Bản dịch
THA -ap535 — Ký Sự về Trưởng Lão Mahākappina
Mahākappinattheraapadāna
BJT 5729Đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt về tất cả các pháp đã nổi bật ở trái đất và bầu trời, tương tợ như mặt trời vào mùa thu.
BJT 5730Ngài đánh thức những đóa hoa sen xứng đáng được dẫn dắt bằng ánh sáng của ngôn từ. Đấng Lãnh Đạo làm khô ráo bùn lầy ô nhiễm nhờ vào những tia hào quang của sự hiểu biết.
BJT 5731Ngài tiêu diệt danh vọng của những người ngoại đạo tương tợ như mặt trời tiêu diệt ánh sáng của loài đom đóm. Ngài soi rõ ánh sáng về ý nghĩa của các Sự Thật tợ như mặt trời làm cho châu báu được rạng rỡ.
BJT 5732Ngài là nơi quy tụ của các đức hạnh tợ như biển cả là nơi chứa đựng các báu vật. Như là đám mây, Ngài trút xuống các loài hữu tình cơn mưa Giáo Pháp.
BJT 5733Vào lúc bấy giờ, tôi đã là vị quan phân xử ở thành phố tên Haṁsā. Tôi đã đi đến và đã lắng nghe Giáo Pháp của bậc có tên là Padumuttara.
BJT 5734Trong khi Ngài đang công bố đức hạnh của vị Thinh Văn có kinh nghiệm của vị giáo giới cho các tỳ khưu, khiến tâm ý của tôi được vui thích.
BJT 5735Nghe xong, được hài lòng, với tâm ý vui mừng tôi đã thỉnh mời đức Như Lai cùng với các đệ tử. Sau khi chăm lo bữa ăn, tôi đã phát nguyện vị thế ấy.
BJT 5736Khi ấy, bậc Đại Phước với giọng nói êm dịu của chim thiên nga và của tiếng trống đã nói rằng: “Các ngươi hãy nhìn vị quan đại thần này là người có sự tự tin trong việc xác định.
BJT 5737(Người này) quỳ xuống ở cạnh bàn chân của Ta, có lông tóc dựng đứng, có màu da rạng rỡ, có bả vai đầy đặn, có ánh mắt và khuôn mặt được tịnh tín.
BJT 5738Con người có danh vọng lớn lao ấy đang làm cho đám tùy tùng đông đảo được hài lòng. Có thiên hướng hoan hỷ, người này phát nguyện vị thế của vị (Thinh Văn) có kinh nghiệm.
BJT 5739Do phần vật thực này và do các nguyện lực của tác ý, người này (sẽ) không đi đến khổ cảnh trong một trăm ngàn kiếp.
BJT 5740Có được sự lộng lẫy của vị Trời trong số chư Thiên, có bản chất vĩ đại ở giữa loài người, sau khi đã thọ hưởng phần còn lại, (người này) sẽ thành tựu Niết Bàn.
BJT 5741Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 5742(Người này) sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, có tên là Kappina.”
BJT 5743Từ đó, tôi đã thực hành sự tôn kính khéo được thể hiện trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng. Sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đẩu Suất.
BJT 5744Sau khi chỉ bảo cho chư Thiên, nhân loại, và các vị quốc vương theo lẽ phải, tôi đã sanh ra trong dòng dõi làm nghề dệt ở kế cận thành Bārāṇasī.
BJT 5745Cùng với vợ và nhóm tùy tùng một ngàn người, tôi đã hộ độ năm trăm vị Phật Độc Giác.
BJT 5746Sau khi đã cung cấp vật thực ba tháng, kế đó chúng tôi đã dâng cúng ba y. Từ nơi ấy chết đi, tất cả chúng tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 5747Mệnh chung từ nơi ấy, tất cả chúng tôi đã đi đến bản thể loài người lần nữa. Chúng tôi đã được sanh ra ở trong thành Kukkuṭa, cạnh sườn núi Hi-mã-lạp.
BJT 5748Tôi đã là vị hoàng tử có danh vọng lớn lao tên là Kappina. Những người còn lại, được sanh ra ở gia đình các quan cận thần, đã tháp tùng bản thân tôi.
