Bản dịch
THA -ap533 — Ký Sự về Trưởng Lão Mahākaccāna
1 Mahākaccāyanattheraapadāna
BJT 5664Trước đây một trăm ngàn kiếp, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc Lãnh Đạo không có dục vọng, có sự chiến thắng không bị chế ngự, đã hiện khởi.
BJT 5665Đấng Anh Hùng có con mắt hình lá sen, có khuôn mặt không vết bẩn như là mặt trăng, tương tợ ngọn núi vàng, có hào quang sánh bằng ánh sáng mặt trời.
BJT 5666Là vị có sự thu hút ánh mắt và tâm trí của chúng sanh, được tô điểm với các hảo tướng, đã vượt trên mọi phương thức phê phán, được kính trọng bởi loài người và các hạng (Thiên Thần) bất tử.
BJT 5667Trong khi giác ngộ chúng sanh, bậc Toàn Giác là người hùng biện, có âm điệu ngọt ngào, có sự liên tục gắn bó với lòng bi mẫn, và tự tin ở nơi các hội chúng.
BJT 5668Ngài thuyết giảng Giáo Pháp ngọt ngào bao gồm bốn Sự Thật. Ngài tiếp độ những sanh mạng bị chìm đắm trong vũng lầy mê muội.
BJT 5669Khi ấy, tôi đã là một vị đạo sĩ độc hành có chỗ ngụ ở núi Hi-mã-lạp. Trong khi đi đến thế giới loài người bằng đường không trung, tôi đã nhìn thấy đấng Chiến Thắng.
BJT 5670Tôi đã đi đến gần và đã lắng nghe sự thuyết giảng Giáo Pháp của đấng Anh Hùng trong lúc Ngài đang tán dương đức hạnh lớn lao của vị Thinh Văn:
BJT 5671“Giống như vị Kaccāyana này, trong khi giảng giải một cách chi tiết điều đã được Ta nói một cách tóm tắt, khiến cho hội chúng và Ta hài lòng.
BJT 5672Ta không nhìn thấy bất cứ vị Thinh Văn nào khác tương tợ như thế. Vì thế, ở vị thế tối thắng vị này là đứng đầu. Này các tỳ khưu, các ngươi hãy ghi nhận như vậy.”
BJT 5673Khi ấy, tôi đã trở nên sửng sốt sau khi lắng nghe lời nói làm thích ý. Tôi đã đi đến núi Hi-mã-lạp và đã mang lại bó bông hoa.
BJT 5674Sau khi cúng dường đến đấng Nương Nhờ của thế gian, tôi đã phát nguyện vị thế ấy. Khi ấy, biết được thiên hướng của tôi, bậc dứt bỏ sự ham muốn đã chú nguyện rằng:
BJT 5675“Các ngươi hãy nhìn vị ẩn sĩ cao quý này có làn da màu của vàng đã được tinh luyện, có lông tóc dựng đứng, có bả vai đầy đặn, đứng chắp tay bất động.
BJT 5676Có ánh mắt tràn ngập niềm vui, có thiên hướng về việc tán dương đức Phật, có thân hình cao quý tợ như Giáo Pháp, như là đã được tưới lên sự Bất Tử.
BJT 5677Sau khi lắng nghe về đức hạnh của vị Kaccāna, (người này) đang đứng phát nguyện vị thế ấy vào thời vị lai xa vời của bậc Đại Hiền Trí Gotama.
BJT 5678(Người này) sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, có tên là Kaccāna.
BJT 5679Người này sẽ là người nghe nhiều học rộng, có đại trí tuệ, hiểu biết ý định của bậc Hiền Trí, và sẽ thành tựu vị thế ấy như đã được Ta chú nguyện.”
