Bản dịch
THA -ap537 — Ký Sự về Trưởng Lão Kumārakassapa
Kumārakassapattheraapadāna
BJT 5813Trước đây một trăm ngàn kiếp, đấng Lãnh Đạo, bậc Anh Hùng tên Padumuttara, vị hữu ích của tất cả thế gian đã hiện khởi.
BJT 5814Lúc bấy giờ, tôi đã là vị Bà-la-môn được nổi tiếng, thông suốt các bộ Vệ Đà. Tôi đã nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian đang tiến hành việc nghỉ ngơi giữa ngày.
BJT 5815Ngài đang công bố về bốn Sự Thật, đang giác ngộ chúng sanh luôn cả chư Thiên, đang tán dương vị đứng đầu trong số các vị thuyết giảng hay ở nơi đám đông dân chúng.
BJT 58165817. Khi ấy, có tâm hoan hỷ tôi đã thỉnh mời đức Như Lai và đã trang hoàng mái che bằng những tấm vải có nhiều màu khắc khác nhau, được sáng chói bởi nhiều loại châu báu. Tại nơi ấy, tôi đã chăm lo bữa ăn đến Ngài là bậc cùng với Hội Chúng. Tôi đã cung cấp bữa ăn có hương vị tối thắng đa dạng trong bảy ngày.
BJT 5818Sau khi cúng dường Ngài cùng các vị Thinh Văn bằng những bông hoa có nhiều màu sắc khác nhau, tôi đã quỳ xuống ở cạnh bàn chân (Ngài) và đã phát nguyện vị thế ấy.
BJT 5819Khi ấy, đấng Hiền Trí cao quý với thiên hướng thực hành hạnh bi mẫn đã nói rằng: “Các ngươi hãy nhìn xem người Bà-la-môn cao quý này có khuôn mặt và con mắt của những đóa hoa sen.
BJT 5820(Người này) tràn ngập niềm phỉ lạc và hưng phấn, có lông tóc dựng đứng, có mắt mở to tỏ lộ nụ cười, có lòng khao khát Giáo Pháp của Ta.
BJT 5821(Người này) đã quỳ xuống ở cạnh bàn chân của Ta với thiện ý hướng đến một điều: Vị ấy phát nguyện về vị thế ấy là bản thể của vị thuyết giảng hay.
BJT 5822Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 5823(Người này) sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, có tên là Kumārakassapa.
BJT 5824Do nhờ tác động của các loại bông hoa cùng vải vóc đã được trang hoàng và của các loại châu báu, người ấy sẽ thành tựu tư cách đứng đầu trong số các vị thuyết giảng hay.”
BJT 5825Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 5826Giống như vũ công ở giữa sân khấu, trong khi quay cuồng ở không gian của các cõi tôi đã hạ sanh vào bụng của con nai cái và đã trở thành nai (đực), con của con nai tên Sākha.
BJT 5827Lúc bấy giờ, khi tôi nhập thai là thời điểm trừng phạt xảy đến. Mẹ tôi đã bị con nai Sākha ruồng bỏ và đã đi đến nương tựa vào (nai chúa) Nigrodha.
BJT 5828Lúc bấy giờ, nhờ vào con nai chúa ấy mẹ tôi đã được thoát khỏi sự chết. Sau khi đã được ban cho mạng sống, mẹ tôi đã giáo huấn tôi như vầy:
BJT 5829“Con nên phục vụ chỉ riêng Nigrodha, chớ có sống thân cận với Sākha. Thà bị chết ở nơi Nigrodha còn tốt hơn nếu phải sống cùng Sākha.”
BJT 5830Được chỉ dạy bởi con nai đầu đàn ấy, tôi cùng mẹ và những con nai khác cũng như vậy đã đi đến trú ngụ ở cõi trời Đẩu Suất đáng yêu, rồi đã đi đến nơi cư trú khác cũng có chỗ ở tương tợ như thế.
BJT 5831Lần khác nữa, trong khi Giáo Pháp của đấng Anh Hùng Kassapa đang đi đến hoại diệt, (bảy vị chúng tôi) đã leo lên đỉnh ngọn núi và đã gắn bó vào lời dạy của đấng Chiến Thắng.
