Bản dịch
THA -ap539 — Ký Sự về Trưởng Lão Koṭṭhita
7 Mahākoṭṭhikattheraapadāna
BJT 5883Trước đây một trăm ngàn kiếp, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc Hiền Trí, đấng hiểu biết về toàn bộ thế giới, bậc Hữu Nhãn đã hiện khởi.
BJT 5884Là bậc giáo giới, là vị làm cho hiểu rõ, là vị giúp cho tất cả chúng sanh vượt qua, được thiện xảo trong việc thuyết giảng, đức Phật đã giúp cho nhiều người vượt qua.
BJT 5885Bậc Thương Tưởng, đấng Bi Mẫn, vị tầm cầu sự lợi ích cho tất cả chúng sanh, cũng đã an trú vào ngũ giới cho tất cả các ngoại đạo đã đi đến.
BJT 5886Như thế, được tô điểm với các vị A-la-hán có năng lực như thế ấy, (thế gian) đã không bị rối loạn và trống vắng các vị ngoại đạo.
BJT 5887Bậc Đại Hiền Trí ấy cao năm mươi tám ratana (14.50 m) tợ như cây cột trụ bằng vàng, có ba mươi hai hảo tướng.
BJT 5888Cho đến khi ấy, tuổi thọ được biết là một trăm ngàn năm. Trong khi tồn tại như thế, Ngài đã giúp cho nhiều người vượt qua.
BJT 5889Khi ấy, tôi là người Bà-la-môn ở tại Haṁsavatī, thông suốt các bộ Vệ Đà. Tôi đã đi đến bậc Ưu Tú cao cả của chúng sanh và đã lắng nghe việc thuyết giảng Giáo Pháp.
BJT 58905891. Khi ấy, đấng Anh Hùng ấy đã thiết lập vào vị thế tối thắng đối với vị Thinh Văn có hành xứ về sự hiểu biết đã được rạch ròi và là vị rành rẽ về ý nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và về phép biện giải. Nghe được điều ấy, tôi đã trở nên hoan hỷ. Khi ấy, tôi đã cung cấp vật thực đến đấng Chiến Thắng cao quý cùng các vị Thinh Văn trong bảy ngày.
BJT 5892Sau khi khoác lên bậc Đại Đương của giác ngộ cùng với các đệ tử bằng các tấm vải, tôi đã quỳ xuống ở cạnh bàn chân (Ngài) và đã phát nguyện vị thế ấy.
BJT 5893Do đó, bậc Cao Cả của thế gian đã nói rằng: “Các ngươi hãy nhìn xem vị Bà-la-môn cao thượng này, vị có ánh sáng từ lòng đóa hoa sen phát ra, đã cúi mình ở bàn chân của Ta.
BJT 5894Với đức tin ấy, với sự dứt bỏ, và với sự lắng nghe Giáo Pháp, người này phát nguyện vị thế vị tỳ khưu hàng đầu của đức Phật.
BJT 5895Sau khi đã được sung sướng ở mọi nơi và sau khi đã luân hồi ở cõi này cõi khác, trong thời vị lai xa xăm người này sẽ đạt được điều ước nguyện ấy.
BJT 5896Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 5897(Người này) sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, có tên là Koṭṭhita.”
BJT 5898Nghe được điều ấy, tôi đã trở nên hoan hỷ, có niệm, có tuệ, định tĩnh. Với tâm từ ái, tôi đã phục vụ đấng Chiến Thắng từ đó cho đến hết cuộc đời.
BJT 5899Do quả thành tựu của nghiệp ấy và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 5900Và tôi đã cai quản Thiên quốc ba trăm lần. Và tôi đã trở thành đấng Chuyển Luân Vương năm trăm lần.
BJT 5901Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm. Do nhờ tác động của nghiệp ấy tôi đã được sung sướng ở tất cả các nơi.
BJT 5902Tôi (đã) luân hồi ở hai cảnh giới trong bản thể Thiên nhân và loài người, tôi không đi đến cõi tái sanh khác; điều này là quả báu của việc khéo hành trì.
BJT 5903Tôi (đã) được sanh ra ở hai gia tộc, Sát-đế-lỵ và Bà-la-môn, tôi không biết đến gia tộc hạ tiện; điều này là quả báu của việc khéo hành trì.
