḷakassapa
8. Phẩm truyện về Trưởng lão Uruveḷakassapa
251.
251.
251.
‘‘Padumuttaro nāma jino, sabbalokavidū muni;
Ito satasahassamhi, kappe uppajji cakkhumā.
8. One hundred thousand aeons ago, the Conqueror named Padumuttara arose—knower of all worlds, the sage, the One with Vision.
“Cách đây một trăm ngàn kiếp, đã xuất hiện đấng Toàn Giác, bậc Mâu-ni, bậc có Thiên nhãn, tên là Padumuttara, là đấng Chiến Thắng, bậc thấu rõ tất cả thế gian.”
252.
252.
252.
‘‘Ovādako viññāpako, tārako sabbapāṇinaṃ;
Desanākusalo buddho, tāresi janataṃ bahuṃ.
An advisor, an instructor, a rescuer of all living beings, the Buddha, skilled in exposition, helped many people cross over.
“Ngài là bậc khuyên dạy, bậc chỉ giáo, bậc cứu độ tất cả chúng sanh. Đức Phật, bậc thiện xảo trong thuyết pháp, đã cứu vớt nhiều chúng sanh.”
253.
253.
253.
‘‘Anukampako kāruṇiko, hitesī sabbapāṇinaṃ;
Sampatte titthiye sabbe, pañcasīle patiṭṭhapi.
Compassionate, merciful, seeking the welfare of all living beings, he established all the sectarians who approached him in the five precepts.
“Ngài là bậc có lòng thương xót, bậc bi mẫn, bậc mưu cầu lợi ích cho tất cả chúng sanh. Ngài đã an lập tất cả các người ngoại đạo tìm đến trong năm giới.”
254.
254.
254.
‘‘Evaṃ nirākulaṃ āsi, suññataṃ titthiyehi ca;
Vicittaṃ arahantehi, vasībhūtehi tādibhi.
Thus it was untroubled, empty of sectarians, and adorned with Arahants who were self-controlled and steadfast.
“Như vậy, (giáo pháp) đã được không bị khuấy rối, và đã trống không các người ngoại đạo. (Giáo pháp) đã được trang nghiêm bởi các vị A-la-hán, là các bậc đã tự chủ, các bậc như thế ấy.”
255.
255.
255.
‘‘Ratanānaṭṭhapaññāsaṃ, uggato so mahāmuni;
Kañcanagghiyasaṅkāso, bāttiṃsavaralakkhaṇo.
That great sage was fifty-eight cubits tall, like a golden monument, possessing the thirty-two excellent marks.
“Vị Đại Mâu-ni ấy cao năm mươi tám ratana (cùi chỏ), giống như ngọn núi vàng, và có ba mươi hai tướng tốt của bậc vĩ nhân.”
256.
256.
256.
‘‘Vassasatasahassāni, āyu vijjati tāvade;
Tāvatā tiṭṭhamāno so, tāresi janataṃ bahuṃ.
At that time, his lifespan was one hundred thousand years. Remaining for that long, he helped many people cross over.
“Vào lúc ấy, tuổi thọ là một trăm ngàn năm. Ngài đã sống trong khoảng thời gian ấy và đã cứu vớt nhiều chúng sanh.”
257.
257.
257.
‘‘Tadāhaṃ haṃsavatiyā, brāhmaṇo sādhusammato;
Upecca lokapajjotaṃ, assosiṃ dhammadesanaṃ.
At that time, in the city of Haṃsavatī, I was a brahmin regarded as virtuous. Approaching the Light of the World, I heard the Dhamma discourse.
“Khi ấy, tại thành Haṃsavatī, ta là một vị Bà-la-môn được xem là người tốt. Ta đã đến gần ngọn đèn của thế gian và đã được nghe pháp thoại.”
258.
258.
258.
‘‘Tadā mahāparisatiṃ, mahāparisasāvakaṃ;
Ṭhapentaṃ etadaggamhi, sutvāna mudito ahaṃ.
At that time, having heard him establish a disciple with a great retinue as foremost in the great assembly, I was delighted.
“Khi ấy, trong đại chúng, ta đã được nghe (đức Phật) đặt một vị Thinh văn có đại chúng đông đảo vào địa vị đệ nhất, ta đã được hoan hỷ.”
259.
259.
259.
‘‘Mahatā parivārena, nimantetvā mahājinaṃ;
Brāhmaṇānaṃ sahassena, sahadānamadāsahaṃ.
