Bản dịch
THA -ap532 — Ký Sự về Trưởng Lão Sugandha
Sugandhattheraapadāna
BJT 5618Ở vào kiếp Bhadda này, trong số các vị đang thuyết giảng đã hiện khởi đấng cao quý tên Kassapa, thuộc dòng dõi, có danh tiếng vĩ đại, là thân quyến của đấng Phạm Thiên (dòng dõi Bà-la-môn).
BJT 5619Ngài có đầy đủ các tướng phụ, ba mươi hai hảo tướng, được bao quanh bởi quầng ánh sáng, được hội tụ lại với mạng lưới hào quang.
BJT 5620Là người làm cho thoải mái giống như mặt trăng, là nguồn tạo ra ánh sáng tợ như mặt trời, là người dập tắt (lửa phiền não) giống như cơn mưa, là biểu hiện của đức hạnh tợ như biển cả.
BJT 5621Với giới tợ như trái đất, với định như là núi Hi-mã-lạp, với tuệ ví như bầu trời, không bị dính mắc giống như làn gió.
BJT 5622Có lần nọ, bậc Đại Anh Hùng ấy, vị có sự tự tin ở nơi các hội chúng, trong khi đang tiếp độ đám đông dân chúng, Ngài đã công bố về các Sự Thật.
BJT 5623Chính vào lúc ấy, tôi đã là con trai nhà triệu phú ở tại thành Bārāṇasī có danh vọng lớn lao. Khi ấy, tôi có được dồi dào về tài sản và lúa gạo.
BJT 5624Trong khi lang thang đi bách bộ, tôi đã đến gần Vườn Nai (Lộc Uyển) và tôi đã nhìn thấy đức Phật, bậc Vô Nhiễm, đang thuyết giảng về vị thế Bất Tử.
BJT 5625Với giọng nói thân mật vui vẻ có âm điệu sánh bằng chim karavīka, có âm vang như tiếng kêu của loài thiên nga, Ngài đang làm cho đám đông dân chúng hiểu rõ.
BJT 5626Tôi đã nhìn thấy vị Trời của chư Thiên và đã lắng nghe giọng nói ngọt ngào. Sau khi dứt bỏ các của cải không phải là ít, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình.
BJT 5627Được xuất gia như vậy, tôi đã được nghe nhiều, và không bao lâu tôi đã trở thành vị Pháp sư, có tài biện giải về nhiều mặt.
BJT 5628Có sự tự tin về màu sắc, với tâm vui mừng tôi đã tán dương lập đi lập lại về màu sắc của màu da vàng chói ở giữa đại chúng:
BJT 5629“Đức Phật này có lậu hoặc đã được cạn kiệt, không còn phiền muộn, hoài nghi đã được chặt đứt, đã đạt đến sự đoạn tận tất cả các nghiệp, đã được giải thoát về sự đoạn tận các mầm mống tái sanh.
BJT 5630Vị này đây là đức Thế Tôn, là đức Phật, là loài sư tử không gì vượt trội, là bậc chuyển vận bánh xe Phạm hạnh của thế gian luôn cả chư Thiên.
BJT 5631Đã được rèn luyện, Ngài là vị giúp cho đại chúng rèn luyện. Là bậc an tịnh và là vị ẩn sĩ đã Niết Bàn, Ngài hướng dẫn đại chúng Niết Bàn. Đã được tự tại, Ngài giúp cho đại chúng được tự tại.
BJT 5632Đấng Chiến Thắng ấy là bậc anh hùng, là người dũng cảm, là vị khôn ngoan, là bậc trí tuệ, là vị có lòng bi mẫn, là bậc có năng lực, là người thắng trận, không thô tháo, không còn quyến luyến.
BJT 5633Đấng Hiền Trí là không có dục vọng, không dao động, khôn ngoan, không mê mờ, không thể sánh bằng, có thể gánh vác trọng trách, là loài bò mộng, là loài voi, là loài sư tử, và còn là vị có khả năng trong số các bậc thầy nữa.