BJT 5749Tôi đã đạt được sự sung sướng về vương quốc lớn lao, có đầy đủ tất cả các loại dục lạc. Tôi đã nghe về sự xuất hiện của đức Phật được thuật lại bởi những người thương buôn rằng:
BJT 5750“Đức Phật đã hiện khởi ở thế gian là nhân vật độc nhất không ai sánh bằng. Ngài công bố Chánh Pháp về Bất Tử là sự an lạc tối thượng.
BJT 5751Các đệ tử của Ngài là những vị vô cùng chính chắn, khéo được giải thoát, và không còn lậu hoặc.” Sau khi nghe được lời nói tốt đẹp của những người ấy, tôi đã tôn trọng những người thương buôn.
BJT 5752Sau khi từ bỏ vương quyền, tôi cùng với đám cận thần đã ra đi, hướng tâm về đức Phật. Tôi đã nhìn thấy con sông Mahācandā được tràn đầy, ngập đến bờ.
BJT 5753(Con sông) có dòng nước chảy xiết, không có bến tàu, không có cầu treo, khó vượt qua. Tôi đã vượt qua một cách an toàn sau khi tưởng nhớ đến hạnh lành của đức Phật (rằng):
BJT 5754“Nếu đức Phật là bậc đã vượt qua dòng nước hiện hữu, là vị đã đi đến tận cùng của thế giới, là bậc sáng suốt. Do lời nói chân thật này, xin cho việc ra đi của tôi được thành tựu.
BJT 5755Nếu Đạo Lộ đi đến an tịnh là sự giải thoát và là sự an lạc tuyệt đối. Do lời nói chân thật này, xin cho việc ra đi của tôi được thành tựu.
BJT 5756Nếu Hội Chúng là đã vượt qua khu rừng rậm, là Phước Điền vô thượng. Do lời nói chân thật này, xin cho việc ra đi của tôi được thành tựu.”
BJT 5757Liền với khi sự chân thật cao quý đã được thực hiện, nước đã được lìa khỏi con đường. Do đó, tôi đã vượt qua bờ sông đáng yêu một cách thoải mái.
BJT 57585759. Khi ấy, tôi đã nhìn thấy đức Phật đang ngồi phía trước các vị Thinh Văn tợ như mặt trời đang mọc lên, tợ như ngọn núi vàng đang chói sáng, tợ như cây đèn đã được thắp sáng, tợ như mặt trăng được tháp tùng bởi các vì sao, trông như là vị Chúa Trời đang đổ xuống đám mưa những lời thuyết giảng.
BJT 5760Tôi đã cùng với các vị cận thần đảnh lễ rồi đã tiến vào ở một bên. Sau đó, biết được thiên hướng của chúng tôi, đức Phật đã thuyết giảng Giáo Pháp.
BJT 5761Sau khi lắng nghe Giáo Pháp không bợn nhơ, chúng tôi đã nói với đấng Chiến Thắng rằng: “Bạch đấng Đại Hùng, xin Ngài hãy xuất gia cho chúng con. Chúng con nhàm chán về sự hiện hữu.”
BJT 5762Bậc Hiền Trí thứ bảy đã nói như vầy: “Này các tỳ khưu, Giáo Pháp đã khéo được thuyết giảng đưa đến sự đoạn tận khổ đau cho các ngươi. Các ngươi hãy thực hành Phạm hạnh.”
BJT 5763Cùng với lời nói, tất cả chúng tôi cũng đã trở thành những vị mang y phục tỳ khưu, đã được tu lên bậc trên, và là những vị Nhập Lưu trong Giáo Pháp.
BJT 5764Sau đó, đấng Hướng Đạo đã đi đến Jetavana và đã chỉ dạy. Được chỉ dạy bởi đấng Chiến Thắng, tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
BJT 5765Sau đó, tôi đã chỉ dạy một ngàn vị tỳ khưu ấy. Lúc bấy giờ, do việc chỉ dạy của tôi các vị ấy cũng đã trở thành các bậc không còn lậu hoặc.
BJT 5766Được hoan hỷ về đức hạnh ấy, đấng Chiến Thắng ở đám đông dân chúng đã thiết lập tôi vào vị thế tối thắng: “Kappina đứng đầu các vị giáo giới tỳ khưu.”
BJT 5767Việc làm đã được thực hiện ở một trăm ngàn kiếp đã cho tôi nhìn thấy quả báu tại đây. Như là tốc độ của mũi tên khéo được bắn ra, tôi đã thiêu đốt các phiền não của tôi.