BJT 5832Giờ đây, tôi đã được sanh vào gia tộc triệu phú ở thành Rājagaha. Mẹ của tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình khi đã mang thai.
BJT 5833Biết được mẹ tôi có thai, các vị đã đưa mẹ tôi đến gặp Devadatta. Vị ấy đã nói rằng: “Các người hãy trục xuất cô tỳ khưu ni xấu xa này.”
BJT 5834Giờ đây, (mẹ tôi) cũng đã được đấng Chiến Thắng bậc Hiền Trí Vương thương xót. Được an toàn, mẹ đã sanh ra tôi tại tu viện của các tỳ khưu ni.
BJT 5835Biết được điều ấy, đức vua xứ Kosala đã nuôi dưỡng tôi. Và do việc có phẩm hạnh từ lúc nhỏ, tôi có tên là Kassapa.
BJT 5836So sánh với vị Mahākassapa (Kassapa Lớn), tôi là Kumāra-kassapa (Kassapa thiếu niên). Tôi đã lắng nghe điều đã được đức Phật thuyết giảng rằng xác thân là tương tợ tổ mối.
BJT 5837Do đó, tâm của tôi đã được giải thoát không còn chấp thủ mọi thứ. Tôi đã cảm hóa được đức vua Pāyāsi và đã đạt được vị thế tối thắng.
BJT 5838Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5839Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5840Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Kumārakassapa đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Kumārakassapa là phần thứ năm.
(Tụng phẩm thứ hai mươi bốn).
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
5. Kumārakassapattheraapadānaṃ
5. The Apadāna of the Elder Kumārakassapa
5. Phẩm truyện về Trưởng lão Kumārakassapa
150.
150.
150.
‘‘Ito satasahassamhi, kappe uppajji nāyako;
Sabbalokahito vīro, padumuttaranāmako.
One hundred thousand aeons from this one, the Leader arose, the benefactor of the whole world, the Hero named Padumuttara.
Cách đây một trăm ngàn kiếp, bậc Lãnh Đạo đã sanh khởi, là bậc Anh Hùng vì lợi ích của toàn thể thế gian, có danh hiệu là Padumuttara.
151.
151.
151.
‘‘Tadāhaṃ brāhmaṇo hutvā, vissuto vedapāragū;
Divāvihāraṃ vicaraṃ, addasaṃ lokanāyakaṃ.
At that time, I was a brahmin, renowned and a master of the Vedas. While wandering seeking a secluded place for the day, I saw the Leader of the World,
Khi ấy, tôi là một vị Bà-la-môn, nổi tiếng và là bậc thông suốt Vệ-đà. Trong khi đi tìm nơi nghỉ ban ngày, tôi đã nhìn thấy bậc Lãnh Đạo của thế gian.
152.
152.
152.
‘‘Catusaccaṃ pakāsentaṃ, bodhayantaṃ sadevakaṃ;
Vicittakathikānaggaṃ, vaṇṇayantaṃ mahājane.
proclaiming the Four Truths, awakening the world with its devas, and praising in the great assembly the one foremost among those skilled in varied discourse.
(Tôi đã thấy ngài) đang công bố về Tứ Diệu Đế, đang làm cho thế gian cùng với chư Thiên được giác ngộ, và đang tán dương giữa đại chúng vị đệ nhất trong số những người có tài thuyết giảng đa dạng.
153.
153.
153.
‘‘Tadā muditacittohaṃ, nimantetvā tathāgataṃ;
Nānārattehi vatthehi, alaṅkaritvāna maṇḍapaṃ.
Then, with a gladdened mind, I invited the Tathāgata, and having adorned a pavilion with cloths of various colors,
Khi ấy, với tâm ý hoan hỷ, tôi đã thỉnh mời đức Như Lai. Sau khi đã trang hoàng một gian đình tạ bằng các loại vải có nhiều màu sắc khác nhau.
154.
154.
154.
