Bản dịch
THA -ap538 — Ký Sự về Trưởng Lão Bāhiya
Bāhiyattheraapadāna
BJT 5841Trước đây một trăm ngàn kiếp đã hiện khởi đấng Lãnh Đạo tên Padumuttara là vị có hào quang chói lọi, đứng đầu tam giới.
BJT 5842Tôi đã lắng nghe đấng Hiền Trí đang tán dương đức hạnh của vị tỳ khưu có thắng trí nhạy bén. Với tâm phấn chấn tôi đã thể hiện sự tôn kính đến bậc Đại Ẩn Sĩ.
BJT 5843Lúc bấy giờ, sau khi dâng cúng vật thí đến bậc Hiền Trí cùng các đệ tử trong bảy ngày, tôi đã đảnh lễ bậc Toàn Giác và đã phát nguyện vị thế ấy.
BJT 5844Do đó, đức Phật đã chú nguyện cho tôi rằng: “Các ngươi hãy nhìn xem người Bà-la-môn này đã quỳ xuống cạnh bàn chân của Ta với ánh mắt và khuôn mặt được tịnh tín.
BJT 5845Có làn da mỏng manh màu trắng, có thân hình được mang sợi dây quàng vai vàng chói, có môi đỏ như là trái bimba được treo lơ lửng, có răng màu trắng sắc bén.
BJT 5846(Người này) có dồi dào năng lực về đức hạnh, có thân hình vươn cao, là nguồn nước về các hạnh lành, có khuôn mặt nở rộ niềm phỉ lạc.
BJT 5847Người này phát nguyện vị thế của vị tỳ khưu có thắng trí nhạy bén. Trong ngày vị lai sẽ có bậc Đại Hùng tên là Gotama.
BJT 5848(Người này) sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, có tên là Bāhiya.”
BJT 5849Khi ấy, vô cùng hớn hở tôi đã đứng dậy. Tôi đã thể hiện sự tôn kính đến bậc Đại Hiền Trí đến hết cuộc đời. Mệnh chung, tôi đã đi đến cõi trời như là (đi đến) nhà của chính mình.
BJT 5850Dầu trở thành vị Thiên nhân hay là nhân loại, do nhờ tác động của nghiệp ấy tôi được sung sướng. Tôi đã luân hồi và đã thọ hưởng sự thành đạt.
BJT 5851Lần khác nữa, trong khi Giáo Pháp của đấng Anh Hùng Kassapa đang đi đến hoại diệt, (bảy vị chúng tôi) đã leo lên đỉnh ngọn núi và đã gắn bó vào lời dạy của đấng Chiến Thắng.
BJT 5852Là những người thực hành lời dạy của đấng Chiến Thắng, có giới trong sạch, có trí tuệ, mệnh chung từ nơi ấy năm người chúng tôi đã đi đến thế giới của chư Thiên.
BJT 5853Sau đó, Bāhiya tôi đã được sanh ra ở kinh thành Bhārukaccha. Từ nơi ấy, tôi dùng thuyền lao vào khu vực biển cả ít có sự an toàn.
BJT 5854Do đó, sau khi ra đi một vài ngày chiếc thuyền đã bị vỡ tan. Khi ấy, tôi đã rơi vào khu vực có cá dữ, khủng khiếp, gây ra sự kinh hoàng.
BJT 5855Khi ấy, tôi đã ra sức và đã tự vượt qua được đại dương. Tôi đã đến được bến tàu Suppāra quý báu, lờ đờ, run lẩy bẩy.
BJT 5856Tôi đã khoác lên y phục vỏ cây và đã đi vào làng để khất thực. Khi ấy, dân chúng ấy đã hớn hở nói rằng: “Vị A-la-hán này đã ngự đến nơi đây.
BJT 5857Sau khi hậu đãi người này với cơm ăn, nước uống, vải vóc, giường nằm, và thuốc men chữa bệnh, chúng ta sẽ được an lạc.”
BJT 5858Khi ấy, được họ tôn kính và cúng dường, tôi đã có được lợi lộc về các vật dụng cần thiết. Tôi đã khiến họ có sự suy nghĩ một cách không đúng đắn rằng: “Tôi là vị A-la-hán.”