BJT 5768Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5769Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5770Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Mahākappina đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Mahākappina là phần thứ ba.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3. Mahākappinattheraapadānaṃ
3. The Apadāna of the Elder Mahākappina
3. Ký sự về Trưởng lão Mahākappina
66.
66.
66.
‘‘Padumuttaro nāma jino, sabbadhammāna pāragū;
Udito ajaṭākāse †, ravīva saradambare.
The Victor named Padumuttara, one who has gone to the far shore of all dhammas, has arisen in the untangled sky like the sun in the autumn firmament.
Bậc Chiến Thắng tên là Padumuttara, vị đã đi đến bờ bên kia của tất cả các pháp, đã xuất hiện giống như mặt trời trên bầu trời mùa thu không mây.
67.
67.
67.
‘‘Vacanābhāya bodheti, veneyyapadumāni so;
Kilesapaṅkaṃ soseti, matiraṃsīhi nāyako.
With the radiance of his speech, he awakens the lotuses of those to be trained; the Leader dries up the mud of defilements with the rays of his wisdom.
Vị ấy làm cho những đóa hoa sen là chúng sanh cần được tế độ được nở ra bằng ánh sáng của lời dạy. Bậc Lãnh Đạo làm khô cạn lớp bùn phiền não bằng những tia sáng trí tuệ.
68.
68.
68.
‘‘Titthiyānaṃ yase † hanti, khajjotābhā yathā ravi;
He destroys the fame of the sectarians, just as the sun destroys the glow of a firefly.
Ngài hủy diệt danh tiếng của các người theo ngoại đạo, giống như mặt trời (hủy diệt) ánh sáng của con đom đóm.
Saccatthābhaṃ pakāseti, ratanaṃva divākaro.
He illuminates the splendor of the meaning of the Truths, just as the sun illuminates a jewel.
Ngài làm hiển lộ ánh sáng của ý nghĩa chân thật, giống như đấng Tạo ra ban ngày (mặt trời) làm cho ngọc báu được tỏ rạng.
69.
69.
69.
‘‘Guṇānaṃ āyatibhūto, ratanānaṃva sāgaro;
Pajjunnoriva bhūtāni, dhammameghena vassati.
He is a repository of virtues, as the ocean is of gems; like the rain god, he rains upon beings with the cloud of the Dhamma.
Ngài là nơi phát sanh của các đức hạnh, giống như biển cả là nơi (phát sanh) của các châu báu. Giống như thần mưa, Ngài tưới tẩm các chúng sanh bằng cơn mưa Chánh pháp.
70.
70.
70.
‘‘Akkhadasso tadā āsiṃ, nagare haṃsasavhaye;
Upecca dhammamassosiṃ, jalajuttamanāmino.
At that time, I was a judge in the city named Haṃsa. Having approached, I heard the Dhamma of the one named Padumuttara.
Khi ấy, tôi là vị quan tòa ở thành phố tên là Haṃsa. Tôi đã đến gần và lắng nghe Chánh pháp của vị có tên là Bông Sen Tối Thượng (Padumuttara).
71.
71.
71.
‘‘Ovādakassa bhikkhūnaṃ, sāvakassa katāvino;
Guṇaṃ pakāsayantassa, tappayantassa † me manaṃ.
While he was proclaiming the virtue of the disciple Katāvī, an exhorter of bhikkhus, my mind was delighted.
Trong khi Ngài đang tuyên dương đức hạnh của vị đệ tử tên là Katāvī, người giáo huấn các vị tỳ-khưu, và làm cho tâm tôi được thỏa thích.
72.
72.
72.
‘‘Sutvā patīto sumano, nimantetvā tathāgataṃ;
Sasissaṃ bhojayitvāna, taṃ ṭhānamabhipatthayiṃ.
Having heard this, pleased and glad at heart, I invited the Tathāgata; having fed him together with his disciples, I aspired for that very position.
Sau khi nghe, tôi đã tin tưởng và hoan hỷ, đã thỉnh mời đấng Như Lai cùng với các vị đệ tử, sau khi đã cúng dường vật thực, tôi đã ước nguyện đạt được địa vị ấy.
73.
73.
73.
‘‘Tadā haṃsasamabhāgo, haṃsadundubhinissano †;
Passathetaṃ mahāmattaṃ, vinicchayavisāradaṃ.