BJT 5634Là vị Trời Phạm Thiên, là vị anh hùng về thuyết giảng, vị không còn tham ái, không còn ô nhiễm, dứt bỏ sự ham muốn, không nhẫn tâm, lìa sầu khổ, không ai sánh bằng, thu thúc, và trong sạch.
BJT 5635Là người Bà-la-môn, là vị Sa-môn, là người bảo hộ, là người thầy thuốc, là người phẫu thuật, là người chiến sĩ, là bậc đã giác ngộ, là người con trai đã lắng nghe, là người không dao động, là người được trào dâng niềm hoan hỷ.
BJT 5636Là người thiết lập, là người duy trì, là người phá hủy, là người thực hiện, là người hướng dẫn, là người giảng giải, là người làm cho hoan hỷ, là người đập vỡ, là người cắt đứt, là người lắng nghe, là người khen ngợi.
BJT 5637Ngài là vị không nhẫn tâm, lìa sầu khổ, không còn phiền muộn, không có hoài nghi, không dục vọng, không vướng bụi trần, là người kham nhẫn, là người ra đi, là vị diễn giả, là người giảng giải.
BJT 5638Là người giúp cho vượt qua, là người làm cho tiến bộ, là người bảo làm, là người mở tung ra, là người dẫn đi, là người chịu đựng, là người tiêu diệt, là người phá hủy, là vị khổ hạnh có sự nhiệt tâm.
BJT 5639Có tâm bình lặng, hoàn toàn an tịnh, không bạn đồng hành, đầy lòng trắc ẩn, là chúng sanh kỳ diệu, không lừa đảo, là người đã hoàn tất, là vị ẩn sĩ thứ bảy.
BJT 5640Là đấng Chiến Thắng đã vượt qua sự hoài nghi, không còn ngã mạn, không thể đo lường, không thể so sánh, đã vượt trên mọi phương thức khen chê, người đã đi đến tận cùng về các Sự Thật và các điều cần hiểu biết.
BJT 5641Niềm tịnh tín ở con người có phẩm chất cao quý ấy đưa đến Bất Tử. Vì thế, niềm tin ở đức Phật, ở Giáo Pháp, và ở Hội Chúng là có sự thành tựu lớn lao.”
BJT 5642Trong khi tán dương bậc nương nhờ tối thượng của tam giới với những đức hạnh, v.v… như thế, tôi đã thực hiện việc thuyết giảng Giáo Pháp ở giữa các hội chúng.
BJT 5643Từ nơi ấy chết đi, tôi đã thọ hưởng sự an lạc lớn lao ở cõi trời Đẩu Suất. Mệnh chung từ nơi ấy, được sanh lên ở giữa loài người, tôi là người có hương thơm ngạt ngào.
BJT 5644Tôi có hơi thở và hương thơm ở miệng, có hương thơm ở cơ thể tương tợ y như thế, và có hương thơm của mồ hôi một cách liên tục. Các hương thơm này vượt trội mọi thứ hương thơm.
BJT 5645Hương thơm ở miệng của tôi luôn luôn có mùi thơm của hoa sen, hoa súng, và hoa campaka. Và trong lúc đang thuyết trình, cơ thể của tôi luôn luôn tỏa ra mùi thơm tương tợ như thế ấy
BJT 5646Và tất cả quả báu ấy của việc ngợi ca về đức hạnh là kỳ diệu bậc nhất. Xin tất cả các vị hãy lắng nghe tôi với tâm ý chăm chú, tôi sẽ giảng giải toàn bộ.
BJT 5647Sau khi nói về hạnh lành của đức Phật vì lợi ích cho các sự gắn bó của loài người, tôi được sung sướng ở khắp mọi nơi, được sở hữu hai loại tài sản có tính chất luân chuyển.
BJT 5648Tôi có danh vọng, được sung sướng, dễ mến, thông minh, có vẻ nhìn đáng yêu, là vị diễn giả không bị chê bai, không khuyết điểm, và có trí tuệ như thế.
