Bản dịch
THA -ap536 — Ký Sự về Trưởng Lão Dabba
Dabbamallaputtattheraapadāna
BJT 5771Trước đây một trăm ngàn kiếp, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc hiểu biết về toàn bộ thế gian, đấng Hiền Trí, bậc Hữu Nhãn đã hiện khởi.
BJT 5772Là bậc giáo giới, là vị làm cho hiểu rõ, là vị giúp cho tất cả chúng sanh vượt qua, được thiện xảo trong việc thuyết giảng, đức Phật đã giúp cho nhiều người vượt qua.
BJT 5773Bậc Thương Tưởng, đấng Bi Mẫn, vị tầm cầu sự lợi ích cho tất cả chúng sanh, cũng đã an trú vào ngũ giới cho tất cả các ngoại đạo đã đi đến.
BJT 5774Như thế, được tô điểm với các vị A-la-hán có năng lực như thế ấy, (thế gian) đã không bị rối loạn và trống vắng các vị ngoại đạo.
BJT 5775Bậc Đại Hiền Trí ấy cao năm mươi tám ratana(14.50 m) tợ như cây cột trụ bằng vàng, có ba mươi hai hảo tướng.
BJT 5776Cho đến khi ấy, tuổi thọ được biết là một trăm ngàn năm. Trong khi tồn tại như thế, Ngài đã giúp cho nhiều người vượt qua.
BJT 5777Khi ấy, là con trai nhà triệu phú có danh vọng lớn lao ở tại Haṁsavatī, tôi đã đi đến gặp đấng Quang Đăng của thế gian và đã lắng nghe việc thuyết giảng Giáo Pháp.
BJT 5778Sau khi lắng nghe lời nói của Ngài đang tán dương vị Thinh Văn đang phân bố chỗ trú ngụ cho các vị tỳ khưu, tôi đã được hoan hỷ.
BJT 5779Sau khi thực hiện hành động hướng thượng đến bậc Đại Ẩn Sĩ ấy cùng với Hội Chúng, tôi đã quỳ xuống đê đầu ở bàn chân (Ngài) và đã phát nguyện vị thế ấy.
BJT 5780Khi ấy, trong lúc tán dương việc làm của tôi, đấng Đại Hùng đã nói rằng: “Người đã chăm lo vật thực đến đấng Lãnh Đạo Thế Gian cùng với Hội Chúng trong bảy ngày …
BJT 5781… là người này đây có mắt hình lá sen, có bả vai sư tử, có làn da vàng chói, đã quỳ xuống ở cạnh bàn chân của Ta trong lúc phát nguyện vị thế tối thượng.
BJT 5782Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 5783Khi ấy, người này sẽ là Thinh Văn của vị Phật ấy, được nổi tiếng với tên là Dabba, và sẽ là vị phân bố chỗ trú ngụ hàng đầu.”
BJT 5784Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 5785Và tôi đã cai quản Thiên quốc ba trăm lần, và đã trở thành đấng Chuyển Luân Vương năm trăm lần.
BJT 5786Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm. Do nhờ tác động của nghiệp ấy tôi đã được sung sướng ở tất cả các nơi.
BJT 5787Trước đây chín mươi mốt kiếp, bậc Lãnh Đạo tên Vipassī là vị có ánh mắt thu hút, vị thấy rõ tất cả các pháp đã hiện khởi.
BJT 5788Có tâm xấu xa, tôi đã chửi mắng vị Thinh Văn đã đoạn tận tất cả các lậu hoặc của đức Phật như thế ấy, dầu đã biết rõ là “Vị trong sạch.”
BJT 5789Tôi đã lấy ra tấm thẻ của chính bậc vĩ nhân ấy và tôi đã dâng cúng cơm sữa đến các vị Thinh Văn đại ẩn sĩ (không có phần vị ấy).
BJT 5790Ở vào kiếp Bhadda này, trong số các vị đang thuyết giảng đã hiện khởi đấng cao quý tên Kassapa có danh tiếng vĩ đại, là thân quyến của đấng Phạm Thiên (dòng dõi Bà-la-môn).
BJT 5791Ngài đã làm chói sáng Giáo Pháp, đã khuất phục các hàng ngoại đạo xấu xa, đã huấn luyện những người đáng được huấn luyện, và đã Niết Bàn cùng các Thinh Văn.
