Bản dịch
THA -ap534 — Ký Sự về Trưởng Lão Vakkali
Vakkalittheraapadāna
BJT 5691Trước đây một trăm ngàn kiếp, đã hiện khởi đấng Lãnh Đạo tên Padumuttara là bậc có danh xưng cao thượng, là bậc không thể đo lường.
BJT 5692Ngài có khuôn mặt với hình dáng của đóa hoa sen, có làn da mịn không vết nhơ của đóa hoa sen, không bị nhơ nhuốc bởi thế gian tương tợ đóa hoa sen không bị lấm lem bởi nước.
BJT 5693Đấng Anh Hùng có con mắt hình lá sen, dễ mến tương tợ đóa hoa sen, và có hương thơm nổi bật của đóa hoa sen, do đó Ngài là Padumuttara.
BJT 5694Và bậc Trưởng Thượng của thế gian, không còn ngã mạn, tợ như con mắt cho những kẻ mù, có bản thể an tịnh, là nơi tồn trữ các đức hạnh, là biển cả về lòng bi mẫn và sự hiểu biết.
BJT 5695Có lần nọ, đấng Đại Hùng, vị được đấng Phạm Thiên cùng các hàng A-tu-la và chư Thiên nể vì, được loài người có cả chư Thiên vây quanh, là tối thượng ở giữa dân chúng.
BJT 5697“Không có vị nào khác có khuynh hướng về đức tin, có sự hiểu biết tốt đẹp, có sự gắn bó với việc chiêm ngưỡng Ta như là vị này, giống như vị tỳ khưu Vakkali này vậy.”
BJT 5698Khi ấy, tôi đã thỉnh mời đức Như Lai bậc Vô Nhiễm ấy cùng với các vị Thinh Văn. Sau khi cung cấp vật thực bảy ngày, tôi đã khoác lên (các vị) với những xấp vải đôi.
BJT 5700Được đắm chìm trong biển cả ân đức vô hạn lượng ấy, được tràn đầy phỉ lạc, tôi đã quỳ xuống đê đầu ở Ngài và đã nói lời nói này:
BJT 5701“Bạch đấng Hiền Trí, mong sao con sẽ trở thành vị tỳ khưu đứng đầu trong số những vị có đức tin như vị ấy, là vị đã được Ngài tán dương vào bảy ngày trước đây.”
BJT 5702Được nói như vậy, đấng Đại Hùng bậc Đại Hiền Trí vị có tầm nhìn không bị chướng ngại đã phát biểu ở giữa hội chúng lời nói này:
BJT 5703“Các ngươi hãy nhìn người thanh niên này, mặc vải vàng bóng láng, thân hình được mang sợi dây quàng vai vàng chói, có sự thu hút ánh mắt của mọi người.
BJT 5704Trong thời vị lai xa xăm, người này đây sẽ là vị Thinh Văn đứng đầu trong số những vị có khuynh hướng đức tin của bậc Đại Ẩn Sĩ Gotama.
BJT 5705(Người này) sẽ luân hồi, dầu trở thành vị Thiên nhân hay là loài người, đều được tránh khỏi mọi sự bực bội, được tựu hội trọn vẹn mọi thứ của cải, được sung sướng.
BJT 5706Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên là Gotama, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 5707(Người này) sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, có tên là Vakkali.”
BJT 5708Do tính chất đặc biệt của nghiệp ấy và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 5709Sau khi được sung sướng ở tất cả các nơi trong khi luân hồi ở cõi này cõi khác, tôi đã được sanh ra ở thành Sāvatthī trong một gia đình nọ.
BJT 57105711. (Là đứa bé) mảnh mai như bơ tươi, yếu ớt như mầm non mới mọc, lờ đờ, nằm ngửa ra, (cha mẹ tôi) bị đe dọa vì nỗi hãi sợ từ loài quỷ sứ, với tâm ý khốn khổ, đã đặt tôi nằm xuống ở cạnh bàn chân của bậc Đại Ẩn Sĩ (nói rằng): “Bạch đấng Bảo Hộ, chúng con dâng Ngài đứa bé này. Bạch đấng Lãnh Đạo, xin Ngài hãy là nơi nương nhờ (cho nó).”
BJT 5712Khi ấy, bậc Hiền Trí ấy, nơi nương nhờ của những ai bị kinh sợ, đã nhận lãnh tôi bằng bàn tay mềm mại dịu dàng, có màng lưới (ở các ngón tay), có dấu hiệu hình vỏ ốc (ở lòng bàn tay).