Having invited the Great Conqueror, I, with a great retinue and together with a thousand brahmins, gave a gift.
“Với đoàn tùy tùng đông đảo, ta đã thỉnh mời đấng Đại Thắng, và cùng với một ngàn vị Bà-la-môn, ta đã thực hiện việc bố thí.”
260.
260.
260.
‘‘Mahādānaṃ daditvāna, abhivādiya nāyakaṃ;
Ekamantaṃ ṭhito haṭṭho, idaṃ vacanamabraviṃ.
Having given a great gift and paid homage to the Leader, I stood to one side, joyful, and spoke these words:
“Sau khi thực hiện việc đại thí, sau khi đảnh lễ bậc Lãnh Đạo, ta đứng một bên, lòng đầy hoan hỷ, và đã nói lên lời này.”
261.
261.
261.
‘‘‘Tayi saddhāya me vīra, adhikāraguṇena ca;
Parisā mahatī hotu, nibbattassa tahiṃ tahiṃ’.
‘O Hero, by my faith in you and by the virtue of this aspiration, may my retinue be great wherever I am reborn.’
“‘Thưa đấng Anh Hùng, do lòng tịnh tín của con nơi Ngài và do công đức của sự phát nguyện, mong rằng hội chúng của con được đông đảo ở bất cứ nơi nào con được tái sanh.’”
262.
262.
262.
‘‘Tadā avoca parisaṃ, gajagajjitasussaro;
Karavīkaruto satthā, ‘etaṃ passatha brāhmaṇaṃ.
Then the Teacher, with a fine voice like a trumpeting elephant and a call like the karavīka bird, addressed the assembly: ‘Behold this brahmin.’
“Khi ấy, bậc Đạo Sư có giọng nói hay như tiếng rống của voi chúa, có âm thanh như tiếng chim karavīka, đã nói với hội chúng: ‘Hãy nhìn vị Bà-la-môn này.”
263.
263.
263.
‘‘‘Hemavaṇṇaṃ mahābāhuṃ, kamalānanalocanaṃ;
Udaggatanujaṃ haṭṭhaṃ, saddhavantaṃ guṇe mama.
‘He is of golden complexion, mighty-armed, with a face and eyes like a lotus, with body-hair standing on end, joyful, and has faith in my virtues.
“‘(Vị ấy) có màu da vàng ròng, có cánh tay to lớn, có gương mặt và đôi mắt như hoa sen, có lông trên mình dựng đứng, lòng đầy hoan hỷ, và có đức tin nơi các phẩm hạnh của ta.’”
264.
264.
264.
‘‘‘Esa patthayate ṭhānaṃ †, sīhaghosassa bhikkhuno;
Anāgatamhi addhāne, lacchase taṃ manorathaṃ.
‘He aspires to the position of the bhikkhu Sīhaghosa. In the future you will attain that wish of your heart.
“‘Vị này đang phát nguyện địa vị của vị Tỳ khưu Sīhaghosa. Trong thời vị lai, vị ấy sẽ đạt được điều mong ước ấy.’”
265.
265.
265.
‘‘‘Satasahassito kappe, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
‘One hundred thousand aeons from now, one born in the Okkāka clan, Gotama by clan name, will be the Teacher in the world.
“‘Sau một trăm ngàn kiếp nữa, một vị Đạo Sư sẽ xuất hiện ở thế gian, sanh ra từ dòng tộc Okkāka, có tên tộc là Gotama.’”
266.
266.
266.
‘‘‘Tassa dhammesu dāyādo, oraso dhammanimmito;
Kassapo nāma gottena, hessati satthu sāvako’.
‘He will be an heir to his Dhamma, a legitimate son created by the Dhamma. Kassapa will be his clan name, and he will be a disciple of the Teacher.’
“‘Vị ấy sẽ là người thừa tự trong giáo pháp của Ngài, là người con đích thực do Pháp sanh ra, là vị Thinh văn của bậc Đạo Sư, có tên tộc là Kassapa.’”
267.
267.
267.
‘‘Ito dvenavute kappe, ahu satthā anuttaro;
Anūpamo asadiso, phusso lokagganāyako.
Ninety-two aeons from this one, there arose an unsurpassed Teacher, incomparable and unequalled: Phussa, the guide who leads the world to the supreme state.
Cách đây chín mươi hai đại kiếp, đã có bậc Đạo Sư Phussa, bậc Vô Thượng, không thể sánh bằng, không ai bì kịp, là bậc Lãnh Đạo Tối Thượng của thế gian.
268.
268.
268.