BJT 5792Khi đấng Bảo Hộ cùng các vị đệ tử đã Niết Bàn và Giáo Pháp đang đi đến tiêu hoại, chư Thiên bị chấn động, có tóc xổ ra, mặt đầy nước mắt, đã than vãn rằng:
BJT 5793“Sự nhìn thấy Giáo Pháp sẽ bị lụi tàn, chúng ta sẽ không nhìn thấy các vị có sự hành trì tốt đẹp, chúng ta sẽ không được nghe Chánh Pháp. Ôi, chúng ta thật kém phước!”
BJT 5794Khi ấy, toàn bộ quả đất này, vốn bất động, đã có sự chuyển động qua lại. Và biển cả như là có sự sầu muộn đã gào lên âm giọng thê thảm.
BJT 5795Những cái trống không người (sử dụng) đã vang lên từ khắp bốn phương, và các tiếng sấm đem lại sự kinh hãi đã nổ ra khắp nơi.
BJT 5796Những đốm lửa đã rơi xuống từ không trung, và cột khói được nhìn thấy. Tất cả cây cối, chúng sanh, và các loài thú đã kêu gào thảm thiết.
BJT 5797Sau khi nhìn thấy sự bạo tàn xuất hiện báo hiệu sự tiêu hoại của Giáo Pháp, bị chấn động bảy vị tỳ khưu chúng tôi khi ấy đã suy nghĩ rằng:
BJT 5798“Không có Giáo Pháp, đối với chúng ta là đã đủ với cuộc sống rồi. Chúng ta hãy đi vào khu rừng lớn và gắn bó với lời dạy của đấng Chiến Thắng.”
BJT 5799Khi ấy, chúng tôi đã nhìn thấy ngọn núi cao chót vót ở trong khu rừng. Chúng tôi đã leo lên ngọn núi ấy bằng chiếc thang và đã làm chiếc thang rơi xuống.
BJT 5800Khi ấy, vị trưởng lão của chúng tôi đã giáo huấn rằng: “Sự xuất hiện của đức Phật là điều hy hữu, đức tin là điều khó đạt thì (chúng ta) đã đạt được, và Giáo Pháp còn sót lại là ít ỏi.
BJT 5801Các cơ hội đã qua đi và rơi vào biển cả khổ đau vô tận. Do đó, việc thực hành nên được thực hiện trong khi lời dạy của bậc Hiền Trí vẫn còn tồn tại.”
BJT 5802Vị trưởng lão ấy đã trở thành bậc A-la-hán, vị kế tiếp khi ấy là bậc Bất Lai, những vị khác được gắn bó với thiện giới đã đi đến thế giới của chư Thiên.
BJT 5803Vị vượt qua luân hồi đã Niết Bàn, và chỉ một vị ở cõi Tịnh Cư Thiên. Còn tôi, Pukkusāti, Sabhiya, Bāhiya là tương tợ như nhau.
BJT 5804Và luôn cả Kumārakassapa nữa, chúng tôi đã tái sanh ở nơi này nơi khác. Được thương thưởng bởi đấng Gotama, chúng tôi đã được giải thoát khỏi sự trói buộc của luân hồi.
BJT 5805Tôi đã được sanh ra ở thành Kusinārā giữa những người Mallā. Ngay khi tôi còn ở trong bào thai, mẹ của tôi bị chết và đã được đưa lên giàn hỏa thiêu. Từ nơi ấy tôi đã được rơi xuống.
BJT 5806Được rơi xuống ở nơi đống củi, do đó tôi được nổi danh là Dabba.Với năng lực của việc hành trì Phạm hạnh, vào lúc bảy tuổi tôi đã được giải thoát.
BJT 5807Do quả báu của cơm sữa, tôi đã đạt được năm yếu tố. Do sự chửi mắng vị có lậu hoặc đã được đoạn tận, tôi đã bị vu cáo nhiều lần bởi những kẻ xấu.
BJT 5808Giờ đây, tôi đã vượt qua cả hai điều thiện và ác. Sau khi đạt được sự an tịnh tuyệt đối, tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5809Tôi đã phân bố chỗ trú ngụ và đã làm cho các vị có sự hành trì tốt đẹp được vui vẻ. Được hoan hỷ về đức hạnh ấy, đấng Chiến Thắng đã thiết lập tôi vào vị thế tối thắng.