BJT 5680Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 5681Tôi (đã) luân hồi ở hai cảnh giới trong bản thể Thiên nhân và loài người, tôi không biết đến cõi tái sanh khác; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 5682Tôi (đã) được sanh ra ở hai gia tộc, Sát-đế-lỵ và Bà-la-môn, tôi không bị sanh vào gia tộc hạ tiện; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 5683Chính ở kiếp sống cuối cùng hiện nay, tôi đã được sanh ra ở thành phố Ujjenī, (con trai) của vị Bà-la-môn là viên quan tế tự của vua Caṇḍapajjota.
BJT 5684Tôi là Kaccāna, con trai của Tiriṭavaccha, người mẹ tên là Candimā. Tôi là người khôn khéo, thông suốt các bộ Vệ Đà, có làn da cao quý.
BJT 5685Được phái đi bởi vị quân vương nhằm mục đích tìm hiểu về đức Phật, tôi đã được nhìn thấy đấng Lãnh Đạo là cổng thành của sự giải thoát, là sự tích lũy về đức hạnh.
BJT 5686Và tôi đã được nghe lời nói không bợn nhơ có sự làm khô ráo bùn lầy của con đường, tôi đã thành tựu sự Bất Tử thanh tịnh cùng với bảy người còn lại.
BJT 5687Tôi đã trở thành vị hiểu biết về ý định của đấng Thiện Thệ, bậc Đại Hiền Trí. Và tôi đã được thiết lập vào vị thế tối thắng, có ước nguyện đã được thành tựu tốt đẹp.
BJT 5688Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5689Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5690Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Mahākaccāna đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Mahākaccāna là phần thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
1. Mahākaccāyanattheraapadānaṃ
1. The Apadāna of the Elder Mahākaccāyana
1. Thiên sử Trưởng lão Mahākaccāyana
1.
1.
1.
‘‘Padumuttaro nāma jino, anejo ajitaṃ jayo;
Satasahasse kappānaṃ, ito uppajji nāyako.
The Conqueror named Padumuttara, free from craving, victorious over the unvanquished; a hundred thousand aeons ago, that Leader arose.
Cách đây một trăm ngàn kiếp, bậc Lãnh Đạo tên là Padumuttara, bậc Toàn Thắng, không còn ái dục, bậc chiến thắng điều khó thắng, đã xuất hiện.
2.
2.
2.
‘‘Vīro kamalapattakkho, sasaṅkavimalānano;
Kanakācalasaṅkāso †, ravidittisamappabho.
A hero with eyes like lotus petals, with a face as stainless as the moon; resembling a golden mountain, with a splendor equal to the sun's radiance.
Bậc Anh Hùng có đôi mắt như cánh hoa sen, gương mặt thanh tịnh như mặt trăng, thân hình giống như ngọn núi vàng, ánh quang minh như ánh sáng mặt trời.
3.
3.
3.
‘‘Sattanettamanohārī, varalakkhaṇabhūsito;
Sabbavākyapathātīto, manujāmarasakkato.
Captivating the eyes and minds of beings, adorned with the excellent marks; He is beyond all paths of speech, honored by humans and devas.
Ngài quyến rũ tâm và mắt của chúng sanh, được trang hoàng với các tướng tốt cao quý, vượt ngoài mọi lối mòn của ngôn từ, được loài người và chư thiên tôn kính.
4.
4.
4.
‘‘Sambuddho bodhayaṃ satte, vāgīso madhurassaro;
Karuṇānibandhasantāno, parisāsu visārado.
A Perfectly Enlightened One awakening beings, a master of speech with a sweet voice; his stream of being is bound with compassion, he is confident in assemblies.
Bậc Chánh Đẳng Giác làm cho chúng sanh giác ngộ, là bậc Ngôn Từ Chủ, có giọng nói ngọt ngào, có dòng tâm thức được kết nối bởi lòng bi mẫn, không run sợ giữa các hội chúng.
5.
5.
5.
‘‘Deseti madhuraṃ dhammaṃ, catusaccūpasaṃhitaṃ;
Nimugge mohapaṅkamhi, samuddharati pāṇine.
He teaches the sweet Dhamma connected with the Four Noble Truths; he lifts up living beings who are sunk in the mud of delusion.