BJT 5713Từ đó trở đi, nhờ vào Ngài tôi được bảo vệ với sự không phải phòng vệ. Mọi sự thù nghịch được tiêu tan, tôi lớn lên trong an lạc.
BJT 5714Không được ở cạnh đấng Thiện Thệ dầu chỉ trong chốc lát là tôi bất mãn. Vào lúc bảy tuổi tính từ khi sanh, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình.
BJT 5715Không được thỏa mãn, tôi ước ao sắc thân được phân bố với mọi nét xinh đẹp, đã được tạo nên do (mười) pháp toàn hảo, là nơi tích tụ quý cao của những điều may mắn.
BJT 5716Khi ấy, biết được tôi hứng thú với sắc thân của đức Phật, đấng Chiến Thắng đã giáo giới tôi rằng: “Này Vakkali, thôi đi. Sao ngươi lại hứng thú ở sắc thân là vật được vui thích bởi những kẻ ngu?
BJT 5717Chỉ người nào nhìn thấy Chánh Pháp, người trí tuệ ấy nhìn thấy Ta. Trong khi không nhìn thấy Chánh Pháp, dầu đang nhìn Ta cũng vẫn không thấy được.
BJT 5718Xác thân có sự tai hại không giới hạn, tương tợ loại cây có độc dược, là chỗ trú ẩn của tất cả các loại bệnh tật, là toàn bộ khối đống khổ đau.
BJT 5719Do đó, ngươi hãy nhàm chán sắc thân, hãy nhìn xem sự sanh và diệt của các uẩn, ngươi sẽ đi đến sự tận cùng của tất cả các nhiễm ô một cách an lạc.”
BJT 5720Đấng Lãnh Đạo ấy, vị tầm cầu sự lợi ích, đã giáo huấn tôi như thế. Tôi đã leo lên núi Gijjhakūṭa và tham thiền ở cái hang nơi triền núi.
BJT 5721Đứng ở chân ngọn núi, bậc Đại Hiền Trí ấy đã nói với tôi rằng: “Này Vakkali.” Nghe được lời nói ấy của đấng Chiến Thắng, tôi đã hoan hỷ.
BJT 5722Tôi đã lao mình xuống vực núi sâu hàng trăm thân người. Khi ấy, do nhờ năng lực của đức Phật, tôi đã đến được mặt đất hoàn toàn bình yên.
BJT 5723Ngài cũng đã thuyết giảng Giáo Pháp lần nữa về sự sanh và diệt của các uẩn. Sau khi hiểu được Pháp ấy, tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
BJT 5724Khi ấy, ở giữa hội chúng vô cùng đông đảo, đấng Đại Trí, bậc đã đi đến tận cùng của sự chết, đã tuyên bố tôi là vị đứng đầu trong số các vị có khuynh hướng đức tin.
BJT 5725Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 5726Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5727Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5728Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Vakkali đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Vakkali là phần thứ nhì.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
2. Vakkalittheraapadānaṃ
2. The Apadāna of the Elder Vakkali
2. Thánh nhân ký sự về trưởng lão Vakkali
28.
28.
28.
‘‘Ito satasahassamhi, kappe uppajji nāyako;
Anomanāmo amito, nāmena padumuttaro.
One hundred thousand aeons from this one, the Leader arose, of noble name, immeasurable, by name Padumuttara.
Cách đây một trăm ngàn đại kiếp, đã xuất hiện bậc Lãnh Đạo, có danh hiệu không thấp kém, không thể so sánh, danh xưng là Padumuttara.
29.
29.
29.
‘‘Padumākāravadano, padumāmalasucchavī;
Lokenānupalittova toyena padumaṃ yathā.
His face had the form of a lotus, his complexion was stainless and beautiful like a lotus; he was unstained by the world, just as a lotus is by water.
Ngài có khuôn mặt giống như hoa sen, có làn da trong sạch không tì vết như hoa sen. Giống như hoa sen không bị dính nước, Ngài cũng không bị dính bởi thế gian.
30.
30.
30.
‘‘Vīro padumapattakkho, kanto ca padumaṃ yathā;
Padumuttaragandhova, tasmā so padumuttaro.