Then he, with a gait like a haṃsa and a voice like a haṃsa, said: ‘Behold this great minister, skilled in judgment,
Khi ấy, vị có dáng điệu như thiên nga, có giọng nói như tiếng trống của thiên nga đã nói rằng: ‘Hãy nhìn vị đại thần này, người thông thạo việc xét xử.’
74.
74.
74.
‘‘Patitaṃ pādamūle me, samuggatatanūruhaṃ;
Jīmūtavaṇṇaṃ pīṇaṃsaṃ, pasannanayanānanaṃ.
‘Fallen at my feet, with his body-hair standing on end, cloud-colored, with plump shoulders, and with serene eyes and face.
‘Người đang phủ phục dưới chân ta, có lông tóc dựng đứng, có màu da như đám mây, có vai tròn trịa, có mắt và mặt trong sáng.’
75.
75.
75.
‘‘Parivārena mahatā, rājayuttaṃ mahāyasaṃ;
Eso katāvino ṭhānaṃ, pattheti muditāsayo.
‘With a great retinue, a royal official of great fame, this one, with a delighted mind, aspires to the position of Katāvī.
‘Vị có đoàn tùy tùng đông đảo, có danh tiếng lớn, người phục vụ cho đức vua. Vị này, với tâm hoan hỷ, đang ước nguyện địa vị của Katāvī.’
76.
76.
76.
‘‘‘Iminā paṇipātena, cāgena paṇidhīhi ca †;
Kappasatasahassāni, nupapajjati duggatiṃ.
‘By this homage, this generosity, and these aspirations, for one hundred thousand eons he will not go to a woeful state.
‘Do sự đảnh lễ này, do sự bố thí, và do các lời nguyện, trong một trăm ngàn kiếp, vị này sẽ không sanh vào khổ cảnh.’
77.
77.
77.
‘‘‘Devesu devasobhaggaṃ, manussesu mahantataṃ;
Anubhotvāna sesena †, nibbānaṃ pāpuṇissati.
‘Having experienced divine splendor among the devas and greatness among humans, by the remaining merit, he will attain Nibbāna.
‘Sau khi đã hưởng thụ sự tốt đẹp của chư Thiên ở cõi trời và sự vĩ đại ở cõi người, với (nghiệp quả) còn lại, vị này sẽ chứng đạt Niết-bàn.’
78.
78.
78.
‘‘‘Satasahassito kappe, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
‘One hundred thousand eons from this eon, one born in the Okkāka clan, a Teacher in the world named Gotama by clan, will arise.
‘Cách đây một trăm ngàn kiếp, một vị sanh ra trong dòng dõi Okkāka, có tên tộc là Gotama, sẽ trở thành bậc Đạo Sư trong thế gian.
79.
79.
79.
‘‘‘Tassa dhammesu dāyādo, oraso dhammanimmito;
Kappino nāma nāmena, hessati satthu sāvako’.
‘An heir in his Dhamma, a legitimate son created by the Dhamma, he will be a disciple of that Teacher, known by the name of Kappina.’
‘Vị ấy sẽ có một vị đệ tử, là người thừa tự trong các Pháp của ngài, là người con đích thực do Pháp hóa sanh, có tên là Kappina’.
80.
80.
80.
‘‘Tatohaṃ sukataṃ kāraṃ, katvāna jinasāsane;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tusitaṃ agamāsahaṃ.
Then, having performed a meritorious deed in the Dispensation of the Conqueror, I abandoned the human body and went to the Tusita heaven.
‘Khi ấy, sau khi đã làm việc thiện lành trong giáo pháp của bậc Chiến Thắng, tôi đã từ bỏ thân người và đã đi đến cõi trời Tusita.
81.
81.
81.
‘‘Devamānusarajjāni, sataso anusāsiya;
Bārāṇasiyamāsanne, jāto keniyajātiyaṃ.
Having ruled over the kingdoms of devas and humans hundreds of times, I was born near Bārāṇasī into a wage-earning clan.
‘Sau khi đã cai trị hàng trăm vương quốc của chư thiên và loài người, tôi đã sanh ra trong một gia đình thợ dệt ở gần thành Bārāṇasī.
82.
82.
82.
‘‘Sahassaparivārena †, sapajāpatiko ahaṃ;
Pañca paccekabuddhānaṃ, satāni samupaṭṭhahiṃ.