‘‘Nānāratanapajjotaṃ, sasaṅghaṃ bhojayiṃ tahiṃ;
Bhojayitvāna sattāhaṃ, nānaggarasabhojanaṃ.
a pavilion shining with various jewels, I fed him there together with the Saṅgha. Having fed them for seven days with food of various supreme flavors,
(gian đình tạ) sáng chói với nhiều loại bảo vật, tôi đã cúng dường (đồ ăn) đến ngài cùng với Tăng chúng ở nơi ấy. Sau khi đã cúng dường trong bảy ngày các món ăn có nhiều hương vị hảo hạng.
155.
155.
155.
‘‘Nānācittehi † pupphehi, pūjayitvā sasāvakaṃ †;
Nipacca pādamūlamhi, taṃ ṭhānaṃ patthayiṃ ahaṃ.
Having worshipped him with his disciples with various wonderful flowers, I bowed down at his feet and aspired to that position.
Sau khi đã cúng dường ngài cùng với các vị Thinh Văn bằng các loại hoa đa dạng và đẹp đẽ, tôi đã phủ phục dưới chân ngài và đã phát nguyện về địa vị ấy.
156.
156.
156.
‘‘Tadā munivaro āha, karuṇekarasāsayo †;
‘Passathetaṃ dijavaraṃ, padumānanalocanaṃ.
Then the chief sage, the sole abode of compassion, said: ‘Look at this excellent twice-born one, whose face and eyes are like lotuses,
Khi ấy, bậc Ẩn Sĩ cao cả, là nơi nương tựa duy nhất của lòng bi mẫn, đã nói rằng: ‘Hãy nhìn vị lưỡng sanh cao quý này, người có gương mặt và đôi mắt như hoa sen.
157.
157.
157.
‘‘‘Pītipāmojjabahulaṃ, samuggatatanūruhaṃ;
Hāsamhitavisālakkhaṃ, mama sāsanalālasaṃ.
‘abounding in rapture and joy, with his body-hairs standing on end; with smiling, wide eyes, he is eager for my teaching.
‘Người có nhiều hỷ và lạc, người có lông trên thân dựng đứng, người có đôi mắt mở rộng trong niềm vui và nụ cười, người có lòng khao khát giáo Pháp của ta.
158.
158.
158.
‘‘‘Patitaṃ pādamūle me, ekāvatthasumānasaṃ †;
Esa pattheti taṃ ṭhānaṃ, vicittakathikattanaṃ †.
‘Fallen at my feet, wearing a single garment and well-disposed, this one aspires to that position: the state of being a preacher of varied discourse.
‘Người đang phủ phục dưới chân ta, người chỉ mặc một tấm y và có tâm ý tốt đẹp. Vị này đang phát nguyện về địa vị ấy, tức là khả năng thuyết giảng đa dạng.’
159.
159.
159.
‘‘‘Satasahassito kappe, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
‘One hundred thousand aeons from now, one born in the Okkāka clan, Gotama by clan name, will be the Teacher in the world.
‘Sau một trăm ngàn kiếp nữa, một vị sanh ra trong dòng dõi Okkāka, có tên tộc là Gotama, vị Đạo Sư ấy sẽ có mặt ở trên đời.’
160.
160.
160.
‘‘‘Tassa dhammesu dāyādo, oraso dhammanimmito;
Kumārakassapo nāma, hessati satthu sāvako.
‘An heir to his Dhamma, his legitimate son, created by the Dhamma, he will be a disciple of the Teacher named Kumārakassapa.
“‘Vị ấy sẽ là người thừa kế trong các Pháp của vị ấy, là người con đích thực do Pháp hóa sanh; tên là Kumārakassapa, sẽ là vị Thinh văn của bậc Đạo Sư.
161.
161.
161.
‘‘‘Vicittapupphadussānaṃ, ratanānañca vāhasā;
Vicittakathikānaṃ so, aggataṃ pāpuṇissati’.
‘By the power of varied flowers, cloths, and jewels, he will attain the foremost place among those skilled in varied discourse.’