A hero with eyes like lotus petals, and lovely as a lotus; with a supreme fragrance like a lotus, therefore he was Padumuttara.
Bậc Anh Hùng có đôi mắt như cánh sen, đáng yêu mến như hoa sen, có hương thơm cao quý như hương sen. Vì vậy, Ngài có danh hiệu là Padumuttara.
31.
31.
31.
‘‘Lokajeṭṭho ca nimmāno, andhānaṃ nayanūpamo;
Santaveso guṇanidhi, karuṇāmatisāgaro.
The world’s foremost and free from pride, like an eye for the blind; of peaceful demeanor, a repository of virtues, an ocean of compassionate wisdom.
Ngài là bậc Tối Thượng trong thế gian, không có ngã mạn, giống như đôi mắt cho người mù, có dáng vẻ thanh tịnh, là kho tàng của các đức hạnh, có lòng bi mẫn và trí tuệ như biển cả.
32.
32.
32.
‘‘Sa kadāci mahāvīro, brahmāsurasuraccito;
Sadevamanujākiṇṇe, janamajjhe jinuttamo †.
Once that Great Hero, the supreme Victor, worshiped by Brahmas, asuras, and suras, was in the midst of a crowd thronged with devas and humans.
Một khi, đức Phật ấy, bậc Đại Hùng, bậc Vô Thượng, được Phạm thiên, a-tu-la, và chư thiên cúng dường, ở giữa chúng sanh gồm cả chư thiên và loài người,
33.
33.
33.
‘‘Vadanena sugandhena, madhurena rutena ca;
Rañjayaṃ parisaṃ sabbaṃ, santhavī sāvakaṃ sakaṃ.
With a fragrant mouth and a sweet voice, delighting the entire assembly, he praised his own disciple:
Với miệng thơm và giọng nói ngọt ngào, làm vui lòng tất cả hội chúng, Ngài đã tán thán vị đệ tử của mình.
34.
34.
34.
‘‘Saddhādhimutto sumati, mama dassanalālaso †;
Natthi etādiso añño, yathāyaṃ bhikkhu vakkali.
‘As this bhikkhu Vakkali is resolved by faith, of good wisdom, and eager to see me, there is no other such as this.’
‘Vị tỳ khưu Vakkali này là người có tín tâm kiên cố, là người có trí tuệ tốt, là người có lòng khao khát mãnh liệt được thấy ta. Không có vị tỳ khưu nào khác giống như vậy.’
35.
35.
35.
‘‘Tadāhaṃ haṃsavatiyaṃ, nagare brāhmaṇatrajo;
Hutvā sutvā ca taṃ vākyaṃ, taṃ ṭhānamabhirocayiṃ.
At that time, in the city of Haṃsavatī, I was the son of a brahmin. Having heard those words, I took delight in that position.
Khi ấy, ta là con trai của một vị Bà-la-môn ở thành Haṃsavatī, sau khi nghe những lời ấy, đã rất hoan hỷ với địa vị ấy.
36.
36.
36.
‘‘Sasāvakaṃ taṃ vimalaṃ, nimantetvā tathāgataṃ;
Sattāhaṃ bhojayitvāna, dussehacchādayiṃ tadā.
Having invited that stainless Tathāgata together with his disciples, and having fed them for seven days, I then clothed them with cloths.
Khi ấy, ta đã thỉnh mời đức Như Lai thanh tịnh ấy cùng với các vị đệ tử, cúng dường trong bảy ngày, rồi dùng y phục để cúng dường.
37.
37.
37.
‘‘Nipacca sirasā tassa, anantaguṇasāgare;
Nimuggo pītisampuṇṇo, idaṃ vacanamabraviṃ.
Bowing my head to him, immersed in the ocean of endless virtues and filled with joy, I spoke these words:
Ta đắm chìm trong biển công đức vô lượng của Ngài, tràn đầy hỷ lạc, cúi đầu và nói lên những lời này:
38.
38.
38.
‘‘‘Yo so tayā santhavito, ito sattamake muni †;
Bhikkhu saddhāvataṃ aggo, tādiso homahaṃ mune’.
‘O Sage, that bhikkhu who, on the seventh day from today, was praised by you as the foremost among the faithful—O Sage, may I become like him.’
‘Bạch đức Thế Tôn, vào ngày thứ bảy kể từ hôm nay, Ngài đã tán thán một vị tỳ khưu là bậc tối thắng trong những người có tín tâm. Bạch đức Thế Tôn, con mong được trở thành vị tỳ khưu như vậy.’