BJT 5904Khi đạt đến lần hiện hữu cuối cùng, tôi đã là thân quyến của đấng Phạm Thiên (dòng dõi Bà-la-môn). Tôi đã được tái sanh trong gia tộc Bà-la-môn có tài sản lớn lao ở thành phố Sāvatthī.
BJT 5905Người mẹ tên là Candavatī, người cha của tôi tên là Assalāyana. Và đức Phật đã hướng dẫn cha tôi về sự thanh tịnh toàn diện.
BJT 5906Khi ấy, được tịnh tín tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình ở đấng Thiện Thệ. Thầy chỉ dạy là vị Moggallāna, thầy tế độ là vị xuất thân từ bà Sārī.
BJT 5907Khi các sợi tóc đang được cạo, tà kiến đã được chặt đứt tận gốc. Và trong khi đang quấn y ca-sa, tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
BJT 5908Và sự hiểu biết của tôi về ý nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và về phép biện giải là đã được phân giải; vì thế đấng Cao Cả của thế gian đã thiết lập tôi vào vị thế tối thắng.
BJT 5909Được vị Upatissa hỏi, tôi đã giải thích không bị lầm lẫn. Vì thế tôi đã là vị đứng đầu về các pháp phân tích trong Giáo Pháp của đấng Toàn Giác.
BJT 5910Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5911Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5912Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Mahākoṭṭhita đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Mahākoṭṭhita là phần thứ bảy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
7. Mahākoṭṭhikattheraapadānaṃ
7. The Apadāna of the Elder Mahākoṭṭhika
7. Phẩm truyện về trưởng lão Mahākoṭṭhika
221.
221.
221.
‘‘Padumuttaro nāma jino, sabbalokavidū muni;
Ito satasahassamhi, kappe uppajji cakkhumā.
The Conqueror named Padumuttara, the sage who knows all worlds, the One with Vision, arose one hundred thousand aeons ago.
Một trăm ngàn kiếp về trước tính từ kiếp này, đã xuất hiện bậc Toàn Giác, bậc Mắt Thần, tên là Padumuttara, bậc Chiến Thắng, bậc Ẩn Sĩ biết rõ tất cả thế gian.
222.
222.
222.
‘‘Ovādako viññāpako, tārako sabbapāṇinaṃ;
Desanākusalo buddho, tāresi janataṃ bahuṃ.
An advisor and instructor, a deliverer for all living beings, the Buddha, skilled in exposition, helped many people cross over.
Vị ấy là bậc khuyên dạy, bậc chỉ giáo, bậc cứu độ cho tất cả chúng sanh. Đức Phật, bậc thiện xảo trong việc thuyết giảng, đã cứu thoát nhiều chúng sanh.
223.
223.
223.
‘‘Anukampako kāruṇiko, hitesī sabbapāṇinaṃ;
Sampatte titthiye sabbe, pañcasīle patiṭṭhapi.
Compassionate, merciful, seeking the welfare of all living beings, he established all the sectarians who came to him in the five precepts.
Vị ấy là bậc có lòng thương xót, bậc bi mẫn, bậc mưu cầu lợi ích cho tất cả chúng sanh. Vị ấy đã an lập tất cả các người theo ngoại đạo đã tìm đến trong năm giới.
224.
224.
224.
‘‘Evaṃ nirākulaṃ āsi, suññataṃ titthiyehi ca;
Vicittaṃ arahantehi, vasībhūtehi tādibhi.
Thus it was untroubled and empty of sectarians, but adorned with Arahants, self-controlled and steadfast.
Như vậy, (giáo Pháp) đã được không bị khuấy rối, đã được trống không các người theo ngoại đạo, và đã được điểm tô bởi các vị A-la-hán, những bậc đã tự chủ và vững vàng.
225.
225.
225.
‘‘Ratanānaṭṭhapaññāsaṃ, uggato so mahāmuni;
Kañcanagghiyasaṅkāso, bāttiṃsavaralakkhaṇo.
That great sage was fifty-eight cubits tall, like a golden stupa, and he possessed the thirty-two excellent marks.
Bậc Đại Ẩn Sĩ ấy cao năm mươi tám ratana, giống như vòng hoa bằng vàng, và có được ba mươi hai tướng tốt cao quý.