“‘Do năng lực của các loại hoa và vải đa dạng, và của các loại châu báu; vị ấy sẽ đạt đến địa vị tối thượng trong số những người có tài thuyết giảng đa dạng’.
162.
162.
162.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
By that well-done kamma, and by my intentions and aspirations, when I abandoned the human body, I went to the Tāvatiṃsa heaven.
“Do nghiệp đã được làm tốt đẹp ấy, và do các tác ý và nguyện vọng, sau khi từ bỏ thân người, tôi đã đi đến cõi trời Ba Mươi Ba.
163.
163.
163.
‘‘Paribbhamaṃ bhavābhave †, raṅgamajjhe yathā naṭo;
Sākhamigatrajo hutvā, migiyā kucchimokkamiṃ.
Wandering from one existence to another, like an actor in the middle of a stage, having been born as the son of the deer Sākha, I entered a doe's womb.
“Tôi đã lang thang trong các kiếp sống, giống như người vũ công ở giữa sân khấu; sau khi trở thành con của nai chúa Sākha, tôi đã đi vào bụng của một con nai cái.
164.
164.
164.
‘‘Tadā mayi kucchigate, vajjhavāro upaṭṭhito;
Sākhena cattā me mātā, nigrodhaṃ saraṇaṃ gatā.
Then, while I was in the womb, my mother's turn for being slain arrived. Abandoned by Sākha, my mother went for refuge to Nigrodha.
“Khi ấy, trong lúc tôi đang ở trong bụng mẹ, đến phiên mẹ tôi bị giết. Mẹ của tôi bị (nai chúa) Sākha ruồng bỏ, đã đi đến quy y nơi (nai chúa) Nigrodha.
165.
165.
165.
‘‘Tena sā migarājena, maraṇā parimocitā;
Pariccajitvā sapāṇaṃ †, mamevaṃ ovadī tadā.
She was freed from death by that king of deer, who gave up his own life. Then my mother advised me thus:
“Vị nai chúa ấy đã giải thoát mẹ tôi khỏi cái chết, sau khi đã từ bỏ mạng sống của mình. Khi ấy, mẹ đã khuyên dạy tôi như vầy.
166.
166.
166.
‘‘‘Nigrodhameva seveyya, na sākhamupasaṃvase;
Nigrodhasmiṃ mataṃ seyyo, yañce sākhamhi jīvitaṃ’.
‘One should associate only with Nigrodha; one should not live in association with Sākha. Death in the presence of Nigrodha is better than life in the presence of Sākha.’
“‘Chỉ nên phụng sự Nigrodha, không nên chung sống với Sākha. Thà chết dưới trướng Nigrodha, còn hơn sống với Sākha’.
167.
167.
167.
‘‘Tenānusiṭṭhā migayūthapena, ahañca mātā ca tathetare ca †;
Āgamma rammaṃ tusitādhivāsaṃ, gatā pavāsaṃ sagharaṃ yatheva.
Instructed by that leader of the deer herd, my mother and I, and the others as well, went to the delightful Tusita abode, as if returning to one's own home from abroad.
“Được vị thủ lãnh đàn nai ấy chỉ dạy, tôi, mẹ tôi, và những con nai khác, đã đi đến trú xứ Đâu Suất khả ái, giống như người đi xa trở về nhà của mình.
168.
168.
168.
‘‘Puno kassapavīrassa, atthamentamhi sāsane;
Āruyha selasikharaṃ, yuñjitvā jinasāsanaṃ.
Again, when the Dispensation of the hero Kassapa was declining, having climbed a mountain peak, I applied myself to the Conqueror's Dispensation.
“Một lần nữa, khi giáo huấn của bậc Anh hùng Kassapa đang đi đến chỗ kết thúc, tôi đã leo lên đỉnh núi đá và đã nỗ lực trong giáo huấn của bậc Chiến Thắng.
169.
169.
169.
‘‘Idānāhaṃ rājagahe, jāto seṭṭhikule ahuṃ;
Āpannasattā me mātā, pabbaji anagāriyaṃ.
Now I was born in Rājagaha into a banker's family. My mother, being pregnant, went forth into the homeless life.