39.
39.
39.
‘‘Evaṃ vutte mahāvīro, anāvaraṇadassano;
Imaṃ vākyaṃ udīresi, parisāya mahāmuni.
When this was said, the Great Hero, the Great Sage with unobstructed vision, uttered this statement in the assembly:
Khi được thỉnh cầu như vậy, bậc Đại Hùng, bậc có tuệ nhãn không chướng ngại, bậc Đại Mâu-ni, đã nói lên những lời này giữa hội chúng:
40.
40.
40.
‘‘‘Passathetaṃ māṇavakaṃ, pītamaṭṭhanivāsanaṃ;
Hemayaññopacitaṅgaṃ †, jananettamanoharaṃ.
‘Behold this young man, wearing a fine yellow garment, his limbs adorned with golden ornaments, captivating the eyes and minds of the people.’
‘Hãy nhìn chàng thanh niên này, mặc y phục màu vàng óng ả, thân thể được trang điểm bằng dây đeo bằng vàng, làm say đắm mắt và tâm của mọi người.
41.
41.
41.
‘‘‘Eso anāgataddhāne, gotamassa mahesino;
Aggo saddhādhimuttānaṃ, sāvakoyaṃ bhavissati.
‘In a future time, this one will be a disciple of the great sage Gotama, foremost among those resolved by faith.’
‘Chàng thanh niên này, trong tương lai, sẽ là vị đệ tử tối thắng về tín tâm kiên cố của đức Phật Gotama, bậc Đại Ṛṣi.
42.
42.
42.
‘‘‘Devabhūto manusso vā, sabbasantāpavajjito;
Sabbabhogaparibyūḷho, sukhito saṃsarissati.
‘Whether he becomes a deva or a human, being free from all affliction, endowed with all enjoyments, he will wander happily through saṃsāra.’
‘Dù là chư thiên hay loài người, sẽ thoát khỏi mọi phiền não, được hưởng mọi tài sản, sống an lạc trong vòng luân hồi.
43.
43.
43.
‘‘‘Satasahassito kappe, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
‘A hundred thousand aeons from now, one born in the Okkāka clan, Gotama by clan name, will be the Teacher in the world.’
‘Cách đây một trăm ngàn đại kiếp, một vị Đạo Sư sẽ xuất hiện trong thế gian, thuộc dòng dõi Okkāka, có danh xưng là Gotama.
44.
44.
44.
‘‘‘Tassa dhammesu dāyādo, oraso dhammanimmito;
Vakkali nāma nāmena, hessati satthu sāvako’.
‘He will be his heir in the Dhamma, a legitimate son fashioned by the Dhamma. By the name of Vakkali, he will be a disciple of the Teacher.’
‘Sẽ là người thừa kế Giáo pháp của Ngài, người con sinh ra từ tâm, do Pháp tạo ra, một vị đệ tử của Đạo Sư, có danh xưng là Vakkali.’
45.
45.
45.
‘‘Tena kammavisesena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
Through that special kamma, and by my volition and aspirations, having abandoned the human body, I went to the Tāvatiṃsa heaven.
Do nghiệp đặc biệt ấy và do các ý nguyện, sau khi từ bỏ thân người, ta đã đến cõi trời Tāvatiṃsa.
46.
46.
46.
‘‘Sabbattha sukhito hutvā, saṃsaranto bhavābhave;
Sāvatthiyaṃ pure jāto, kule aññatare ahaṃ.
Having been happy everywhere while wandering through various states of existence, I was born in a certain family in the city of Sāvatthī.
Luân hồi trong các kiếp lớn nhỏ, luôn được an lạc ở mọi nơi, ta đã sinh ra trong một gia đình nào đó ở thành Sāvatthī.
47.
47.
47.
‘‘Nonītasukhumālaṃ maṃ, jātapallavakomalaṃ;
Mandaṃ uttānasayanaṃ, pisācabhayatajjitā.
Me, who was delicate as fresh butter, soft as a newly-sprung sprout, helpless and lying on my back—my parents, terrified by fear of demons,
Ta, mềm mại như bơ, dịu dàng như chồi non mới nhú, còn yếu ớt và chỉ biết nằm ngửa, cha mẹ ta, vì sợ hãi quỷ dữ,
48.
48.
48.