With a retinue of a thousand, I, together with my wife, attended upon five hundred Paccekabuddhas.
‘Cùng với một ngàn người tùy tùng, tôi và vợ tôi đã phục vụ năm trăm vị Phật Độc Giác.
83.
83.
83.
‘‘Temāsaṃ bhojayitvāna, pacchādamha ticīvaraṃ;
Tato cutā mayaṃ sabbe, ahumha tidasūpagā.
Having fed them for the three months of the rains-retreat, we then gave the triple robe. Passing away from there, all of us went to the heaven of the Thirty-three.
‘Sau khi đã cúng dường vật thực trong ba tháng, sau đó chúng tôi đã dâng cúng ba y. Sau khi mệnh chung từ đó, tất cả chúng tôi đã đi đến cõi trời Ba Mươi Ba.
84.
84.
84.
‘‘Puno sabbe manussattaṃ, agamimha tato cutā;
Kukkuṭamhi pure jātā, himavantassa passato.
Again, having passed away from there, all of us came to the human state; we were born in the city of Kukkuṭa, at the side of the Himālaya.
‘Một lần nữa, sau khi mệnh chung từ đó, tất cả chúng tôi đã đến cõi người. Chúng tôi đã sanh ra ở thành Kukkuṭa, bên sườn của Hy-mã-lạp sơn.
85.
85.
85.
‘‘Kappino nāmahaṃ āsiṃ, rājaputto mahāyaso;
Sesāmaccakule jātā, mameva parivārayuṃ.
I was named Kappina, a prince of great fame. The others were born in the families of ministers and attended only on me.
‘Tôi là hoàng tử tên Kappina, có danh tiếng lớn. Những người còn lại sanh ra trong gia đình các vị đại thần và đã vây quanh hầu hạ chính tôi.
86.
86.
86.
‘‘Mahārajjasukhaṃ patto, sabbakāmasamiddhimā;
Vāṇijehi samakkhātaṃ, buddhuppādamahaṃ suṇiṃ.
Having attained the happiness of a great kingdom, endowed with all desires, I heard from merchants about the arising of the Buddha.
‘Đã đạt được hạnh phúc của vương quyền lớn lao, được thành tựu tất cả các dục vọng, tôi đã nghe các thương nhân kể rõ về sự xuất hiện của đức Phật.
87.
87.
87.
‘‘‘Buddho loke samuppanno, asamo ekapuggalo;
So pakāseti saddhammaṃ, amataṃ sukhamuttamaṃ.
‘A Buddha has arisen in the world, an unequalled, unique person. He makes known the good Dhamma, the deathless, supreme happiness.’
‘Đức Phật đã xuất hiện ở thế gian, là bậc Vô Song, là nhân vật độc nhất. Vị ấy tuyên thuyết Chánh Pháp, là sự bất tử, là hạnh phúc tối thượng.
88.
88.
88.
‘‘‘Suyuttā tassa sissā ca, sumuttā ca anāsavā’;
‘‘Sutvā nesaṃ suvacanaṃ, sakkaritvāna vāṇije.
‘And his disciples are well-practiced, well-liberated, and taintless.’ Having heard their good words, and having honored the merchants,
‘Các đệ tử của ngài cũng thực hành tốt, được giải thoát tốt đẹp, và không còn lậu hoặc.’ Sau khi nghe lời nói tốt đẹp của họ, tôi đã tỏ lòng tôn kính các thương nhân.
89.
89.
89.
‘‘Pahāya rajjaṃ sāmacco, nikkhamiṃ buddhamāmako;
Nadiṃ disvā mahācandaṃ, pūritaṃ samatittikaṃ.
Having abandoned the kingdom with my ministers, being devoted to the Buddha, I went forth. Having seen the great river Mahācanda, full and level with its banks,
‘Từ bỏ vương quốc, cùng với các đại thần, tôi đã ra đi vì lòng tôn kính đức Phật. Khi nhìn thấy sông Mahācanda nước đầy đến tận bờ.
90.
90.
90.
‘‘Appatiṭṭhaṃ anālambaṃ, duttaraṃ sīghavāhiniṃ;
Guṇaṃ saritvā buddhassa, sotthinā samatikkamiṃ.
Without footing, without support, difficult to cross and swift-flowing, having recollected the quality of the Buddha, I crossed over in safety.