226.
226.
226.
‘‘Vassasatasahassāni, āyu vijjati tāvade;
Tāvatā tiṭṭhamāno so, tāresi janataṃ bahuṃ.
At that time, his lifespan was one hundred thousand years. Remaining for that long, he helped many people cross over.
Vào lúc bấy giờ, tuổi thọ là một trăm ngàn năm. Trong khi tại thế lâu như thế, vị ấy đã cứu thoát nhiều chúng sanh.
227.
227.
227.
‘‘Tadāhaṃ haṃsavatiyaṃ, brāhmaṇo vedapāragū;
Upecca sabbalokaggaṃ †, assosiṃ dhammadesanaṃ.
At that time in Haṃsavatī, I was a brahmin, a master of the Vedas. Approaching the Foremost in All the World, I heard his Dhamma discourse.
Lúc bấy giờ, ở tại thành Haṃsavatī, ta là vị Bà-la-môn tinh thông Vệ-đà. Sau khi đã đến gần bậc tối thượng của tất cả thế gian, ta đã lắng nghe bài thuyết giảng về Giáo Pháp.
228.
228.
228.
‘‘Tadā so sāvakaṃ vīro, pabhinnamatigocaraṃ;
Atthe dhamme nirutte ca, paṭibhāne ca kovidaṃ.
At that time, that Hero praised a disciple whose intellectual range was penetrating, one skilled in meaning, in the Dhamma, in language, and in analytical knowledge.
Lúc bấy giờ, bậc Anh Hùng ấy (đã tán thán) vị đệ tử có phạm vi của trí tuệ phân tích, là người thiện xảo về ý nghĩa, về Giáo Pháp, về từ nguyên, và về biện tài.
229.
229.
229.
‘‘Ṭhapesi etadaggamhi, taṃ sutvā mudito ahaṃ;
Sasāvakaṃ jinavaraṃ, sattāhaṃ bhojayiṃ tadā.
He established him in the foremost position. Hearing that, I was delighted. I then provided meals for the excellent Conqueror and his disciples for seven days.
Vị ấy đã đặt (vị đệ tử ấy) vào địa vị tối thượng. Sau khi nghe điều ấy, ta đã được hoan hỷ. Lúc bấy giờ, trong bảy ngày, ta đã cúng dường vật thực đến bậc Chiến Thắng cao cả cùng với các vị đệ tử của ngài.
230.
230.
230.
‘‘Dussehacchādayitvāna, sasissaṃ buddhisāgaraṃ †;
Nipacca pādamūlamhi, taṃ ṭhānaṃ patthayiṃ ahaṃ.
Having covered the Buddha, an ocean of wisdom, together with his disciples, with cloths, and having prostrated at his feet, I aspired for that position.
Sau khi đã dùng các tấm vải để bao phủ bậc trí tuệ như biển cả cùng với các vị đệ tử của ngài, và sau khi đã đảnh lễ dưới chân ngài, ta đã phát nguyện về địa vị ấy.
231.
231.
231.
‘‘Tato avoca lokaggo, ‘passathetaṃ dijuttamaṃ;
Vinataṃ pādamūle me, kamalodarasappabhaṃ.
Then the Foremost in the World spoke: ‘Behold this best of brahmins, bowed at my feet, radiant like the interior of a lotus.
Khi ấy, bậc tối thượng của thế gian đã nói: ‘Hãy nhìn vị lưỡng sanh ưu tú này, đang cúi mình dưới chân ta, có ánh sáng rực rỡ như nhụy hoa sen.’
232.
232.
232.
‘‘‘Buddhaseṭṭhassa † bhikkhussa, ṭhānaṃ patthayate ayaṃ;
Tāya saddhāya cāgena, saddhammassavanena † ca.
This one aspires to the position of the chief disciple of the Buddha, through his faith, generosity, and his hearing of the good Dhamma.
‘Vị này đang phát nguyện về địa vị của vị tỳ khưu tối thượng của Đức Phật. Do nhờ đức tin ấy, nhờ sự bố thí, và nhờ việc lắng nghe Chánh Pháp.’
233.
233.
233.
‘‘‘Sabbattha sukhito hutvā, saṃsaritvā bhavābhave;
Anāgatamhi addhāne, lacchase taṃ manorathaṃ.