BJT 5859Vì thế, sau khi biết được tâm của tôi, vị Thiên nhân (trong số bảy vị) trước đây đã quở trách rằng: “Ngươi không biết phương pháp và đường lối, làm sao ngươi có thể trở thành bậc A-la-hán?”
BJT 5860Bị quở trách bởi vị ấy, bị chấn động, khi ấy tôi đã hỏi rằng: “Các bậc tối thượng nhân A-la-hán ở trên đời là những ai? Các vị này ở đâu?”
BJT 5861“Ở tại Sāvatthī là cung điện của xứ Kosala, có đấng Chiến Thắng là bậc có trí tuệ dồi dào, có sự sáng suốt bao la cao quý. Là người con trai dòng Sakya, là bậc A-la-hán, không còn lậu hoặc, Ngài thuyết giảng Giáo Pháp đưa đến sự thành tựu phẩm vị A-la-hán.”
BJT 5862Lúc bấy giờ, sau khi lắng nghe lời nói của vị này, tôi vô cùng sung sướng, và sửng sốt tợ như người ăn xin đã đạt được của chôn giấu. Tôi đã có tâm phấn chấn để được yết kiến bậc A-la-hán tối thượng, có hình dáng tốt đẹp, có hành xứ không giới hạn.
BJT 5863Lúc bấy giờ, tôi đã rời khỏi nơi ấy (nghĩ rằng): “Khi nào tôi (sẽ) nhìn thấy đấng Chiến Thắng, con người cao quý, bậc có khuôn mặt không vết bẩn?” Tôi đã đi đến khu rừng đáng yêu tên Vijita và đã hỏi những người Bà-la-môn rằng: “Bậc đem lại niềm hân hoan cho thế gian ở nơi đâu?”
BJT 5864Do đó, họ đã nói rằng: “Bậc được tôn vinh bởi chư Thiên và nhân loại đã đi vào thành phố với ý định tìm kiếm vật thực. Nếu mong mỏi diện kiến bậc Hiền Trí, ngươi hãy mau mau đi đến và hãy lễ bái nhân vật cao cả ấy.”
BJT 5865Do đó, tôi đã mau chóng đi đến kinh thành Sāvatthī. Tôi đã nhìn thấy Ngài đang đi đó đây vì mục đích vật thực, không thèm khát, không ham hố.
BJT 5866Có bình bát ở tay, mắt không ước vọng, như là đang phân phát sự Bất Tử, có khuôn mặt mang vẻ sáng lạn của mặt trời, tợ như chỗ ngụ của điều may mắn.
BJT 5867Tôi đã đi đển gặp Ngài và đã nói lời nói này: “Bạch đấng Gotama, xin Ngài hãy là chốn nương nhờ cho kẻ đã bị lầm lạc vào con đường sai trái.”
BJT 5868Bậc Hiền Trí tối thượng đã nói rằng: “Ta đang đi loanh quanh để khất thực nhằm mục đích tế độ chúng sanh, không phải là lúc thuyết Pháp cho ngươi.”
BJT 5869Khi ấy, khát khao về Giáo Pháp tôi đã liên tục cầu xin đức Phật. Ngài đã thuyết giảng cho tôi Giáo Pháp thâm sâu về đường lối của Không tánh.
BJT 5870Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của Ngài, tôi đã thành tựu sự đoạn tận các lậu hoặc. Tôi là người có tuổi thọ đã tận cùng. Ôi bậc Đạo Sư quả là đấng có lòng thương xót!
BJT 5871Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5872Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5873Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
BJT 5874Vị trưởng lão Bāhiya Dārucīriya đã giải thích như thế. Vị ấy đã bị té ngã vào đống rác bởi con bò cái đã bị quỷ nhập vào.
BJT 5875Bậc đại trí đã thuật lại cuộc sống trước đây của bản thân. Vị anh hùng ấy đã Viên Tịch Niết Bàn tại kinh thành Sāvatthī.
BJT 5876Bậc Ẩn Sĩ tối thượng, trong khi đi ra khỏi thành phố, đã nhìn thấy vị Bāhiya trí tuệ ấy mặc y phục vỏ cây có sự tái sanh đã xa lìa.
BJT 5877Tợ như ngọn cờ của đức vua đã bị đổ xuống, bậc đã được rèn luyện bị ngã ở trên đất, có tuổi thọ đã hết, có phiền não đã lìa, đã là vị thực hành lời dạy của đấng Chiến Thắng.