‘Không có chỗ đứng, không có chỗ bám víu, khó vượt qua, và chảy xiết. Tưởng nhớ đến các ân đức của đức Phật, tôi đã vượt qua một cách an toàn.
91.
91.
91.
‘‘‘Bhavasotaṃ sace buddho, tiṇṇo lokantagū vidū †;
Etena saccavajjena, gamanaṃ me samijjhatu.
‘If the Buddha, the wise one, the knower of the world’s end, has crossed the stream of existence, by this statement of truth may my journey be successful.’
‘Nếu đức Phật, bậc Toàn Giác, bậc biết rõ tận cùng thế gian, đã vượt qua dòng trôi của sự hiện hữu, nhờ lời chân thật này, nguyện cho chuyến đi của tôi được thành tựu.
92.
92.
92.
‘‘‘Yadi santigamo maggo, mokkho caccantikaṃ † sukhaṃ;
Etena saccavajjena, gamanaṃ me samijjhatu.
‘If the path leads to peace and liberation is ultimate happiness, by this statement of truth may my journey be successful.’
‘Nếu con đường dẫn đến sự an tịnh, và sự giải thoát thực sự là hạnh phúc tuyệt đối, nhờ lời chân thật này, nguyện cho chuyến đi của tôi được thành tựu.
93.
93.
93.
‘‘‘Saṅgho ce tiṇṇakantāro, puññakkhetto anuttaro;
Etena saccavajjena, gamanaṃ me samijjhatu’.
‘If the Saṅgha has crossed the wilderness and is an unsurpassed field of merit, by this statement of truth may my journey be successful.’
‘Nếu Tăng chúng đã vượt qua vùng hoang vu, là ruộng phước vô thượng, nhờ lời chân thật này, nguyện cho chuyến đi của tôi được thành tựu’.
94.
94.
94.
‘‘Saha kate saccavare, maggā apagataṃ jalaṃ;
Tato sukhena uttiṇṇo, nadītīre manorame.
As soon as this excellent truth was stated, the water parted from the path. Then I crossed over with ease to the delightful riverbank.
‘Ngay khi lời chân thật cao quý được thốt ra, nước đã rẽ ra khỏi con đường. Sau đó, tôi đã vượt qua một cách dễ dàng, đến bên bờ sông khả ái.
95.
95.
95.
‘‘Nisinnaṃ addasaṃ buddhaṃ, udentaṃva pabhaṅkaraṃ;
Jalantaṃ hemaselaṃva, dīparukkhaṃva jotitaṃ.
I saw the Buddha seated, like the rising light-maker, blazing like a golden mountain, like a lit lamp-tree.
‘Tôi đã nhìn thấy đức Phật đang ngồi, giống như mặt trời đang mọc, rực rỡ như ngọn núi vàng, chói sáng như cây đèn.
96.
96.
96.
‘‘Sasiṃva tārāsahitaṃ, sāvakehi purakkhataṃ;
Vāsavaṃ viya vassantaṃ, desanājaladantaraṃ †.
Attended by his disciples like the moon accompanied by stars, he was raining down the teaching from within the cloud of his discourse, like Vāsava.
‘Giống như mặt trăng được các vì sao vây quanh, ngài được các vị đệ tử vây quanh. Giống như trời Đế-thích, ngài đang ban mưa, với mạng lưới thuyết giảng tinh vi.
97.
97.
97.
‘‘Vanditvāna sahāmacco, ekamantamupāvisiṃ;
Tato no āsayaṃ † ñatvā, buddho dhammamadesayi.
Having paid homage with my ministers, I sat down to one side. Then, knowing our disposition, the Buddha taught the Dhamma.
‘Sau khi đảnh lễ cùng với các vị đại thần, tôi đã ngồi xuống một bên. Sau đó, biết được ý muốn của chúng tôi, đức Phật đã thuyết giảng Giáo Pháp.
98.
98.
98.
‘‘Sutvāna dhammaṃ vimalaṃ, avocumha mayaṃ jinaṃ;
‘Pabbājehi mahāvīra, nibbindāmha † mayaṃ bhave’.
Having heard the stainless Dhamma, we said to the Conqueror: ‘Great Hero, give us the going forth; we are disenchanted with existence.’
‘Sau khi nghe Giáo Pháp không tỳ vết, chúng tôi đã thưa với bậc Chiến Thắng: ‘Kính bạch đấng Đại Hùng, xin hãy cho chúng con xuất gia. Chúng con đã nhàm chán trong sự hiện hữu’.