Ngài thuyết giảng Pháp ngọt ngào, liên quan đến Tứ Diệu Đế; Ngài cứu vớt chúng sanh bị chìm đắm trong vũng lầy si mê.
6.
6.
6.
‘‘Tadā ekacaro hutvā, tāpaso himavālayo;
Nabhasā mānusaṃ lokaṃ, gacchanto jinamaddasaṃ.
Then, having become a solitary ascetic dwelling in the Himalayas, while traveling through the sky to the world of humans, I saw the Victor.
Khi ấy, con là một đạo sĩ sống ở Hy-mã-lạp, tu hành một mình; trong khi đi đến thế giới loài người bằng đường không, con đã nhìn thấy bậc Toàn Thắng.
7.
7.
7.
‘‘Upecca santikaṃ tassa, assosiṃ dhammadesanaṃ;
Vaṇṇayantassa vīrassa, sāvakassa mahāguṇaṃ.
Having approached his presence, I heard the Dhamma discourse of the Hero praising the great virtue of a disciple.
Sau khi đến gần Ngài, con đã được nghe Pháp thoại của bậc Anh Hùng, khi Ngài đang tán thán đại đức của một vị Thinh văn.
8.
8.
8.
‘‘Saṅkhittena mayā vuttaṃ, vitthārena pakāsayaṃ;
Parisaṃ mañca toseti, yathā kaccāyano ayaṃ.
‘Explaining in detail what was stated by me in brief, this Kaccāyana gratifies both the assembly and me.’
‘Điều đã được ta nói một cách tóm tắt, vị Kaccāyana này, trong khi giải thích một cách chi tiết, đã làm hài lòng hội chúng và cả ta nữa.’
9.
9.
9.
‘‘‘Nāhaṃ evamidhekaccaṃ †, aññaṃ passāmi sāvakaṃ;
Tasmātadagge † esaggo, evaṃ dhāretha bhikkhavo’.
‘I do not see any other disciple of such a kind; therefore, he is the foremost in this. O bhikkhus, you should remember it thus.’
‘Ta không thấy một vị Thinh văn nào khác giống như vậy. Do đó, vị này là tối thắng trong lĩnh vực ấy. Này các Tỳ khưu, các ông hãy ghi nhớ như vậy.’
10.
10.
10.
‘‘Tadāhaṃ vimhito hutvā, sutvā vākyaṃ manoramaṃ;
Himavantaṃ gamitvāna, āhitvā † pupphasañcayaṃ.
Then I, having become amazed on hearing those delightful words, went to the Himalayas and brought a collection of flowers.
Khi ấy, sau khi nghe những lời nói làm vui thích tâm hồn, con đã kinh ngạc, rồi đi đến Hy-mã-lạp, và thu gom một số lượng hoa.
11.
11.
11.
‘‘Pūjetvā lokasaraṇaṃ, taṃ ṭhānamabhipatthayiṃ;
Tadā mamāsayaṃ ñatvā, byākāsi sa raṇañjaho.
Having honored the World's Refuge, I aspired for that position. Then he, the Abandoner of Conflict, knowing my aspiration, made this prediction:
Sau khi cúng dường bậc Nương Tựa của thế gian, con đã phát nguyện về địa vị ấy. Khi ấy, sau khi biết được ý nguyện của con, vị đã từ bỏ các phiền não đã thọ ký.
12.
12.
12.
‘‘‘Passathetaṃ isivaraṃ, niddhantakanakattacaṃ;
Uddhaggalomaṃ pīṇaṃsaṃ, acalaṃ pañjaliṃ ṭhitaṃ.
‘Behold this excellent sage with skin like burnished gold, with body-hair erect, broad-shouldered, standing firm with hands clasped in reverence.
‘Hãy nhìn vị ẩn sĩ cao quý này, có làn da như vàng đã được tinh luyện, có lông tóc dựng đứng, vai vế nở nang, không dao động, đang đứng chắp tay.’
13.
13.
13.