“Hiện nay, tôi đã được sanh ra ở thành Rājagaha, trong gia đình của một vị trưởng giả. Mẹ của tôi, trong khi đang mang thai, đã xuất gia vào đời sống không nhà.
170.
170.
170.
‘‘Sagabbhaṃ taṃ viditvāna, devadattamupānayuṃ;
So avoca ‘vināsetha, pāpikaṃ bhikkhuniṃ imaṃ’.
Knowing she was pregnant, they led her to Devadatta. He said: ‘Destroy this wicked bhikkhunī!’
“Sau khi biết được bà ấy có thai, họ đã dẫn bà đến gặp Devadatta. Vị ấy đã nói rằng: ‘Hãy hủy hoại vị tỳ-khưu-ni xấu xa này’.
171.
171.
171.
‘‘Idānipi munindena, jinena anukampitā;
Sukhinī ajanī mayhaṃ, mātā bhikkhunupassaye.
Then, shown compassion by the Lord of Sages, the Conqueror, my mother gave birth to me in comfort in the bhikkhunīs' residence.
“Ngay cả hiện nay, được bậc Lãnh đạo các bậc ẩn sĩ, bậc Chiến Thắng, thương tưởng đến, mẹ của tôi đã sanh ra tôi một cách an toàn ở tại trú xứ của tỳ-khưu-ni.
172.
172.
172.
‘‘Taṃ viditvā mahīpālo, kosalo maṃ aposayi;
Kumāraparihārena, nāmenāhañca kassapo.
Knowing this, the king of Kosala, ruler of the earth, raised me with the honors due to a prince. And I was named Kassapa.
“Sau khi biết được việc ấy, vị vua hộ trì quốc độ, vua xứ Kosala, đã nuôi dưỡng tôi với các danh dự của một hoàng tử. Và tôi có tên là Kassapa.
173.
173.
173.
‘‘Mahākassapamāgamma, ahaṃ kumārakassapo;
Vammikasadisaṃ kāyaṃ, sutvā buddhena desitaṃ.
On account of Mahākassapa, I am Kumārakassapa. Having heard the teaching delivered by the Buddha about the body being like an anthill,
“Do liên hệ đến ngài Mahākassapa, tôi là Kumārakassapa. Sau khi nghe về thân thể tương tự như gò mối đã được Đức Phật thuyết giảng.
174.
174.
174.
‘‘Tato cittaṃ vimucci me, anupādāya sabbaso;
Pāyāsiṃ damayitvāhaṃ, etadaggamapāpuṇiṃ.
then my mind was liberated from everything without clinging. Having subdued Pāyāsi, I attained the foremost position.
“Sau đó, tâm của tôi đã được giải thoát, hoàn toàn không còn chấp thủ. Sau khi đã nhiếp phục Pāyāsi, tôi đã đạt được địa vị đứng đầu này.
175.
175.
175.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burnt up… I dwell without taints.
“Các phiền não của tôi đã được đốt cháy… (vân vân)… tôi sống không còn lậu hoặc.
176.
176.
176.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Welcome indeed was my coming… the Buddha's teaching has been done.
“Sự đến của tôi thật là khéo đến… (vân vân)… giáo huấn của Đức Phật đã được thực hành.
177.
177.
177.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the Buddha's teaching has been done.”
“Bốn Tuệ phân tích… (vân vân)… giáo huấn của Đức Phật đã được thực hành”.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā kumārakassapo thero imā gāthāyo
Thus indeed the Venerable Elder Kumārakassapa
Quả thật, trưởng lão Kumārakassapa khả kính đã nói lên những câu kệ này.
Abhāsitthāti.
He recited these verses.
Đã nói lên như thế.
Kumārakassapattherassāpadānaṃ pañcamaṃ.
The fifth Apadāna of the Elder Kumārakassapa is finished.
(Thiên) Thạnh văn ký sự về trưởng lão Kumārakassapa, phần thứ năm.
Catuvīsatimaṃ bhāṇavāraṃ.
The twenty-fourth recitation section.
Phẩm tụng đọc thứ hai mươi bốn.