‘‘So ca sabbaṃ tamaṃ hantvā, vijaṭetvā mahājaṭaṃ;
Vassate amataṃ vuṭṭhiṃ, tappayanto sadevakaṃ.
And he, having dispelled all darkness and disentangled the great tangle, rains down the rain of the deathless, satisfying the world with its devas.
Và vị ấy, sau khi diệt trừ tất cả bóng tối, gỡ rối đám rối lớn, đã ban cơn mưa bất tử, làm cho thế giới chư Thiên và nhân loại được thỏa mãn.
269.
269.
269.
‘‘Tadā hi bārāṇasiyaṃ, rājā paccā ahumhase;
Bhātaromha tayo sabbe, saṃvisaṭṭhāva rājino.
At that time, in Bārāṇasī, we were the king's sons; we were all three brothers, intimate with the king.
Khi ấy, tại thành Bārāṇasī, chúng tôi là con của đức vua. Tất cả ba anh em chúng tôi đều là những người thân tín của đức vua.
270.
270.
270.
‘‘Vīraṅgarūpā balino, saṅgāme aparājitā;
Tadā kupitapaccanto †, amhe āha mahīpati.
We were heroic in form, powerful, and unconquered in battle. At that time, the border region was in revolt, and the king said to us:
Có thân hình dũng mãnh, đầy sức mạnh, không thể bị đánh bại trong trận chiến. Khi ấy, vùng biên thùy nổi loạn, đức vua đã nói với chúng tôi.
271.
271.
271.
‘‘‘Etha gantvāna paccantaṃ, sodhetvā aṭṭavībalaṃ;
Khemaṃ vijiritaṃ katvā, puna dethāti bhāsatha’.
‘Go to the border region, and having cleared out the forest forces and made my territory secure, restore it to me again,’ thus he spoke.
‘Hãy đi đến vùng biên thùy, sau khi dẹp yên lực lượng trong rừng, hãy làm cho vương quốc của ta được an ổn rồi trao lại,’ ngài đã nói như vậy.
272.
272.
272.
‘‘Tato mayaṃ avocumha, yadi deyyāsi nāyakaṃ;
Upaṭṭhānāya amhākaṃ, sādhayissāma vo tato.
Then we said: ‘If you would grant the Leader to us for attendance, then we shall accomplish your task.’
Khi ấy, chúng tôi đã tâu rằng: ‘Nếu bệ hạ cho phép chúng con được phụng sự bậc Lãnh Đạo, thì khi đó chúng con sẽ hoàn thành công việc của bệ hạ.’
273.
273.
273.
‘‘Tato mayaṃ laddhavarā, bhūmipālena pesitā;
Nikkhittasatthaṃ paccantaṃ, katvā punarupacca taṃ.
Then we, having received the boon and been sent by the king, made the border region lay down its arms and approached him again.
Khi ấy, chúng tôi, sau khi nhận được sự cho phép, được đức vua phái đi, đã làm cho vùng biên thùy phải buông bỏ vũ khí, rồi lại đến gần vị ấy.
274.
274.
274.
‘‘Yācitvā satthupaṭṭhānaṃ, rājānaṃ lokanāyakaṃ;
Munivīraṃ labhitvāna, yāvajīvaṃ yajimha taṃ.
Having requested attendance on the Teacher from the king, and having received the noble sage, the guide of the world, we honored him for our entire lives.
Sau khi thỉnh cầu đức vua cho phép phụng sự bậc Đạo Sư, bậc Lãnh Đạo thế gian, và sau khi được (phụng sự) bậc Thánh Hùng, chúng tôi đã cúng dường vị ấy trọn đời.
275.
275.
275.
‘‘Mahagghāni ca vatthāni, paṇītāni rasāni ca;
Senāsanāni rammāni, bhesajjāni hitāni ca.
Costly cloths, exquisite flavors, delightful lodgings, and beneficial medicines—
Những y phục giá trị lớn, những vật thực hảo hạng, những sàng tọa khả ái, và những dược phẩm hữu ích.
276.
276.
276.
‘‘Datvā sasaṅghamunino †, dhammenuppāditāni no;
Sīlavanto kāruṇikā, bhāvanāyuttamānasā.
—all righteously acquired by us, we gave to the Sage with his Saṅgha. We were virtuous, compassionate, with minds intent on mental cultivation.
Chúng tôi, những người có giới hạnh, có lòng bi mẫn, có tâm hợp nhất với thiền định, đã dâng cúng những vật phẩm được tạo ra một cách hợp pháp đến bậc Thánh cùng với Tăng chúng.