‘‘‘Hāsaṃ supuṇṇanayanaṃ, buddhavaṇṇagatāsayaṃ;
Dhammajaṃ uggahadayaṃ †, amatāsittasannibhaṃ’.
‘Smiling, with eyes very full, his aspiration directed to the Buddha’s qualities; born of the Dhamma, with a heart that has grasped it, he is like one sprinkled with the deathless.’
‘Đang mỉm cười, có đôi mắt thật tròn đầy, có ý nguyện hướng về các phẩm chất của đức Phật, có trái tim được nâng cao sanh từ Pháp, giống như được tưới tẩm bởi nước cam lồ bất tử.’
14.
14.
14.
‘‘Kaccānassa guṇaṃ sutvā, taṃ ṭhānaṃ patthayaṃ ṭhito;
Anāgatamhi addhāne, gotamassa mahāmune.
Having heard the virtue of Kaccāyana, I stood aspiring for that position in a future time, in the dispensation of the great sage Gotama.
‘Sau khi nghe về đức hạnh của Kaccāna, vị này đang đứng đó và mong cầu địa vị ấy. Trong thời vị lai, trong giáo pháp của đức Gotama, bậc Đại Ẩn Sĩ.’
15.
15.
15.
‘‘Tassa dhammesu dāyādo, oraso dhammanimmito;
Kaccāno nāma nāmena, hessati satthu sāvako.
‘He will be his heir in the Dhamma, a legitimate son fashioned by the Dhamma. By the name of Kaccāna, he will be a disciple of the Teacher.’
‘Vị ấy sẽ là người thừa tự trong các Pháp của Ngài, là người con đích thực do Pháp tạo ra, là vị Thinh văn của bậc Đạo Sư, có tên là Kaccāna.’
16.
16.
16.
‘‘Bahussuto mahāñāṇī, adhippāyavidū mune;
Pāpuṇissati taṃ ṭhānaṃ, yathāyaṃ byākato mayā.
‘Learned and of great wisdom, knowing the intention of the Sage, he will attain that position, just as this one has been predicted by me.’
‘Vị ấy sẽ là người đa văn, có trí tuệ vĩ đại, thấu hiểu ý định của bậc Ẩn Sĩ; vị ấy sẽ đạt được địa vị ấy, như đã được ta thọ ký.’
17.
17.
17.
‘‘Satasahassito kappe, yaṃ kammamakariṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
One hundred thousand aeons ago from this one, for the deed I did then, I have known no bad destination; this is the fruit of worshiping the Buddha.
Cách đây một trăm ngàn kiếp, khi con đã thực hiện nghiệp ấy; từ đó về sau, con không hề biết đến ác thú. Đây là quả của việc cúng dường đức Phật.
18.
18.
18.
‘‘Duve bhave saṃsarāmi, devatte atha mānuse;
Aññaṃ gatiṃ na gacchāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
I have wandered only in two kinds of existence, the divine and the human; I have not gone to any other destination—this is the fruit of worshiping a Buddha.
Con chỉ luân hồi trong hai cảnh giới, hoặc là cõi trời hoặc là cõi người. Con không đi đến cảnh giới nào khác. Đây là quả của việc cúng dường đức Phật.
19.
19.
19.
‘‘Duve kule pajāyāmi, khattiye atha brāhmaṇe;
Nīce kule na jāyāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
I have been born only in two families, that of warriors and that of brahmins; I am never born in a low family—this is the fruit of worshiping a Buddha.
Con chỉ sanh ra trong hai dòng dõi, hoặc là Sát-đế-lỵ hoặc là Bà-la-môn. Con không sanh ra trong dòng dõi thấp hèn. Đây là quả của việc cúng dường đức Phật.
20.
20.
20.
‘‘Pacchime ca bhave dāni, jāto ujjeniyaṃ pure †;
Pajjotassa ca caṇḍassa, purohitadijādhino †.
Now in my final existence, I was born in the city of Ujjenī, related to the brahmin priest of Pajjota the Fierce.