Having been happy everywhere, and having wandered through existence after existence, in the future you will attain that wish of your heart.
‘Sau khi được an lạc ở khắp mọi nơi, sau khi đã luân hồi trong các kiếp sống, trong thời vị lai, ngươi sẽ đạt được điều tâm nguyện ấy.’
234.
234.
234.
‘‘‘Satasahassito kappe, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
One hundred thousand aeons from now, one born in the Okkāka clan, Gotama by clan name, will be the Teacher in the world.
‘Một trăm ngàn kiếp tính từ đây, sẽ có bậc Đạo Sư ở trên đời, sanh ra trong dòng dõi Okkāka, có tên là Gotama theo họ tộc.’
235.
235.
235.
‘‘‘Tassa dhammesu dāyādo, oraso dhammanimmito;
Koṭṭhiko nāma nāmena, hessati satthu sāvako’.
He will be an heir to his Dhamma, a legitimate son created by the Dhamma. Koṭṭhika will be his name, and he will be a disciple of the Teacher.’
‘Vị ấy sẽ là người thừa tự trong Giáo Pháp của vị Đạo Sư ấy, là người con đích thực, được tạo ra bởi Giáo Pháp, là vị đệ tử của bậc Đạo Sư, có tên là Koṭṭhika.’
236.
236.
236.
‘‘Taṃ sutvā mudito hutvā, yāvajīvaṃ tadā jinaṃ;
Mettacitto paricariṃ, sato paññāsamāhito.
Having heard that, I was delighted. Then, for as long as I lived, with a mind of loving-kindness, being mindful and endowed with wisdom and concentration, I attended upon the Conqueror.
Sau khi nghe điều ấy, ta đã được hoan hỷ. Lúc bấy giờ, trong suốt cuộc đời, ta đã phục vụ bậc Chiến Thắng với tâm từ, là người có chánh niệm, trí tuệ, và định tĩnh.
237.
237.
237.
‘‘Tena kammavipākena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
By the result of that kamma and by my volitions and aspirations, having abandoned the human body, I went to the Tāvatiṃsa heaven.
Do nhờ quả của nghiệp ấy và do nhờ các tác ý và nguyện vọng, sau khi từ bỏ thân người, ta đã đi đến cõi trời Tāvatiṃsa.
238.
238.
238.
‘‘Satānaṃ tīṇikkhattuñca, devarajjamakārayiṃ;
Satānaṃ pañcakkhattuñca, cakkavattī ahosahaṃ.
Three hundred times I exercised sovereignty over the devas; five hundred times I was a wheel-turning monarch.
Và ba trăm lần, ta đã trị vì vương quốc của chư thiên; và năm trăm lần, ta đã là vị chuyển luân vương.
239.
239.
239.
‘‘Padesarajjaṃ vipulaṃ, gaṇanāto asaṅkhiyaṃ;
Sabbattha sukhito āsiṃ, tassa kammassa vāhasā.
My regional kingships were vast and beyond counting. Everywhere I was happy, by the power of that kamma.
Việc trị vì các vương quốc rộng lớn trong khu vực thì không thể đếm được. Do năng lực của nghiệp ấy, ta đã được an lạc ở khắp mọi nơi.
240.
240.
240.
‘‘Duve bhave saṃsarāmi, devatte atha mānuse;
Aññaṃ gatiṃ na gacchāmi, suciṇṇassa idaṃ phalaṃ.
I wander in two existences, the divine and the human; I do not go to another destination. This is the fruit of good practice.
Ta chỉ luân hồi trong hai kiếp sống, ở cõi trời hoặc ở cõi người. Ta không đi đến cảnh giới nào khác. Đây là kết quả của việc thực hành tốt đẹp.
241.
241.
241.
‘‘Duve kule pajāyāmi, khattiye atha brāhmaṇe;
‘‘Nīce kule na jāyāmi, suciṇṇassa idaṃ phalaṃ.
I am born in two families, the khattiya and the brahmin; I am not born into a low family. This is the fruit of good practice.
“Ta sanh ra trong hai dòng tộc, hoặc là Sát-đế-lỵ hoặc là Bà-la-môn. Ta không sanh ra trong dòng tộc thấp hèn, đây là quả của việc thực hành tốt đẹp.”
242.
242.