‘‘Pādamūle mahesissa, sāyesuṃ dīnamānasā;
Imaṃ dadāma te nātha, saraṇaṃ hohi nāyaka.
laid me at the feet of the Great Sage, with dejected minds, saying: ‘O Lord, we give this child to you. Be our refuge, O Leader!’
đã đặt ta nằm dưới chân của bậc Đại Ṛṣi, với tâm trí đau khổ. ‘Bạch đức Thế Tôn, chúng con xin dâng đứa trẻ này cho Ngài. Bạch bậc Lãnh Đạo, xin hãy là nơi nương tựa.’
49.
49.
49.
‘‘Tadā paṭiggahi so maṃ, bhītānaṃ saraṇo muni;
Jālinā cakkaṅkitena †, mudukomalapāṇinā.
Then that Sage, the refuge for the fearful, accepted me with his soft and tender hand, which was net-like and marked with a wheel.
Khi ấy, bậc Mâu-ni, nơi nương tựa của những người sợ hãi, đã đón nhận ta bằng bàn tay mềm mại, dịu dàng, có dấu hiệu mạng lưới và bánh xe.
50.
50.
50.
‘‘Tadā pabhuti tenāhaṃ, arakkheyyena rakkhito;
Sabbaveravinimutto †, sukhena parivuddhito.
From that time on I was protected by him who needs no protection. Freed from all enmity, I grew up in happiness.
Kể từ đó, được Ngài, bậc không cần người bảo vệ, bảo vệ, ta đã thoát khỏi mọi hiểm nguy và lớn lên trong an lạc.
51.
51.
51.
‘‘Sugatena vinā bhūto, ukkaṇṭhāmi muhuttakaṃ;
Jātiyā sattavassohaṃ, pabbajiṃ anagāriyaṃ.
Being without the Sugata even for a moment, I would feel discontent. When I was seven years of age, I went forth into homelessness.
Chỉ một khoảnh khắc xa rời đức Thiện Thệ, ta cảm thấy buồn chán. Khi được bảy tuổi, ta đã xuất gia, sống đời không nhà.
52.
52.
52.
‘‘Sabbapāramisambhūtaṃ, nīlakkhinayanaṃ † varaṃ;
Rūpaṃ sabbasubhākiṇṇaṃ, atitto viharāmahaṃ †.
Gazing at his form—born of all perfections, excellent, with dark blue eyes, filled with every beauty—I dwelled insatiate.
Ta sống, không bao giờ thỏa mãn khi chiêm ngưỡng sắc thân cao quý của Ngài, kết quả của tất cả các ba-la-mật, với đôi mắt xanh biếc, tràn đầy mọi vẻ đẹp.
53.
53.
53.
‘‘Buddharūparatiṃ † ñatvā, tadā ovadi maṃ jino;
‘Alaṃ vakkali kiṃ rūpe, ramase bālanandite.
Knowing my delight in the Buddha’s form, the Victor then admonished me: ‘Enough, Vakkali! Why do you delight in this form, which is delighted in by fools?
Khi ấy, bậc Chiến Thắng biết được sự ưa thích của ta về sắc thân của đức Phật nên đã giáo huấn ta rằng: ‘Này Vakkali, thôi vừa rồi! Cớ sao ngươi lại ưa thích sắc thân vốn là thứ làm cho kẻ ngu si vui thích?’
54.
54.
54.
‘‘‘Yo hi passati saddhammaṃ, so maṃ passati paṇḍito;
Apassamāno saddhammaṃ, maṃ passampi na passati.
‘For a wise person who sees the good Dhamma, sees me. One who does not see the good Dhamma does not see me even when seeing me.
‘Vị nào là bậc hiền trí thấy được Chánh pháp, vị ấy thấy được ta. Người không thấy được Chánh pháp, dầu cho có thấy ta cũng không phải là thấy.’
55.
55.
55.
‘‘‘Anantādīnavo kāyo, visarukkhasamūpamo;
Āvāso sabbarogānaṃ, puñjo dukkhassa kevalo.
‘This body has endless dangers; it is like a poison tree. It is an abode for all diseases, a mere heap of suffering.
‘Thân này có vô số điều nguy hại, tương tự như cây độc, là nơi trú ngụ của tất cả bệnh tật, chỉ thuần là một khối đau khổ.’
56.
56.
56.