BJT 5878Do đó, bậc Đạo Sư đã bảo các vị Thinh Văn nhiệt tình với Giáo Pháp rằng: “Các người hãy khiêng lên, đưa đi, rồi hỏa thiêu thi thể của bậc Phạm hạnh.
BJT 5879Các người hãy xây dựng ngôi bảo tháp. Vị đại trí ấy đã Niết Bàn. Vị này là vị Thinh Văn đứng đầu trong số các vị có thắng trí nhạy bén, là người thực hành theo lời dạy của Ta.”
BJT 5880Nếu một ngàn câu kệ chỉ chứa đựng những từ vô ý nghĩa, một (phần tư) câu kệ vẫn là tốt hơn (nếu) người đã nghe điều ấy được an tịnh.
BJT 5881Nơi nào nước, đất, lửa, và gió không trụ vững, nơi ấy đạo đức không chiếu sáng, mặt trời không rực sáng, nơi ấy không có mặt trăng tỏa sáng, nơi ấy bóng tối không được biết đến.
BJT 5882Và khi nào vị Bà-la-môn hiền trí đã tự thân biết được với sự sáng suốt, thì được giải thoát khỏi sắc, khỏi vô sắc, khỏi lạc, và khỏi khổ,” đấng Bảo Hộ, bậc Hiền Trí, đấng Nương Nhờ của tam giới đã nói như thế.
Đại đức trưởng lão Bāhiya đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Bāhiya là phần thứ sáu.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
6. Bāhiyattheraapadānaṃ
6. The Apadāna of the Elder Bāhiya
6. (Thiên) Thạnh văn ký sự về trưởng lão Bāhiya
178.
178.
178.
‘‘Ito satasahassamhi, kappe uppajji nāyako;
Mahappabho tilokaggo, nāmena padumuttaro.
One hundred thousand aeons from this one, a Leader arose, of great radiance, supreme in the three worlds, named Padumuttara.
“Cách đây một trăm ngàn kiếp, một vị Lãnh Đạo đã sanh khởi. Ngài có đại quang minh, là bậc tối thượng trong ba cõi, danh hiệu là Padumuttara.
179.
179.
179.
‘‘Khippābhiññassa bhikkhussa, guṇaṃ kittayato mune;
Sutvā udaggacittohaṃ, kāraṃ katvā mahesino.
While the Sage was proclaiming the quality of a bhikkhu with quick direct knowledge, having heard his words, with an uplifted mind, I paid homage to the Great Seer.
“Sau khi nghe bậc Ẩn sĩ tán dương phẩm hạnh của vị tỳ-khưu có thắng trí nhanh chóng, tôi với tâm phấn khởi, đã thực hiện sự cúng dường đến bậc Đại Ẩn sĩ.
180.
180.
180.
‘‘Datvā sattāhikaṃ dānaṃ, sasissassa mune ahaṃ;
Abhivādiya sambuddhaṃ, taṃ ṭhānaṃ patthayiṃ tadā.
Having given a seven-day gift to the Sage with his disciples, I paid homage to the Perfectly Enlightened One and then aspired to that position.
“Sau khi đã dâng cúng vật thực trong bảy ngày đến bậc Ẩn sĩ cùng với các đệ tử, tôi đã đảnh lễ bậc Chánh Đẳng Giác và khi ấy đã nguyện cầu địa vị ấy.
181.
181.
181.
‘‘Tato maṃ byākari buddho, ‘etaṃ passatha brāhmaṇaṃ;
Patitaṃ pādamūle me, cariyaṃ paccavekkhaṇaṃ †.
Then the Buddha made a prediction about me: ‘See this brahmin fallen at my feet, reviewing his conduct.
“Sau đó, Đức Phật đã thọ ký cho tôi: ‘Hãy nhìn vị Bà-la-môn này, đang nằm phủ phục dưới chân của ta, đang quán xét về hạnh nghiệp.
182.
182.
182.
‘‘‘Hemayaññopacitaṅgaṃ, avadātatanuttacaṃ;
Palambabimbatamboṭṭhaṃ, setatiṇhasamaṃ dijaṃ.
‘Whose limbs are adorned with a golden sacred thread, whose skin is pure, whose hanging red lips are like bimba fruit, and whose teeth are white, sharp, and even.