BJT 5649Khi tuổi thọ được cạn kiệt, Niết Bàn là điều dễ dàng đạt được đối với những người có sự tận tụy đối với đức Phật. Tôi sẽ trình bày về nguyên nhân của họ, xin các vị hãy lắng nghe điều ấy đúng theo thực thể.
BJT 5650Trong lúc tôi đang đảnh lễ sự an tịnh và oai lực của đức Thế Tôn đúng theo phương pháp; do việc đó cho dù sanh lên ở bất cứ đâu tôi đều có danh vọng.
BJT 5651Trong lúc tán dương đức Phật là bậc Đoạn Tận khổ đau, Giáo Pháp là an tịnh không tạo tác, tôi đã là người ban phát sự an lạc đến chúng sanh; do đó tôi được an lạc.
BJT 5652Trong lúc nói về hạnh lành của đức Phật, tôi có được niềm phỉ lạc đối với đức Phật, tôi đã làm sanh khởi sự yêu mến đối với bản thân và sự yêu mến đối với người khác; do điều ấy tôi là người dễ mến.
BJT 5653Tôi đã khuất phục các ngoại đạo xấu xa ở đoàn người dẫy đầy các hàng ngoại đạo. Trong lúc nói về hạnh lành (của Ngài) tôi đã làm rạng rỡ đấng Lãnh Đạo; do đó tôi có sự rạng rỡ.
BJT 5654Trong lúc nói về hạnh lành của bậc Toàn Giác, Tôi cũng là người tạo ra sự yêu mến ở dân chúng, tợ như mặt trăng vào mùa thu; do điều ấy tôi đã có vẻ nhìn đáng yêu.
BJT 5655Tôi đã ngợi ca đấng Thiện Thệ bằng mọi ngôn từ (sắc bén) tương tợ như tính năng của lưỡi dao găm; do điều ấy tôi là người hùng biện có tài biện luận về nhiều mặt.
BJT 5656Bị thiếu trí, những kẻ ngu dốt chê bai bậc Đại Hiền Trí. Tôi đã quở trách bọn họ bằng Chánh Pháp; do điều ấy tôi là người không bị quở trách.
BJT 5657Do nhờ việc tán dương đức Phật đến chúng sanh, tôi đã xua đi các điều ô nhiễm, tôi có tâm ý không còn ô nhiễm do nhờ tác động của nghiệp ấy.
BJT 5658Là người thuyết giảng về sự niệm tưởng về đức Phật, tôi đã làm sanh khởi tánh giác ngộ cho những người nghe; do điều ấy tôi đã là người có trí tuệ, nhìn thấy rõ mục đích một cách khôn khéo.
BJT 5659Có kẻ thù là tất cả các lậu hoặc đã được đoạn tận, có biển cả luân hồi đã được vượt qua, tôi sẽ thành tựu sự tịch diệt tợ như ngọn lửa không còn nhiên liệu (sẽ lụi tàn).
BJT 5660Việc tôi đã ngợi ca đấng Chiến Thắng là ngay trong chính kiếp này, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc ca ngợi đức Phật.
BJT 5661Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5662Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5663Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Sugandhađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Sugandha là phần thứ mười.
Phần Tóm Lược:
Vị dâng cúng cỏ, vị dâng cúng chiếc giường, luôn cả vị nương nhờ, vị dâng dầu thoa, (vị dâng cúng) tấm vải đẹp, vị dâng cúng cây gậy, tương tợ y như thế là vị cúng dường bông hoa nela, vị quét cội Bồ Đề, vị dâng cúng trái cây āmaṇḍa, vị Bà-la-môn có hương thơm là thứ mười. Và ở đây, được tính đếm toàn bộ là một trăm với hai mươi ba câu kệ.
Phẩm Tiṇadāyaka là phẩm thứ năm mươi ba.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
10. Sugandhattheraapadānaṃ
10. The Apadāna of the Elder Sugandha
10. Phẩm chuyện về trưởng lão Sugandha
81.
81.