277.
277.
277.
‘‘Saddhā paricaritvāna, mettacittena nāyakaṃ;
Nibbute tamhi lokagge, pūjaṃ katvā yathābalaṃ.
Having always served the Leader with a mind of loving-kindness, when that Foremost of the World attained Parinibbāna, we made offerings according to our ability.
Sau khi phục vụ bậc Lãnh Đạo với đức tin và tâm từ, và khi bậc Tối Thắng trong thế gian ấy nhập Niết-bàn, chúng tôi đã thực hiện sự cúng dường tùy theo sức của mình.
278.
278.
278.
‘‘Tato cutā santusitaṃ †, gatā tattha mahāsukhaṃ;
Anubhūtā mayaṃ sabbe, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Passing away from there, we went to the Santusita heaven. There we all experienced great happiness. This is the fruit of honoring a Buddha.
Sau khi chết từ kiếp đó, chúng tôi đã đến cõi trời Tusita. Ở đó, tất cả chúng tôi đã hưởng đại lạc. Đây là quả của việc cúng dường Đức Phật.
279.
279.
279.
‘‘Māyākāro yathā raṅge †, dassesi vikatiṃ bahuṃ;
Tathā bhave bhamantohaṃ †, videhādhipatī ahuṃ.
Just as a magician on a stage displays many illusions, so, as I wandered through existence, I became the lord of Videha.
Như nhà ảo thuật trình diễn nhiều sự biến hóa trên sân khấu, cũng vậy, trong khi lang thang trong các cõi hữu, ta đã là vua xứ Videha.
280.
280.
280.
‘‘Guṇāceḷassa vākyena, micchādiṭṭhigatāsayo;
Narakaṃ maggamārūḷho, rucāya mama dhītuyā.
By the word of Guṇāceḷa, my mind destroyed by wrong view, I ascended the path to hell, despite my daughter Rucā.
Bởi lời nói của Guṇa lõa thể, ta đã có tâm ý bị tà kiến chiếm đoạt, đã bước lên con đường địa ngục, (và không nghe lời) của Rucā, con gái ta.
281.
281.
281.
‘‘Ovādaṃ nādiyitvāna, brahmunā nāradenahaṃ;
Bahudhā saṃsito santo, diṭṭhiṃ hitvāna pāpikaṃ.
Not having accepted her advice, and being admonished in many ways by the Brahmā Nārada, I abandoned that evil view.
Không chấp nhận lời khuyên (của con gái), ta đã được Phạm thiên Nārada giáo huấn bằng nhiều cách, và sau khi từ bỏ tà kiến xấu xa.
282.
282.
282.
‘‘Pūrayitvā visesena, dasa kammapathānihaṃ;
Hitvāna dehamagamiṃ, saggaṃ sabhavanaṃ yathā.
Having especially fulfilled the ten paths of kamma, when I abandoned my body I went to heaven as if to my own home.
Ta, sau khi làm tròn một cách đặc biệt mười nghiệp lộ, sau khi từ bỏ thân xác, đã đi đến cõi trời như về nhà của mình.
283.
283.
283.
‘‘Pacchime bhave sampatte, brahmabandhu ahosahaṃ;
Bārāṇasiyaṃ phītāyaṃ, jāto vippamahākule.
Having reached my final existence, I was a brahmin, born in prosperous Bārāṇasī into a great brahmin family.
Khi đến kiếp cuối cùng, ta đã là một người Bà-la-môn, được sinh ra trong một gia tộc Bà-la-môn cao quý tại thành Bārāṇasī thịnh vượng.
284.
284.
284.
‘‘Maccubyādhijarā bhīto, ogāhetvā mahāvanaṃ †;
Nibbānaṃ padamesanto, jaṭilesu paribbajiṃ.
Frightened by death, sickness, and old age, I entered the great forest. Seeking the state of Nibbāna, I went forth among the matted-hair ascetics.
Sợ hãi sự chết, bệnh, già, ta đã đi vào khu rừng lớn, và để tìm kiếm con đường Niết-bàn, ta đã xuất gia trong giới đạo sĩ bện tóc.
285.
285.
285.
‘‘Tadā dve bhātaro mayhaṃ, pabbajiṃsu mayā saha;
Uruveḷāyaṃ māpetvā, assamaṃ nivasiṃ ahaṃ.
Then my two brothers went forth along with me. Having had a hermitage built at Uruveḷā, I lived there.