“‘Vị ấy có các chi phần được trang điểm bằng dây đeo bằng vàng, có làn da trong sạch, có đôi môi đỏ như trái Bimba và buông thõng, có hàm răng trắng, bén, và đều đặn.
183.
183.
183.
‘‘‘Guṇathāmabahutaraṃ, samuggatatanūruhaṃ;
Guṇoghāyatanībhūtaṃ, pītisamphullitānanaṃ.
‘Possessing a great abundance of the power of virtue, with soft body-hairs standing on end; having become a repository for a multitude of virtues, his face blossoming with rapture.
“‘Vị ấy có nhiều phẩm hạnh và sức mạnh, có lông trên thân mọc hướng lên, là nơi nương tựa cho các phẩm hạnh, có gương mặt rạng rỡ với niềm hoan hỷ.
184.
184.
184.
‘‘‘Eso patthayate ṭhānaṃ, khippābhiññassa bhikkhuno;
Anāgate mahāvīro, gotamo nāma hessati.
‘This one aspires to the position of a bhikkhu with quick direct knowledge. In the future, there will be a great hero named Gotama.
“‘Vị này nguyện cầu địa vị của vị tỳ-khưu có thắng trí nhanh chóng. Trong tương lai, sẽ có bậc Đại Anh hùng tên là Gotama.
185.
185.
185.
‘‘‘Tassa dhammesu dāyādo, oraso dhammanimmito;
Bāhiyo nāma nāmena, hessati satthu sāvako’.
‘An heir to his Dhamma, his legitimate son, created by the Dhamma, he will be a disciple of the Teacher, Bāhiya by name.’
“‘Vị ấy là người thừa tự trong các Pháp của đức Phật ấy, là người con ruột do Pháp hóa sanh; với tên gọi là Bāhiya, vị ấy sẽ là vị thinh văn của đức Đạo Sư’.
186.
186.
186.
‘‘Tadā hi tuṭṭho vuṭṭhāya, yāvajīvaṃ mahāmune;
Kāraṃ katvā cuto saggaṃ, agaṃ sabhavanaṃ yathā.
Then, pleased, I arose and for my whole life paid homage to the Great Sage. Passing away from there, I went to heaven as if to my own home.
“Khi ấy, do hoan hỷ, con đã đứng dậy, đã thực hiện sự tôn kính đến bậc Đại ẩn sĩ cho đến trọn đời; sau khi mệnh chung, con đã đi đến cõi trời giống như về nhà của mình.
187.
187.
187.
‘‘Devabhūto manusso vā, sukhito tassa kammuno;
Vāhasā saṃsaritvāna, sampattimanubhomahaṃ.
Whether I became a deva or a human, I was happy by the power of that kamma. Wandering on through the round of rebirths, I experienced success.
“Dầu là chư thiên hay là loài người, con được an lạc do năng lực của nghiệp ấy; sau khi đã luân hồi, con đã hưởng thụ sự thành đạt.
188.
188.
188.
‘‘Puna kassapavīrassa, atthamentamhi † sāsane;
Āruyha selasikharaṃ, yuñjitvā jinasāsanaṃ.
Again, when the Dispensation of the hero Kassapa was declining, having climbed a mountain peak, I applied myself to the Conqueror's Dispensation.
“Một lần nữa, trong giáo Pháp của bậc Dũng Sĩ Kassapa đang lúc suy tàn, sau khi đã leo lên đỉnh núi đá, con đã nỗ lực ở trong giáo Pháp của bậc Chiến Thắng.
189.
189.
189.
‘‘Visuddhasīlo sappañño, jinasāsanakārako;
Tato cutā pañca janā, devalokaṃ agamhase.
Of pure virtue and endowed with wisdom, a follower of the Conqueror's teaching, passing away from there, we five people went to the deva world.
“Con có giới hạnh trong sạch, có trí tuệ, là người thực hành giáo Pháp của bậc Chiến Thắng. Từ nơi ấy, năm người chúng con sau khi mệnh chung đã đi đến cõi trời.
190.
190.
190.
‘‘Tatohaṃ bāhiyo jāto, bhārukacche puruttame;
Tato nāvāya pakkhando †, sāgaraṃ appasiddhiyaṃ †.