81.
‘‘Imamhi bhaddake kappe, brahmabandhu mahāyaso;
Kassapo nāma gottena †, uppajji vadataṃ varo.
In this fortunate eon, one of the brahmin caste, of great renown, Kassapa by name, the best of speakers, arose.
“Trong kiếp hiền thiện này, bậc thân tộc của Phạm Thiên, có danh tiếng lớn, bậc Tối Thắng trong các người thuyết giảng, có tên là Kassapa theo dòng tộc, đã sanh khởi.”
82.
82.
82.
‘‘Anubyañjanasampanno, bāttiṃsavaralakkhaṇo;
Byāmappabhāparivuto, raṃsijālasamotthaṭo †.
Endowed with the minor characteristics, possessing the thirty-two excellent marks, he was surrounded by a fathom-wide aura, covered by a net of rays.
“Vị ấy đầy đủ các tướng phụ, có ba mươi hai tướng tốt của bậc Đại nhân, được bao quanh bởi hào quang một tầm, được bao phủ bởi mạng lưới các tia sáng.”
83.
83.
83.
‘‘Assāsetā yathā cando, sūriyova pabhaṅkaro;
Nibbāpetā yathā megho, sāgarova guṇākaro.
He is a comforter like the moon, a maker of light like the sun; an extinguisher like a cloud, a mine of virtues like the ocean.
“Vị ấy là đấng an ủi như mặt trăng, là đấng tạo ra ánh sáng như mặt trời, là đấng dập tắt (phiền não) như đám mây, là kho tàng các đức hạnh như biển cả.”
84.
84.
84.
‘‘Dharaṇīriva sīlena, himavāva samādhinā;
Ākāso viya paññāya, asaṅgo anilo yathā.
Like the earth in virtue, like the Himālaya in concentration; like space in wisdom, unattached like the wind.
“Về giới hạnh, vị ấy như đất; về định, như núi Himavā; về tuệ, như hư không; về sự không dính mắc, như là gió.”
85.
85.
85.
‘‘Sa kadāci mahāvīro, parisāsu visārado;
Saccāni sampakāseti, uddharanto mahājanaṃ.
That great hero, skilled in assemblies, would at times proclaim the truths, uplifting the great populace.
“Vị Đại Anh Hùng ấy, có khi, là bậc vô úy giữa các hội chúng, trong khi cứu vớt đại chúng, đã tuyên thuyết các chân lý.”
86.
86.
86.
‘‘Tadā hi bārāṇasiyaṃ, seṭṭhiputto mahāyaso;
Āsahaṃ dhanadhaññassa †, pahūtassa bahū tadā.
At that time in Bārāṇasī, I was a treasurer’s son of great renown, from a family of abundant wealth and grain.
“Khi ấy, ở tại Bārāṇasī, tôi đã là con trai của vị trưởng giả có danh tiếng lớn, có nhiều tài sản và lúa gạo, vào lúc ấy (tôi) có rất nhiều (của cải).”
87.
87.
87.
‘‘Jaṅghāvihāraṃ vicaraṃ, migadāyamupeccahaṃ †;
Addasaṃ virajaṃ buddhaṃ, desentaṃ amataṃ padaṃ.
Wandering on a walking tour, I approached the Deer Park and saw the dustless Buddha teaching the deathless state.
“Trong khi đang đi dạo, tôi đã đi đến Migadāya (Vườn Lộc Uyển) và đã nhìn thấy đức Phật không còn bụi bẩn, đang thuyết giảng về trạng thái bất tử.”
88.
88.
88.
‘‘Visaṭṭhakantavacanaṃ, karavīkasamassaraṃ;
Haṃsarutehi † nigghosaṃ, viññāpentaṃ mahājanaṃ.
His speech was clear and lovely, his voice like the karavīka bird, his call like the cry of a swan, as he was instructing the great populace.
“Vị ấy có lời nói trong sáng và đáng ưa thích, có giọng nói giống như chim karavīka, có âm thanh như tiếng kêu của chim hamsa, đang làm cho đại chúng được hiểu rõ.”