BJT 5810Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5811Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5812Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Dabba Mallaputta đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Dabba Mallaputta là phần thứ tư.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
4. Dabbamallaputtattheraapadānaṃ
4. The Apadāna of the Elder Dabbamallaputta.
4. Phẩm truyện về trưởng lão Dabbamallaputta
108.
108.
108.
‘‘Padumuttaro nāma jino, sabbalokavidū muni;
Ito satasahassamhi, kappe uppajji cakkhumā.
The Conqueror named Padumuttara, knower of all worlds, a sage, the One with Vision, arose in the hundred-thousandth eon from this one.
Vị Toàn Giác tên là Padumuttara, bậc Mâu-ni thông suốt tất cả thế gian, bậc có Mắt (trí tuệ), đã sanh ra trong kiếp thứ một trăm ngàn tính từ đây.
109.
109.
109.
‘‘Ovādako viññāpako, tārako sabbapāṇinaṃ;
Desanākusalo buddho, tāresi janataṃ bahuṃ.
An exhorter, an instructor, a deliverer of all beings; the Buddha, skilled in teaching, delivered many people.
Ngài là bậc khuyên dạy, bậc làm cho hiểu rõ, bậc cứu vớt tất cả chúng sanh. Bậc Giác Ngộ thiện xảo trong việc thuyết giảng đã cứu vớt nhiều chúng sanh.
110.
110.
110.
‘‘Anukampako kāruṇiko, hitesī sabbapāṇinaṃ;
Sampatte titthiye sabbe, pañcasīle patiṭṭhapi †.
Compassionate, merciful, a well-wisher for all beings; he established all the sectarians who approached in the five precepts.
Ngài là bậc có lòng thương xót, bậc có lòng bi mẫn, bậc mưu cầu lợi ích cho tất cả chúng sanh. Ngài đã an lập tất cả các người theo ngoại đạo đã tìm đến trong năm giới.
111.
111.
111.
‘‘Evaṃ nirākulaṃ āsi, suññataṃ † titthiyehi ca;
Vicittaṃ arahantehi, vasībhūtehi tādibhi.
Thus it was untroubled and empty of sectarians, and resplendent with Arahants—those who had attained mastery, the steadfast ones.
Như vậy, (giáo Pháp) đã không bị khuấy động, và trống không những người theo ngoại đạo; (giáo Pháp) đã được điểm tô bởi các vị A-la-hán, là những bậc đã đạt đến sự tự chủ, những bậc như thế ấy.
112.
112.
112.
‘‘Ratanānaṭṭhapaññāsaṃ, uggato so mahāmuni;
Kañcanagghiyasaṅkāso, bāttiṃsavaralakkhaṇo.
That great sage was fifty-eight cubits tall, like a golden stupa, endowed with the thirty-two excellent marks.
Vị Đại Mâu-ni ấy cao năm mươi tám ratana, giống như cổng chào bằng vàng, và có ba mươi hai tướng tốt cao quý.
113.
113.
113.
‘‘Vassasatasahassāni, āyu vijjati tāvade;
Tāvatā tiṭṭhamāno so, tāresi janataṃ bahuṃ.
His lifespan at that time was a hundred thousand years; remaining for that long, he delivered many people.
Vào lúc bấy giờ, tuổi thọ là một trăm ngàn năm. Trong khi tại thế lâu như vậy, vị ấy đã cứu vớt nhiều chúng sanh.
114.
114.
114.
‘‘Tadāhaṃ haṃsavatiyaṃ, seṭṭhiputto mahāyaso;
Upetvā lokapajjotaṃ, assosiṃ dhammadesanaṃ.
At that time in Haṃsavatī, I was a treasurer's son of great renown. Having approached the Light of the World, I heard the teaching of the Dhamma.
Vào lúc bấy giờ, ở thành phố Haṃsavatī, tôi là con trai của một vị trưởng giả, có danh tiếng lớn. Sau khi đã đi đến gần bậc Soi Sáng Thế Gian, tôi đã được nghe thuyết Pháp.
115.
115.
115.
‘‘Senāsanāni bhikkhūnaṃ, paññāpentaṃ sasāvakaṃ;
Kittayantassa vacanaṃ, suṇitvā mudito ahaṃ.
Having heard the words praising a disciple who arranges lodgings for the bhikkhus, I was delighted.