242.
‘‘Pacchime bhave sampatte, brahmabandhu ahosahaṃ;
Sāvatthiyaṃ vippakule, paccājāto mahaddhane.
Having reached my final existence, I was a brahmin. I was reborn in Sāvatthī into a very wealthy brahmin family.
“Khi đã đạt đến kiếp sống cuối cùng, ta đã là người thuộc dòng dõi Bà-la-môn. Ta đã được tái sanh ở Sāvatthī, trong dòng tộc Bà-la-môn có tài sản lớn.”
243.
243.
243.
‘‘Mātā candavatī nāma, pitā me assalāyano;
Yadā me pitaraṃ buddho, vinayī sabbasuddhiyā.
My mother was named Candavatī, my father was Assalāyana. When the Buddha disciplined my father for the purification of all views,
“Mẹ của ta tên là Candavatī, cha của ta là Assalāyana. Khi ấy, đức Phật đã giáo huấn cha của ta để được thanh tịnh hoàn toàn.”
244.
244.
244.
‘‘Tadā pasanno sugate, pabbajiṃ anagāriyaṃ;
Moggallāno ācariyo, upajjhā sārisambhavo.
Then, with confidence in the Sugata, I went forth into the homeless life. Moggallāna was my teacher, and my preceptor was Sāriputta.
“Khi ấy, với lòng tịnh tín nơi đấng Thiện Thệ, ta đã xuất gia, sống đời không nhà. Ngài Moggallāna là thầy A-xà-lê, ngài Sāriputta là thầy Hòa thượng.”
245.
245.
245.
‘‘Kesesu chijjamānesu, diṭṭhi chinnā samūlikā;
Nivāsento ca kāsāvaṃ, arahattamapāpuṇiṃ.
As my hair was being cut, wrong view was severed at its root. And as I was putting on the ochre robe, I attained arahantship.
“Trong khi tóc đang được cạo bỏ, tà kiến đã được đoạn trừ tận gốc rễ. Và trong khi đang đắp y ca-sa, ta đã chứng đắc quả A-la-hán.”
246.
246.
246.
‘‘Atthadhammaniruttīsu, paṭibhāne ca me mati;
Pabhinnā tena lokaggo, etadagge ṭhapesi maṃ.
My wisdom in meaning, the Dhamma, language, and in analytical knowledge is penetrating. For that reason, the Foremost of the World established me in the foremost position.
“Trí tuệ của ta đã được phân tích về nghĩa, về pháp, về ngữ nguyên, và về biện tài. Do đó, đấng Tối Thắng trong thế gian đã đặt ta vào địa vị đệ nhất.”
247.
247.
247.
‘‘Asandiṭṭhaṃ viyākāsiṃ, upatissena pucchito;
Paṭisambhidāsu tenāhaṃ, aggo sambuddhasāsane.
When questioned by Upatissa, I answered without doubt. For that reason, I am foremost in the analytical knowledges in the Buddha's Dispensation.
“Được ngài Upatissa hỏi, ta đã giải đáp không chút nghi ngờ về các pháp Vô ngại giải. Do đó, trong giáo pháp của đấng Chánh Đẳng Giác, ta là vị tối thắng (về các pháp ấy).”
248.
248.
248.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burnt up… I dwell free of taints.
“Các phiền não của ta đã được đốt cháy... (vân vân)... ta sống không còn lậu hoặc.”
249.
249.
249.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Welcome indeed was my coming… the Buddha’s teaching has been fulfilled.
“Sự đến của ta thật là khéo đến... (vân vân)... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.”
250.
250.
250.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges have been attained… the Buddha’s teaching has been fulfilled.
“Bốn pháp Vô ngại giải... (vân vân)... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā mahākoṭṭhiko thero imā gāthāyo
Thus indeed the Venerable Elder Mahākoṭṭhika these verses
Như vậy, quả thật Trưởng lão Mahākoṭṭhika đã nói những câu kệ này
Abhāsitthāti.
He recited these verses.
Đã nói lên như thế.
Mahākoṭṭhikattherassāpadānaṃ sattamaṃ.
The Apadāna of the Elder Mahākoṭṭhika, the Seventh, is concluded.
Phẩm truyện về Trưởng lão Mahākoṭṭhika, phần thứ bảy.