Then I was born as Bāhiya in the excellent city of Bhārukaccha. From there, I set forth by ship upon the ocean, a place of little success.
“Sau đó, con sanh làm Bāhiya ở tại thành phố cao quý Bhārukaccha. Từ nơi ấy, con đã ra khơi trên biển cả bằng thuyền bè vì mục đích thành tựu lợi ích.
191.
191.
191.
‘‘Tato nāvā abhijjittha, gantvāna katipāhakaṃ;
Tadā bhīsanake ghore, patito makarākare.
Then the ship was wrecked after travelling for some days. Then I fell into the terrifying, dreadful ocean, the abode of sea-monsters.
“Từ lúc ấy, sau khi đi được vài ngày, chiếc thuyền đã bị vỡ. Khi ấy, con đã bị rơi vào trong biển cả, nơi trú ẩn của loài ma-kết, khủng khiếp và ghê rợn.
192.
192.
192.
‘‘Tadāhaṃ vāyamitvāna, santaritvā mahodadhiṃ;
Suppādapaṭṭanavaraṃ †, sampatto mandavedhito †.
Then, having striven and crossed the great ocean, I reached the excellent port of Suppāraka, exhausted.
“Khi ấy, sau khi đã nỗ lực, con đã bơi qua biển cả và đã đến được hải cảng Suppāraka cao quý, nơi (kẻ thù) khó xâm nhập.
193.
193.
193.
‘‘Dārucīraṃ nivāsetvā, gāmaṃ piṇḍāya pāvisiṃ;
Tadāha so jano tuṭṭho, arahāyamidhāgato.
Having put on a bark-cloth garment, I entered a village for alms. Then those people were pleased, thinking: ‘This arahant has come here.’
“Sau khi đã mặc vào vỏ cây khô, con đã đi vào làng để khất thực. Khi ấy, những người dân kia hoan hỷ (nói rằng): ‘Vị A-la-hán này đã đến đây.’
194.
194.
194.
‘‘Imaṃ annena pānena, vatthena sayanena ca;
Bhesajjena ca sakkatvā, hessāma sukhitā mayaṃ.
‘By honoring him with food, drink, clothing, lodging, and medicines, we will become happy.’
“Sau khi đã tôn kính vị này với vật thực, thức uống, y phục, và chỗ ở, và với dược phẩm, chúng ta sẽ là những người được an lạc.”
195.
195.
195.
‘‘Paccayānaṃ tadā lābhī, tehi sakkatapūjito;
Arahāhanti saṅkappaṃ, uppādesiṃ ayoniso.
Then, receiving requisites, honored and revered by them, I unwisely conceived the thought: ‘I am an arahant.’
“Khi ấy, con là người nhận được các vật dụng, được họ tôn kính và cúng dường. Con đã khởi lên ý nghĩ một cách không khéo léo rằng: ‘Ta là vị A-la-hán.’
196.
196.
196.
‘‘Tato me cittamaññāya, codayī pubbadevatā;
‘Na tvaṃ upāyamaggaññū, kuto tvaṃ arahā bhave’.
Then a former deity, knowing my mind, admonished me: ‘You are not one who knows the means to the path; how could you be an arahant?’
“Sau đó, vị trời là bạn cũ, sau khi biết được tâm của con, đã khiển trách rằng: ‘Ngươi không phải là người biết được phương tiện và con đường, làm sao ngươi có thể là vị A-la-hán được?’
197.
197.
197.
‘‘Codito tāya saṃviggo, tadāhaṃ paripucchi taṃ;
‘Ke vā ete kuhiṃ loke, arahanto naruttamā.
Admonished by her and stirred with urgency, I then asked her: ‘Who are these arahants, these best of men, and where in the world are they?’
“Bị vị ấy khiển trách, con đã kinh cảm, khi ấy con đã hỏi vị ấy rằng: ‘Ở trên đời, những vị A-la-hán, những bậc tối thượng nhân kia là ai và ở đâu?’
198.
198.
198.
‘‘‘Sāvatthiyaṃ kosalamandire jino, pahūtapañño varabhūrimedhaso;
So sakyaputto arahā anāsavo, deseti dhammaṃ arahattapattiyā.
‘In Sāvatthī, in the realm of the Kosalans, is the Conqueror, of abundant wisdom, of excellent and vast intelligence. That son of the Sakyans, an arahant free of taints, teaches the Dhamma for the attainment of arahantship.’