89.
89.
89.
‘‘Disvā devātidevaṃ taṃ, sutvāva madhuraṃ giraṃ;
Pahāyanappake bhoge, pabbajiṃ anagāriyaṃ.
Having seen him, the god beyond gods, and having heard his sweet voice, I abandoned my abundant possessions and went forth into the homeless life.
“Sau khi nhìn thấy vị Thiên-trung-Thiên ấy và nghe được lời nói ngọt ngào, tôi đã từ bỏ các tài sản không nhỏ và đã xuất gia vào đời sống không nhà.”
90.
90.
90.
‘‘Evaṃ pabbajito cāhaṃ, na cirena bahussuto;
Ahosiṃ dhammakathiko, vicittapaṭibhāṇavā.
Having thus gone forth, before long I became very learned, a speaker on the Dhamma, endowed with varied and ready eloquence.
“Sau khi đã xuất gia như thế, không bao lâu tôi đã trở thành bậc đa văn, là vị thuyết giảng Giáo Pháp, có biện tài đa dạng.”
91.
91.
91.
‘‘Mahāparisamajjhehaṃ, haṭṭhacitto punappunaṃ;
Vaṇṇayiṃ hemavaṇṇassa, vaṇṇaṃ vaṇṇavisārado.
In the midst of the great assembly, with a joyful mind, again and again, skilled in praise, I extolled the praise of the one with a golden complexion.
“Ở giữa đại chúng, với tâm hoan hỷ, tôi đã lặp đi lặp lại việc tán dương các phẩm hạnh của vị có màu da vàng ròng, tôi là người thiện xảo trong việc tán dương.”
92.
92.
92.
‘‘Esa khīṇāsavo buddho, anīgho chinnasaṃsayo;
Sabbakammakkhayaṃ patto, vimuttopadhisaṅkhaye.
This Buddha is one whose taints are destroyed, untroubled, with his doubt cut off. He has reached the destruction of all kamma, liberated at the destruction of the substrates.
“Vị Phật này là bậc đã tận trừ các lậu hoặc, không còn phiền não, đã cắt đứt các hoài nghi, đã đạt đến sự đoạn tận của tất cả nghiệp, đã được giải thoát trong sự đoạn tận của các chấp thủ.”
93.
93.
93.
‘‘Esa so bhagavā buddho, esa sīho anuttaro;
Sadevakassa lokassa, brahmacakkappavattako.
This is that Blessed One, the Buddha, this is the unsurpassed lion. For the world with its gods, he is the one who sets the noble wheel in motion.
“Vị ấy là đức Thế Tôn, đức Phật; vị ấy là con sư tử vô thượng; đối với thế gian cùng với chư Thiên, vị ấy là đấng chuyển bánh xe Phạm hạnh.”
94.
94.
94.
‘‘Danto dametā santo ca, sametā nibbuto isi;
Nibbāpetā ca assattho, assāsetā mahājanaṃ.
The tamed one and the tamer, the peaceful one and the pacifier, the extinguished sage; the extinguisher and the one at ease, the comforter of the great populace.
“Vị ấy đã được điều phục và là đấng điều phục, đã được an tịnh và là đấng làm cho an tịnh, bậc ẩn sĩ đã được tịch tịnh và là đấng làm cho tịch tịnh, đã được an ổn và là đấng làm cho đại chúng được an ổn.”
95.
95.
95.
‘‘Vīro sūro ca vikkanto †, pañño kāruṇiko vasī;
Vijitāvī ca sa jino, appagabbo anālayo.
A hero, brave and valiant; wise, compassionate, and a master; he is victorious, a conqueror, humble and without attachments.
“Vị ấy là bậc anh hùng, dũng cảm, và oai dũng; là bậc trí tuệ, bi mẫn, tự tại. Vị chiến thắng ấy là người đã chiến thắng, không kiêu mạn, không ái luyến.”
96.
96.
96.