Sau khi nghe lời của vị ấy (đức Phật) đang tán dương vị đệ tử của ngài, là người sắp đặt các chỗ ở cho các vị tỳ-khưu, tôi đã được vui mừng.
116.
116.
116.
‘‘Adhikāraṃ sasaṅghassa, katvā tassa mahesino;
Nipacca sirasā pāde, taṃ ṭhānamabhipatthayiṃ.
Having performed a service for that great sage together with his Saṅgha, I bowed with my head at his feet and aspired for that position.
Sau khi đã thực hiện sự phục vụ đặc biệt đến bậc Đại Sĩ ấy cùng với Tăng chúng, sau khi đã cúi đầu đảnh lễ dưới chân ngài, tôi đã ước nguyện quả vị ấy.
117.
117.
117.
‘‘Tadāha sa mahāvīro, mama kammaṃ pakittayaṃ;
‘Yo sasaṅghamabhojesi, sattāhaṃ lokanāyakaṃ.
Then that Great Hero, proclaiming my deed, said: ‘He who fed the Leader of the World together with the Saṅgha for seven days...
Khi ấy, bậc Đại Anh Hùng ấy, trong khi tuyên dương về nghiệp của tôi, đã nói rằng: ‘Người này đã dâng cúng vật thực đến bậc Lãnh Đạo Thế Gian cùng với Tăng chúng trong bảy ngày.
118.
118.
118.
‘‘‘Soyaṃ kamalapattakkho, sīhaṃso kanakattaco;
Mama pādamūle nipati †, patthayaṃ ṭhānamuttamaṃ.
‘...this one with eyes like lotus petals, shoulders like a lion, and skin the color of gold, falls at my feet, aspiring to the supreme position.’
‘Người này có đôi mắt như cánh hoa sen, vai như vai sư tử, da như vàng ròng, đang nằm phủ phục dưới chân của ta, đang ước nguyện quả vị tối thượng.
119.
119.
119.
‘‘‘Satasahassito kappe, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
‘A hundred thousand aeons from now, born in the Okkāka clan, a Teacher will be in the world, Gotama by name.
‘Trong kiếp thứ một trăm ngàn tính từ đây, vị Đạo Sư sanh ra trong dòng dõi Okkāka, có tên tộc là Gotama, sẽ có mặt ở thế gian.
120.
120.
120.
‘‘‘Sāvako tassa buddhassa, dabbo nāmena vissuto;
Senāsanapaññāpako, aggo hessatiyaṃ tadā’.
‘This one will be a disciple of that Buddha, renowned by the name Dabba; he will then be the foremost apportioner of lodgings.’
‘Vào lúc bấy giờ, người này sẽ là vị đệ tử của đức Phật ấy, nổi danh với tên là Dabba, là người đứng đầu trong việc sắp đặt các chỗ ở.’
121.
121.
121.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
By that well-done deed and by my volitions and aspirations, having abandoned the human body, I went to Tāvatiṃsa.
Do bởi nghiệp đã được làm tốt đẹp ấy và do bởi các tác ý và ước nguyện, sau khi từ bỏ thân người, tôi đã đi đến cõi trời Ba Mươi Ba.
122.
122.
122.
‘‘Satānaṃ tīṇikkhattuñca, devarajjamakārayiṃ;
Satānaṃ pañcakkhattuñca, cakkavattī ahosahaṃ.
Three hundred times I exercised sovereignty over the devas; five hundred times I was a wheel-turning monarch.
Tôi đã trị vì vương quốc của chư thiên trong ba trăm lần, và tôi đã là vị Chuyển Luân Vương trong năm trăm lần.
123.
123.
123.
‘‘Padesarajjaṃ vipulaṃ, gaṇanāto asaṅkhiyaṃ;
Sabbattha sukhito āsiṃ, tassa kammassa vāhasā.
The regional kingship was vast, innumerable by calculation; in every existence I was happy, by the power of that deed.
Việc trị vì các vương quốc địa phương thì rộng lớn, không thể đếm được bằng cách tính toán. Do năng lực của nghiệp ấy, tôi đã được an lạc ở khắp mọi nơi.
124.
124.
124.
‘‘Ekanavutito kappe, vipassī nāma nāyako;
Uppajji cārudassano †, sabbadhammavipassako.
Ninety-one aeons ago, the leader named Vipassī arose; he was pleasing to behold, one who sees all phenomena.