“‘Ở tại Sāvatthī, trong kinh thành của xứ Kosala, có đức Chiến Thắng, bậc có trí tuệ dồi dào, bậc có tuệ giác cao quý và rộng lớn. Vị Thích tử ấy là bậc A-la-hán, bậc vô lậu, Ngài thuyết giảng Chánh Pháp vì sự chứng đạt A-la-hán quả.’
199.
199.
199.
‘‘‘Tadassa sutvā vacanaṃ supīṇito †, nidhiṃva laddhā kapaṇoti vimhito;
Udaggacitto arahattamuttamaṃ, sudassanaṃ daṭṭhumanantagocaraṃ.
Hearing her words, I was greatly pleased and amazed, like a poor man who has found a treasure. With an uplifted mind, I went to see the one of infinite range, so excellent to see, for the sake of the supreme Arahantship.
“Khi ấy, sau khi nghe lời nói của vị ấy, con vô cùng hoan hỷ và kinh ngạc giống như người nghèo khó tìm được kho tàng; với tâm phấn chấn, (con đã đi) để được thấy bậc có tầm nhìn vô hạn, bậc thấy rõ A-la-hán quả tối thượng.
200.
200.
200.
‘‘‘Tadā tato nikkhamitvāna satthuno †, sadā jinaṃ passāmi vimalānanaṃ †;
Upecca rammaṃ vijitavhayaṃ vanaṃ, dije apucchiṃ kuhiṃ lokanandano.
Then, having departed from there, I thought, 'I shall always see the Conqueror, the Teacher with the stainless face.' Approaching the delightful grove named Jeta's Wood, I asked the Arahants, 'Where is the one who delights the world?'
“Khi ấy, sau khi đã rời khỏi nơi đó, (con nghĩ rằng): ‘Ta sẽ được thấy đức Chiến Thắng, bậc có gương mặt không tỳ vết.’ Sau khi đã đi đến khu rừng khả ái tên là Vijita (Jetavana), con đã hỏi các bậc trưởng lão: ‘Bậc làm hoan hỷ thế gian ở đâu?’
201.
201.
201.
‘‘‘Tato avocuṃ naradevavandito, puraṃ paviṭṭho asanesanāya so;
Sasova † khippaṃ munidassanussuko, upecca vandāhi tamaggapuggalaṃ’.
Then they said: 'He who is worshipped by humans and devas has entered the city in search of food. Since you are eager to see the Sage, approach quickly and pay homage to that foremost person.'
“Sau đó, các vị ấy đã nói: ‘Bậc được người và trời đảnh lễ, vị ấy đã đi vào thành phố để khất thực. Ngươi là người nhiệt tâm muốn thấy bậc Ẩn sĩ, hãy mau mau đi đến, sau khi đã đến gần, hãy đảnh lễ bậc Tối Thượng Nhân ấy.’
202.
202.
202.
‘‘Tatohaṃ tuvaṭaṃ gantvā, sāvatthiṃ puramuttamaṃ;
Vicarantaṃ tamaddakkhiṃ, piṇḍatthaṃ apihāgidhaṃ.
Then I, having gone swiftly to Sāvatthī, the excellent city, saw him wandering for alms, free from craving.
“Sau đó, con đã đi nhanh chóng đến Sāvatthī, thành phố cao quý. Con đã thấy Ngài đang đi khất thực, không có sự thèm muốn.
203.
203.
203.
‘‘Pattapāṇiṃ alolakkhaṃ, pācayantaṃ pītākaraṃ †;
Sirīnilayasaṅkāsaṃ, ravidittiharānanaṃ.
With bowl in hand, with steady eyes, causing merit to ripen, of golden complexion, like an abode of splendor, with a face that outshines the radiance of the sun.
“Bậc có bát trong tay, có đôi mắt không dao động, bậc làm cho (nghiệp) chín muồi, bậc có màu da vàng óng, bậc giống như nơi nương tựa của sự huy hoàng, bậc có gương mặt làm lu mờ ánh sáng mặt trời.
204.
204.
204.
‘‘Taṃ samecca nipaccāhaṃ, idaṃ vacanamabraviṃ;
‘Kupathe vippanaṭṭhassa, saraṇaṃ hohi gotama.