Và bây giờ, trong kiếp sống cuối cùng, con đã sanh ra ở thành Ujjenī, là người thân cận của vị Bà-la-môn tế tự của vua Pajjota hung bạo.
21.
21.
21.
‘‘Putto tiriṭivacchassa †, nipuṇo vedapāragū;
Mātā ca candimā nāma, kaccānohaṃ varattaco.
I was the son of Tiriṭivaccha, skilled and a master of the Vedas. My mother was named Candimā, and I, Kaccāna, had an excellent golden complexion.
Con là con trai của Tiriṭivacchassa, là người khéo léo, thông suốt Vệ-đà. Mẹ của con tên là Candimā, và con là Kaccāna, người có làn da tuyệt hảo.
22.
22.
22.
‘‘Vīmaṃsanatthaṃ buddhassa, bhūmipālena pesito;
Disvā mokkhapuradvāraṃ, nāyakaṃ guṇasañcayaṃ.
Sent by the king to investigate the Buddha, I saw the Leader, the gateway to the city of liberation, a collection of virtues.
Được nhà vua phái đi để tìm hiểu về đức Phật, con đã nhìn thấy bậc Lãnh Đạo, là cửa ngõ vào thành phố giải thoát, là sự hội tụ của các phẩm hạnh.
23.
23.
23.
‘‘Sutvā ca vimalaṃ vākyaṃ, gatipaṅkavisosanaṃ;
Pāpuṇiṃ amataṃ santaṃ, sesehi saha sattahi.
And having heard his stainless words, which dry up the mud of destinations, I attained the deathless, peaceful state, together with my seven remaining companions.
Và sau khi nghe những lời nói không tỳ vết, làm khô cạn vũng lầy của các cảnh giới, con đã đạt đến trạng thái bất tử, an tịnh, cùng với bảy người còn lại.
24.
24.
24.
‘‘Adhippāyavidū jāto, sugatassa mahāmate;
Ṭhapito etadagge ca, susamiddhamanoratho.
I became one who understands the intention of the greatly wise Sugata. I was placed as the foremost in this, and my heart’s wish was perfectly fulfilled.
Con đã trở thành người thấu hiểu ý định của bậc Thiện Thệ, bậc có trí tuệ vĩ đại. Con đã được đặt vào địa vị tối thắng, và tâm nguyện của con đã được viên mãn.
25.
25.
25.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ, bhavā sabbe samūhatā;
Nāgova bandhanaṃ chetvā, viharāmi anāsavo.
My defilements are burned up; all states of existence have been uprooted. Having cut my bonds like an elephant, I dwell without taints.
Các phiền não của con đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được nhổ bật gốc. Giống như con voi đực đã bẻ gãy các xiềng xích, con sống không còn lậu hoặc.
26.
26.
26.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi, mama buddhassa santike;
‘‘Svāgataṃ vata me āsi, mama buddhassa santike; Tisso vijjā anuppattā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Truly, my coming into the presence of the Buddha was a good coming. The three knowledges have been attained; the Buddha’s teaching has been done.
Thật vậy, sự đến của con là một sự đến tốt đẹp, khi con ở trước sự hiện diện của đức Phật. Tam minh đã được chứng đắc, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
27.
27.
27.
‘‘Paṭisambhidā catasso, vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, these eight liberations, and the six direct knowledges have been realized. The Buddha’s teaching has been done.
Bốn Tuệ phân tích, tám giải thoát này, và sáu thắng trí đã được chứng ngộ. Giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā mahākaccāyano thero imā gāthāyo
Thus indeed the Venerable Elder Mahākaccāyana recited these verses.
Như vậy, trưởng lão Mahākaccāyana, bậc có tuổi thọ, những câu kệ này
Abhāsitthāti.
So it was said.
đã nói lên.
Mahākaccāyanattherassāpadānaṃ paṭhamaṃ.
The First Apadāna of the Elder Mahākaccāyana is finished.
Thánh nhân ký sự về trưởng lão Mahākaccāyana, phần thứ nhất.