Khi ấy, hai người em của ta đã xuất gia cùng với ta. Ta đã tạo dựng một am thất tại Uruveḷā và đã ở đó.
286.
286.
286.
‘‘Kassapo nāma gottena, uruveḷanivāsiko †;
Tato me āsi paññatti, uruveḷakassapo iti.
Kassapa by clan name, I was a resident of Uruveḷā; hence I came to be known as Uruveḷakassapa.
Tên theo dòng họ là Kassapa, và ta ở tại Uruveḷā. Do đó, ta có danh xưng là ‘Uruveḷakassapa’.
287.
287.
287.
‘‘Nadīsakāse bhātā me, nadīkassapasavhayo;
Āsī sakāsanāmena, gayāyaṃ gayākassapo.
My brother who lived near the river was called Nadīkassapa; the one at Gayā was Gayākassapa.
Người em của ta ở gần bờ sông, được gọi là Nadīkassapa. Tại Gayā, (người em út) được gọi là Gayākassapa, theo tên nơi ở của mình.
288.
288.
288.
‘‘Dve satāni kaniṭṭhassa, tīṇi majjhassa bhātuno;
Mama pañca satānūnā, sissā sabbe mamānugā.
My youngest brother had two hundred, my middle brother three hundred; I had five hundred disciples, not one less, and all were my followers.
Người em út có hai trăm (đệ tử), người em kế có ba trăm. Ta có năm trăm đệ tử không thiếu. Tất cả các đệ tử đều là người theo ta.
289.
289.
289.
‘‘Tadā upecca maṃ buddho, katvāna vividhāni me †;
Pāṭihīrāni lokaggo, vinesi narasārathi.
Then the Buddha approached me and performed various miracles; the foremost in the world, the guide for those to be tamed, subdued me.
Khi ấy, Đức Phật, bậc Tối Thắng trong thế gian, bậc Điều Ngự chúng sanh, đã đến gần ta, thực hiện nhiều loại thần thông khác nhau và đã giáo hóa ta.
290.
290.
290.
‘‘Sahassaparivārena, ahosiṃ ehibhikkhuko;
Teheva saha sabbehi, arahattamapāpuṇiṃ.
With a retinue of a thousand, I became one ordained with the words ‘Come, bhikkhu!’ Together with all of them, I attained arahantship.
Ta cùng với một ngàn tùy tùng đã trở thành một vị Tỳ-khưu ‘Thiện lai’. Cùng với tất cả họ, ta đã đạt được quả A-la-hán.
291.
291.
291.
‘‘Te cevaññe ca bahavo, sissā maṃ parivārayuṃ;
Sāsituñca samatthohaṃ, tato maṃ isisattamo.
Those disciples and many others surrounded me. Since I was capable of instructing them, therefore the seventh of sages…
Những đệ tử ấy và nhiều người khác đã vây quanh ta. Và ta có khả năng giáo huấn họ. Do đó, bậc Thánh Tối Thượng (Đức Phật)...
292.
292.
292.
‘‘Mahāparisabhāvasmiṃ, etadagge ṭhapesi maṃ;
Aho buddhe kataṃ kāraṃ, saphalaṃ me ajāyatha.
…placed me foremost for having a great following. Oh, the deed done for the Buddha has become fruitful for me!
...đã đặt ta ở vị trí tối thắng trong việc có đại chúng tùy tùng. Ôi thay! Sự tôn kính mà ta đã làm đối với Đức Phật đã sinh ra kết quả cho ta.
293.
293.
293.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burnt up… I dwell free of taints.
Các phiền não của ta đã được đốt cháy… (v.v.)… ta sống không còn lậu hoặc.
294.
294.
294.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
A good coming indeed was mine… the Buddha’s teaching has been done.
Sự đến của ta thật là tốt đẹp… (v.v.)… giáo pháp của Đức Phật đã được thực hành.
295.
295.
295.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the Buddha’s teaching has been done.
Bốn Tuệ phân tích… (v.v.)… giáo pháp của Đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā uruveḷakassapo thero imā gāthāyo
Thus, it is said, the Venerable Elder Uruveḷakassapa spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Uruveḷakassapa đã nói những câu kệ này.
Abhāsitthāti.
He recited these verses.
Đã nói lên như thế.
Uruveḷakassapattherassāpadānaṃ aṭṭhamaṃ.
The Eighth Apadāna of the Elder Uruveḷakassapa.
Thiên sử về trưởng lão Uruveḷakassapa là thiên thứ tám.