Approaching him and prostrating, I spoke this utterance: 'For one who is lost on a wrong path, be a refuge, O Gotama.'
“Sau khi đã đến gần và cúi lạy Ngài, con đã nói lên lời này: ‘Thưa ngài Gotama, xin hãy là nơi nương tựa cho người đã bị lạc mất ở trên con đường sai trái.’
205.
205.
205.
‘‘‘Pāṇasantāraṇatthāya, piṇḍāya vicarāmahaṃ;
Na te dhammakathākālo, iccāha munisattamo’.
'I am wandering for alms for the sustenance of life. It is not the time for a Dhamma talk for you,' thus said the best of sages.
“‘Ta đang đi khất thực vì mục đích duy trì mạng sống. Đây không phải là lúc thuyết Pháp cho ngươi,’ bậc Thánh Giả Tối Thượng đã nói như vậy.
206.
206.
206.
‘‘Tadā punappunaṃ buddhaṃ, āyāciṃ dhammalālaso;
Yo me dhammamadesesi, gambhīraṃ suññataṃ padaṃ.
Then, being eager for the Dhamma, I implored the Buddha again and again, who then taught me the Dhamma: the profound state, voidness.
“Khi ấy, do khát khao Chánh Pháp, con đã thỉnh cầu đức Phật nhiều lần. Ngài đã thuyết giảng Chánh Pháp cho con, là trạng thái sâu xa, là tánh Không.
207.
207.
207.
‘‘Tassa dhammaṃ suṇitvāna, pāpuṇiṃ āsavakkhayaṃ;
Parikkhīṇāyuko santo, aho satthānukampako.
Having heard his Dhamma, I attained the destruction of the taints. Being one whose life-span was exhausted, I thought, 'Ah, how compassionate is the Teacher!'
“Sau khi đã nghe Chánh Pháp của Ngài, con đã đạt được sự đoạn tận các lậu hoặc, trong khi là người có tuổi thọ đã gần cạn kiệt. Ôi, thật là lòng bi mẫn của đức Đạo Sư!
208.
208.
208.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burnt up… I dwell without taints.
“Các phiền não của con đã được đốt cháy... (vân vân)... con sống không còn lậu hoặc.
209.
209.
209.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Indeed, my coming was a good coming… the Buddha's teaching has been fulfilled.
“Sự đến của con thật là khéo đến... (vân vân)... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
210.
210.
210.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
The four analytical knowledges have been attained… the Buddha's teaching has been fulfilled.
“Bốn Tuệ Phân Tích... (vân vân)... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
211.
211.
211.
‘‘Evaṃ thero viyākāsi, bāhiyo dārucīriyo;
Saṅkārakūṭe patito, bhūtāviṭṭhāya gāviyā.
Thus the Elder Bāhiya of the Bark-Cloth Garment declared, having fallen on a rubbish heap, gored by a cow possessed by a spirit.
Như vậy, trưởng lão Bāhiya, người mặc vỏ cây khô, đã tuyên thuyết (những lời kệ này) trong khi bị ngã trên đống rác do một con bò cái bị quỷ ám húc phải.
212.
212.
212.
‘‘Attano pubbacariyaṃ, kittayitvā mahāmati;
Parinibbāyi so thero †, sāvatthiyaṃ puruttame.
Having declared his own former conduct, that greatly wise Elder attained Parinibbāna in Sāvatthī, the most excellent city.
Bậc có trí tuệ vĩ đại, sau khi đã kể lại hành vi trong quá khứ của mình, vị trưởng lão ấy đã nhập Niết-bàn ở tại Sāvatthī, thành phố cao quý.
213.
213.
213.
‘‘Nagarā nikkhamanto taṃ, disvāna isisattamo;
Dārucīradharaṃ dhīraṃ, bāhiyaṃ bāhitāgamaṃ.
As he was leaving the city, the seventh of the seers saw him—the wise Bāhiya wearing the bark-cloth garment, who had come from outside the Dispensation.
Trong khi đang đi ra khỏi thành phố, bậc Thánh Giả Tối Thượng thứ bảy, sau khi đã nhìn thấy vị Bāhiya, bậc hiền trí mặc vỏ cây khô, người đã đến từ bên ngoài (giáo Pháp).
214.
214.
214.