99.
99.
99.
‘‘‘Svakkhāto bhikkhave dhammo, dukkhantakaraṇāya vo;
Caratha brahmacariyaṃ’, iccāha munisattamo.
‘Bhikkhus, the Dhamma is well-expounded for you for making an end of suffering. Practice the holy life,’ thus said the best of sages.
‘Này các Tỳ-khưu, Giáo Pháp đã được khéo thuyết giảng để các ngươi chấm dứt khổ đau. Hãy thực hành đời sống phạm hạnh,’ bậc Thánh Tối Thượng đã nói như vậy.
100.
100.
100.
‘‘Saha vācāya sabbepi, bhikkhuvesadharā mayaṃ;
Ahumha upasampannā, sotāpannā ca sāsane.
Together with his words, all of us became bearers of the appearance of bhikkhus; we became fully ordained and stream-enterers in the Dispensation.
‘Ngay khi lời nói được thốt ra, tất cả chúng tôi đều mang hình tướng của Tỳ-khưu. Chúng tôi đã được thọ cụ túc giới và trở thành bậc Dự Lưu trong giáo pháp.
101.
101.
101.
‘‘Tato jetavanaṃ gantvā, anusāsi vināyako;
Anusiṭṭho jinenāhaṃ, arahattamapāpuṇiṃ.
Then, having gone to Jetavana, the Leader instructed. Having been instructed by the Conqueror, I attained Arahantship.
‘Sau đó, sau khi đi đến Jetavana, bậc Lãnh Đạo đã giáo huấn. Được bậc Chiến Thắng giáo huấn, tôi đã chứng đắc A-la-hán quả.
102.
102.
102.
‘‘Tato bhikkhusahassāni †, anusāsimahaṃ tadā;
Mamānusāsanakarā, tepi āsuṃ anāsavā.
Then at that time I instructed a thousand bhikkhus. Those who followed my instruction, they too became taintless.
‘Sau đó, tôi đã giáo huấn một ngàn vị Tỳ-khưu. Những vị ấy đã làm theo lời giáo huấn của tôi, và họ cũng đã trở thành bậc vô lậu.
103.
103.
103.
‘‘Jino tasmiṃ guṇe tuṭṭho, etadagge ṭhapesi maṃ;
Bhikkhuovādakānaggo, kappinoti mahājane.
Pleased with that quality, the Conqueror placed me in the foremost position among the great assembly, thus: ‘Kappina is foremost among the exhorters of bhikkhus.’
‘Bậc Chiến Thắng, hài lòng với phẩm hạnh ấy, đã đặt tôi vào vị trí tối thượng giữa đại chúng: ‘Kappina là bậc tối thượng trong số những người giáo huấn các Tỳ-khưu’.
104.
104.
104.
‘‘Satasahasse kataṃ kammaṃ, phalaṃ dassesi me idha;
Pamutto saravegova, kilese jhāpayiṃ † mama.
The kamma done a hundred thousand eons ago showed its fruit to me here, like the speed of a released arrow. I have burned up my defilements.
‘Nghiệp đã tạo trong một trăm ngàn kiếp đã cho quả đối với tôi ở đây, giống như tốc độ của mũi tên được bắn đi. Tôi đã thiêu đốt các phiền não của mình.
105.
105.
105.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burned up… I dwell taintless.
‘Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt… (vân vân)… tôi sống không còn lậu hoặc.
106.
106.
106.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Indeed, my coming was a good coming… the Buddha’s teaching has been done.
‘Sự đến của tôi thật là tốt đẹp… (vân vân)… giáo huấn của đức Phật đã được thực hành.
107.
107.
107.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the Buddha’s teaching has been done.
‘Bốn Tuệ Phân Tích… (vân vân)… giáo huấn của đức Phật đã được thực hành’.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā mahākappino thero imā gāthāyo
Thus indeed the Venerable Elder Mahākappina spoke these verses.
Như vậy, trưởng lão Mahākappina khả kính, những câu kệ này
Abhāsitthāti.
He spoke thus.
đã nói lên.
Mahākappinattherassāpadānaṃ tatiyaṃ.
The third Apadāna of the Elder Mahākappina.
Phẩm truyện về trưởng lão Mahākappina, phần thứ ba.