Trong kiếp thứ chín mươi mốt tính từ đây, bậc Lãnh Đạo tên là Vipassī đã sanh ra, ngài có ngoại hình khả ái, là bậc quán thấy tất cả các pháp.
125.
125.
125.
‘‘Duṭṭhacitto upavadiṃ, sāvakaṃ tassa tādino;
Sabbāsavaparikkhīṇaṃ, suddhoti ca vijāniya.
With a corrupt mind I slandered a disciple of that Such-like One, one whose taints were utterly destroyed, though knowing he was pure.
Với tâm niệm xấu xa, tôi đã vu khống vị đệ tử của bậc như thế ấy, là người đã tận diệt tất cả các lậu hoặc, trong khi biết rằng vị ấy là trong sạch.
126.
126.
126.
‘‘Tasseva naravīrassa, sāvakānaṃ mahesinaṃ;
Salākañca gahetvāna †, khīrodanamadāsahaṃ.
Having taken a ticket, I gave milk-rice to the disciples, the great seekers, of that very hero among men.
Sau khi đã nhận lấy thẻ (phân phối vật thực), tôi đã dâng cúng món cơm sữa đến các vị đệ tử của chính bậc Anh Hùng của nhân loại ấy, là những bậc Đại Sĩ.
127.
127.
127.
‘‘Imamhi bhaddake kappe, brahmabandhu mahāyaso;
Kassapo nāma gottena, uppajji vadataṃ varo.
In this fortunate aeon, a kinsman of Brahmā of great renown, Kassapa by name, the best of speakers, arose.
Trong kiếp hiền thiện này, bậc có họ hàng với Phạm Thiên, có danh tiếng lớn, bậc Tối Thắng của các người thuyết giảng, có tên tộc là Kassapa, đã sanh ra.
128.
128.
128.
‘‘Sāsanaṃ jotayitvāna, abhibhuyya kutitthiye;
Vineyye vinayitvāva, nibbuto so sasāvako.
Having illuminated the teaching and overcome the false sectarians, and having trained those who could be trained, he attained final Nibbāna along with his disciples.
Sau khi đã làm cho giáo Pháp được tỏa sáng, sau khi đã chinh phục những người theo tà đạo, sau khi đã giáo huấn những chúng sanh cần được giáo huấn, vị ấy cùng với các đệ tử đã tịch diệt.
129.
129.
129.
‘‘Sasisse nibbute nāthe, atthamentamhi sāsane;
Devā kandiṃsu saṃviggā, muttakesā rudammukhā.
When the Protector and his disciples had attained final Nibbāna, and the teaching was coming to an end, the devas wept in agitation, with dishevelled hair and tearful faces.
Khi bậc Bảo Hộ cùng với các đệ tử đã tịch diệt, trong khi giáo Pháp đang đi đến chỗ kết thúc, chư thiên đã than khóc, có sự xúc động, tóc tai buông xõa, mặt mày đẫm lệ.
130.
130.
130.
‘‘Nibbāyissati dhammakkho, na passissāma subbate;
Na suṇissāma saddhammaṃ, aho no appapuññatā.
‘The axle of the Dhamma will be extinguished; we shall not see those of good vows. We shall not hear the good Dhamma. Alas for our lack of merit!’
‘Trục xe Pháp sẽ bị dập tắt, chúng ta sẽ không được nhìn thấy các bậc có giới hạnh tốt đẹp, chúng ta sẽ không được nghe diệu Pháp. Ôi, sự ít ỏi phước báu của chúng ta!’
131.
131.
131.
‘‘Tadāyaṃ pathavī sabbā, acalā sā calācalā †;
Sāgaro ca sasokova, vinadī karuṇaṃ giraṃ.
Then this entire earth, though firm, quaked and trembled; and the ocean, as if with sorrow, uttered a piteous sound.
Vào lúc bấy giờ, toàn thể quả đất này, vốn không lay chuyển, đã bị rúng động và chấn động. Và đại dương, dường như có sự sầu muộn, đã vang lên tiếng kêu thương cảm.
132.
132.
132.
‘‘Catuddisā dundubhiyo, nādayiṃsu amānusā;
Samantato asaniyo, phaliṃsu ca bhayāvahā.
Non-human drums sounded in the four directions, and terrifying thunderbolts burst forth on all sides.
Các trống trời đã vang lên ở bốn phương. Và từ khắp mọi nơi, các tiếng sét đáng sợ hãi đã nổ vang.