‘‘Bhūmiyaṃ patitaṃ dantaṃ, indaketūva pātitaṃ;
Gatāyuṃ sukkhakilesaṃ †, jinasāsanakārakaṃ.
Fallen on the ground, the tamed one, like a fallen banner of Indra; with life departed, having withered defilements, an observer of the Conqueror's teaching.
(Khi thấy ông) đã ngã xuống đất, đã được điều phục, giống như cây phướn của trời Đế Thiên bị hạ xuống, đã hết tuổi thọ, phiền não đã khô cạn, là người thực hành giáo huấn của bậc Chiến Thắng.
215.
215.
215.
‘‘Tato āmantayī satthā, sāvake sāsane rate;
‘Gaṇhatha netvā † jhāpetha, tanuṃ sabrahmacārino.
Then the Teacher addressed the disciples who delighted in his teaching: ‘Take, carry away, and cremate the body of your companion in the holy life.’
Bấy giờ, bậc Đạo Sư đã gọi các vị đệ tử đang hoan hỷ trong giáo Pháp: ‘Hãy mang đi và hỏa táng thân xác của người bạn đồng phạm hạnh.’
216.
216.
216.
‘‘‘Thūpaṃ karotha pūjetha, nibbuto so mahāmati;
Khippābhiññānamesaggo, sāvako me vacokaro.
‘Make a stūpa for him and pay homage, for that one of great wisdom has attained Parinibbāna. He was the foremost of my disciples in quick direct knowledge, a doer of my word.’
‘Hãy dựng bảo tháp và hãy cúng dường, vị ấy, bậc đại trí, đã tịch diệt. Vị ấy là đệ tử vâng lời của ta, là bậc tối thượng trong số những người có thắng trí nhanh chóng.’
217.
217.
217.
‘‘‘Sahassamapi ce gāthā, anatthapadasañhitā;
Ekaṃ gāthāpadaṃ seyyo, yaṃ sutvā upasammati.
‘Better than a thousand verses composed of words unconnected with benefit is a single line of verse, hearing which one becomes peaceful.’
‘Dầu cho có một ngàn câu kệ bao gồm những lời vô nghĩa, một câu kệ vẫn tốt hơn, mà sau khi nghe xong, người ta được an tịnh.’
218.
218.
218.
‘‘‘Yattha āpo ca pathavī, tejo vāyo na gādhati;
Na tattha sukkā jotanti, ādicco na pakāsati.
‘Where water, earth, fire, and air find no footing, there the stars do not glitter, nor does the sun shed its light;
‘Nơi nào nước, đất, lửa, và gió không có chỗ đứng; nơi ấy các vì sao không chiếu sáng, mặt trời không tỏa rạng.’
219.
219.
219.
‘‘‘Na tattha candimā bhāti, tamo tattha na vijjati;
Yadā ca attanā vedi, munimonena brāhmaṇo.
there the moon does not shine, and darkness is not found. And when a brahmin, a sage by his sagehood, has come to know this for himself,
‘Nơi ấy mặt trăng không soi sáng, bóng tối không tồn tại. Và khi vị Bà-la-môn, bậc ẩn sĩ, tự mình biết được (điều này) bằng trí tuệ của bậc ẩn sĩ.’
220.
220.
220.
‘‘‘Atha rūpā arūpā ca, sukhadukkhā vimuccati’;
Iccevaṃ abhaṇī nātho, tilokasaraṇo muni’’.
‘then from form and the formless, from pleasure and pain, he is released.’ Thus spoke the Protector, the Sage who is the refuge for the three worlds.”
‘Khi ấy, vị ấy được giải thoát khỏi sắc và vô sắc, khỏi lạc và khổ.’ Bậc Hộ Trì, bậc Ẩn Sĩ là nơi nương tựa của ba cõi, đã nói như vậy.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā bāhiyo thero imā gāthāyo
Thus indeed the Venerable Elder Bāhiya recited these verses.
Như thế, Tôn giả Bāhiya đã nói lên các kệ ngôn này.
Abhāsitthāti.
...spoke these verses.
đã nói lên như vậy.
Bāhiyattherassāpadānaṃ chaṭṭhaṃ.
The sixth Apadāna of the Elder Bāhiya is finished.
Thánh tích về Trưởng lão Bāhiya là thứ sáu.