‘‘‘Nibbindiya tato rūpe, khandhānaṃ udayabbayaṃ;
Passa upakkilesānaṃ, sukhenantaṃ gamissati’.
‘Therefore, becoming disenchanted with form, observing the arising and passing away of the aggregates, you will easily go to the end of the defilements.’
‘Do đó, sau khi đã nhàm chán đối với sắc thân, hãy quán xét sự sanh diệt của các uẩn. Người ấy sẽ dễ dàng đi đến sự chấm dứt các phiền não.’
57.
57.
57.
‘‘Evaṃ tenānusiṭṭhohaṃ, nāyakena hitesinā;
Gijjhakūṭaṃ samāruyha, jhāyāmi girikandare.
Thus instructed by that leader, the seeker of welfare, I ascended Vulture Peak and meditated in a mountain gorge.
Được bậc Lãnh Đạo, vị tìm cầu lợi ích, giáo huấn như thế, tôi đã leo lên núi Gijjhakūṭa và hành thiền ở trong hang núi.
58.
58.
58.
‘‘Ṭhito pabbatapādamhi, assāsayi † mahāmuni;
Vakkalīti jino vācaṃ, taṃ sutvā mudito ahaṃ.
The Great Sage, standing at the foot of the mountain, reassured me. The Victor spoke the word, ‘Vakkali!’ Hearing that, I was filled with joy.
Bậc Đại ẩn sĩ đứng ở chân núi đã làm cho tôi được an ổn. Bậc Chiến Thắng đã nói lên lời: ‘Này Vakkali.’ Nghe được lời ấy, tôi đã hoan hỷ.
59.
59.
59.
‘‘Pakkhandiṃ selapabbhāre, anekasataporise;
Tadā buddhānubhāvena, sukheneva mahiṃ gato.
I slipped on the rocky precipice, many hundreds of men's height. Then, by the Buddha’s power, I landed safely on the ground.
Tôi đã lao mình xuống từ vách núi cao hơn một trăm thân người. Khi ấy, nhờ oai lực của đức Phật, tôi đã đáp xuống mặt đất một cách an toàn.
60.
60.
60.
‘‘Punopi † dhammaṃ deseti, khandhānaṃ udayabbayaṃ;
Tamahaṃ dhammamaññāya, arahattamapāpuṇiṃ.
The Sage taught me the Dhamma; he taught the arising and passing away of the aggregates. Having understood that Dhamma, I attained Arahantship.
Ngài lại thuyết giảng Chánh pháp, về sự sanh diệt của các uẩn. Sau khi đã hiểu được Chánh pháp ấy, tôi đã chứng đắc quả A-la-hán.
61.
61.
61.
‘‘Sumahāparisamajjhe, tadā maṃ caraṇantago;
Aggaṃ saddhādhimuttānaṃ, paññapesi mahāmati.
Then, in the midst of a very great assembly, the one of great wisdom, who had gone to the end of conduct, declared me foremost among those liberated by faith.
Khi ấy, ở giữa đại chúng, bậc Đại trí, vị đã đi đến tận cùng của phẩm hạnh, đã tuyên bố tôi là người tối thắng trong số những người được giải thoát nhờ lòng tin.
62.
62.
62.
‘‘Satasahassito kappe, yaṃ kammamakariṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
A hundred thousand aeons ago, because of the deed I did then, I have known no bad destination; this is the fruit of worshipping a Buddha.
Kể từ khi tôi đã tạo nghiệp lành vào một trăm ngàn kiếp trước, tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
63.
63.
63.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burned up... I dwell without taints.
Các phiền não của tôi đã được đốt sạch… (vân vân)… tôi sống không còn lậu hoặc.
64.
64.
64.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Truly, my coming was a good coming... the Buddha’s teaching has been done.
Sự đến của tôi thật là khéo đến… (vân vân)… giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
65.
65.
65.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges... the Buddha’s teaching has been done.
Bốn Tuệ phân tích… (vân vân)… giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā vakkalitthero imā gāthāyo
Thus indeed the Venerable Elder Vakkali these verses
Như vậy, quả thật Trưởng lão Vakkali đã nói những câu kệ này
Abhāsitthāti.
spoke.
đã nói lên như vậy.
Vakkalittherassāpadānaṃ dutiyaṃ.
The Second Apadāna of the Elder Vakkali is finished.
Ký sự về Trưởng lão Vakkali, phần thứ hai.