133.
133.
133.
‘‘Ukkā patiṃsu nabhasā, dhūmaketu ca dissati;
Sadhūmā jālavaṭṭā ca †, raviṃsu karuṇaṃ migā.
Meteors fell from the sky and a comet was seen; a smoky cloud-banner appeared, and the wild beasts cried out piteously.
Các sao băng đã rơi xuống từ bầu trời, và sao chổi đã được nhìn thấy. Các cột lửa có khói cũng hiện ra, các loài thú đã kêu lên những tiếng thương cảm.
134.
134.
134.
‘‘Uppāde dāruṇe disvā, sāsanatthaṅgasūcake;
Saṃviggā bhikkhavo satta, cintayimha mayaṃ tadā.
Having seen the harsh portents indicating the decline of the Sāsana, we seven bhikkhus, being alarmed, then reflected:
Khi ấy, sau khi nhìn thấy các điềm báo ghê rợn, là dấu hiệu cho sự biến mất của giáo Pháp, bảy vị tỳ khưu chúng tôi đã kinh sợ và đã suy nghĩ.
135.
135.
135.
‘‘Sāsanena vināmhākaṃ, jīvitena alaṃ mayaṃ;
Pavisitvā mahāraññaṃ, yuñjāma jinasāsanaṃ.
‘For us, enough with this life without the Sāsana! Having entered the great forest, let us apply ourselves to the Victor's Sāsana.’
Đối với chúng tôi, sống mà không có giáo Pháp thì đủ rồi. Sau khi đi vào khu rừng lớn, chúng tôi sẽ thực hành giáo Pháp của bậc Chiến Thắng.
136.
136.
136.
‘‘Addasamha tadāraññe, ubbiddhaṃ selamuttamaṃ;
Nisseṇiyā tamāruyha, nisseṇiṃ pātayimhase.
Then, in that forest, we saw a high and excellent rock; having climbed it by means of a ladder, we cast the ladder down.
Khi ấy, ở trong khu rừng, chúng tôi đã nhìn thấy ngọn núi đá cao lớn và cao thượng. Sau khi dùng thang leo lên ngọn núi ấy, chúng tôi đã xô cái thang đi.
137.
137.
137.
‘‘Tadā ovadi no thero, buddhuppādo sudullabho;
Saddhātidullabhā laddhā, thokaṃ sesañca sāsanaṃ.
Then the elder advised us: ‘The arising of a Buddha is extremely rare; faith, which is very difficult to obtain, has been obtained, and only a little of the Sāsana remains.’
Khi ấy, vị trưởng lão đã khuyên dạy chúng tôi: ‘Sự xuất hiện của đức Phật là rất khó gặp. Đức tin, điều rất khó có được, đã được thành tựu. Và giáo Pháp chỉ còn lại một ít.’
138.
138.
138.
‘‘Nipatanti khaṇātītā, anante dukkhasāgare;
Tasmā payogo kattabbo, yāva ṭhāti mune mataṃ †.
‘Those who have passed beyond the opportune moment fall into the endless ocean of suffering. Therefore, exertion should be made for as long as the Sage's doctrine endures.’
Những người đã bỏ lỡ khoảnh khắc (Phật xuất hiện) sẽ rơi vào đại dương đau khổ không cùng tận. Do đó, cần phải nỗ lực tinh tấn trong khi lời dạy của bậc ẩn sĩ vẫn còn tồn tại.
139.
139.
139.
‘‘Arahā āsi so thero, anāgāmī tadānugo;
Susīlā itare yuttā, devalokaṃ agamhase.
That elder was an Arahant; the one who followed him was a Non-returner. The other five, endowed with good virtue, went to the deva world.
Vị trưởng lão ấy đã là bậc A-la-hán, vị đi theo sau là bậc A-na-hàm. Những vị còn lại, là những người có giới hạnh tốt đẹp, chúng tôi đã đi đến cõi trời.
140.
140.
140.
‘‘Nibbuto tiṇṇasaṃsāro, suddhāvāse ca ekako;
Ahañca pakkusāti ca, sabhiyo bāhiyo tathā.
Having crossed over saṃsāra, he is extinguished. One has gone to the Pure Abodes. And I, and Pukkusāti, and Sabhiya, and Bāhiya likewise.
Vị đã vượt qua vòng luân hồi đã được tịch diệt. Một vị khác thì ở tại Tịnh Cư Thiên. Và tôi, và ngài Pakkusāti, ngài Sabhiya, và ngài Bāhiya cũng vậy.
141.
141.
141.
‘‘Kumārakassapo ceva, tattha tatthūpagā mayaṃ;
Saṃsārabandhanā muttā, gotamenānukampitā.
And Kumārakassapa as well; we went to various places. Compassionated by Gotama, we are freed from the bond of saṃsāra.
Và cả ngài Kumārakassapa, chúng tôi đã đi đến nơi này nơi kia. Do được đức Gotama thương tưởng, chúng tôi đã được giải thoát khỏi sự trói buộc của vòng luân hồi.
142.
142.
142.
‘‘Mallesu kusinārāyaṃ, jāto gabbheva me sato;
Mātā matā citāruḷhā, tato nippatito ahaṃ.
I was born in Kusinārā among the Mallas; I was mindful even in the womb. My mother died and was placed on the pyre, and from there I fell out.
Tôi đã được sanh ra ở Kusinārā của xứ Mallā. Trong khi tôi đang ở trong bụng mẹ, mẹ tôi đã qua đời và được đặt lên giàn hỏa thiêu. Từ đó, tôi đã rơi ra ngoài.
143.
143.
143.
‘‘Patito dabbapuñjamhi, tato dabboti vissuto;
Brahmacārībalenāhaṃ, vimutto sattavassiko.
Having fallen onto a pile of dabba grass, I became known as Dabba. By the power of the holy life, being seven years of age, I was liberated.
Tôi đã rơi xuống đống gỗ, do đó tôi được biết đến với tên gọi Dabba. Nhờ vào năng lực của đời sống Phạm Hạnh, tôi đã được giải thoát vào lúc bảy tuổi.
144.
144.
144.
‘‘Khīrodanabalenāhaṃ, pañcahaṅgehupāgato;
Khīṇāsavopavādena, pāpehi bahucodito.
By the power of offering milk-rice, I became endowed with the five factors. Because of slandering one whose taints were destroyed, I was much accused by the wicked.
Nhờ vào năng lực của (việc cúng dường) cháo sữa, tôi đã đạt được năm yếu tố. Do việc vu khống bậc đã tận diệt các lậu hoặc, tôi đã bị những kẻ xấu ác khiển trách nhiều lần.
145.
145.
145.
‘‘Ubho puññañca pāpañca, vītivattomhi dānihaṃ;
Patvāna paramaṃ santiṃ, viharāmi anāsavo.
I have now gone beyond both merit and demerit; having attained the supreme peace, I dwell without taints.
Giờ đây, tôi đã vượt qua cả hai, phước và tội. Sau khi đã đạt đến sự an tịnh tối thượng, tôi sống không còn các lậu hoặc.
146.
146.
146.
‘‘Senāsanaṃ paññāpayiṃ, hāsayitvāna subbate;
Jino tasmiṃ guṇe tuṭṭho, etadagge ṭhapesi maṃ.
Having delighted those of good vows, I prepared the lodgings. The Victor, pleased with that quality, placed me in the foremost position for this.
Sau khi đã làm hài lòng các bậc có giới hạnh tốt đẹp, tôi đã sắp đặt chỗ ở. Bậc Chiến Thắng, do hài lòng về phẩm hạnh ấy, đã đặt tôi vào vị trí đệ nhất.
147.
147.
147.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burnt up… I dwell without taints.
Các phiền não của tôi đã được đốt cháy... (vân vân)... tôi sống không còn các lậu hoặc.
148.
148.
148.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Indeed, my coming was a good coming… the Buddha's teaching has been done.
Sự đến của tôi quả là khéo đến... (vân vân)... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
149.
149.
149.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the Buddha's teaching has been done.
Bốn Tuệ Phân Tích... (vân vân)... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā dabbamallaputto thero imā gāthāyo
Thus, it is said, the Venerable Elder Dabbamallaputta spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão, Đại đức Dabbamallaputta đã nói những câu kệ này,
Abhāsitthāti.
So he spoke.
đã nói như vậy.
Dabbamallaputtattherassāpadānaṃ catutthaṃ.
The Apadāna of the Elder Dabbamallaputta — the Fourth.
Phẩm truyện về Trưởng lão Dabbamallaputta là phẩm thứ tư.