‘‘Aneñjo acalo dhīmā, amoho asamo muni;
Dhorayho usabho nāgo, sīho sakko garūsupi.
Imperturbable, unshakeable, and wise; undeluded, the unequalled sage; a beast of burden, a bull, a nāga, a lion; like Sakka among the venerable.
“Vị ấy không dao động, không lay chuyển, là bậc hiền trí, không si mê, không ai sánh bằng, là bậc ẩn sĩ. Vị ấy là người gánh vác, là con bò đực, là con voi, là con sư tử, là Sakka (Đế-thích) giữa các bậc đáng tôn kính.”
97.
97.
97.
‘‘Virāgo vimalo brahmā, vādī sūro raṇañjaho;
Akhilo ca visallo ca, asamo saṃyato † suci.
Dispassionate, stainless, and sublime; a hero among speakers, one who has abandoned battle; whole and one who has removed the dart; unequalled, restrained, and pure.
“Vị ấy không tham ái, không tỳ vết, là bậc Phạm thiên, là bậc anh hùng trong các người tranh luận, là người từ bỏ các tranh chấp. Vị ấy không còn hoang vu (tâm), đã nhổ mũi tên (phiền não), không ai sánh bằng, có sự thu thúc, trong sạch.”
98.
98.
98.
‘‘Brāhmaṇo samaṇo nātho, bhisakko sallakattako;
Yodho buddho sutāsuto †, acalo mudito sito †.
He who has put away evil, He who has quelled defilements, the Refuge; He is like a physician, an extractor of arrows; a great warrior, the Buddha, more famous than the famous; unshakeable, gentle, and cool.
“Vị ấy là bậc Bà-la-môn, là vị Sa-môn, là đấng Hộ Trì, là vị thầy thuốc, là người nhổ mũi tên (phiền não). Vị ấy là bậc chiến sĩ, là đấng Giác Ngộ, là người nổi danh hơn các người nổi danh, không lay chuyển, hoan hỷ, mát mẻ.”
99.
99.
99.
‘‘Dhātā dhatā ca santi ca, kattā netā pakāsitā;
Sampahaṃsitā bhettā ca, chettā sotā pasaṃsitā.
The Upholder, He who delights in, and the Tranquil One; the Doer, the Leader, He who reveals; He who gladdens well and the Destroyer; the Cutter, the Hearer, He who praises.
“Vị ấy là đấng Sáng Tạo, là đấng Nâng Đỡ, và là bậc An Tịnh; là người Hành Động, là đấng Lãnh Đạo, là người Tuyên Bố; là người làm cho hoan hỷ, là người Phá Vỡ, là người Cắt Đứt, là người Lắng Nghe, là người được tán dương.”
100.
100.
100.
‘‘Akhilo ca visallo ca, anīgho akathaṃkathī;
Anejo virajo kattā, gandhā vattā pasaṃsitā.
Without a stake and without a dart, without affliction and without doubt; without craving and without dust, a doer, possessing fragrance, a speaker, and a praiser.
“Vị ấy không còn hoang vu (tâm), đã nhổ mũi tên (phiền não), không còn phiền não, không còn nghi ngờ; không dao động, không bụi bẩn, là người Hành Động, là người có hương thơm (giới hạnh), là người thuyết giảng, là người được tán dương.”
101.
101.
101.
‘‘Tāretā atthakāretā, kāretā sampadāritā;
Pāpetā sahitā kantā, hantā ātāpī tāpaso †.
He who helps cross over, He who acts for what is beneficial; He who causes to do, the Destroyer of defilements; He who causes to attain, the Enduring One, the Beloved; the Slayer of defilements, the Ardent One, the Ascetic.
“Vị ấy là đấng Cứu Độ, là người làm điều lợi ích, là người khiến cho làm, là người phá tan; là người làm cho đạt đến, là người chịu đựng, là người đáng mến, là người tiêu diệt, là bậc nhiệt tâm, là bậc khổ hạnh.”
102.
102.
102.
‘‘Samacitto † samasamo, asahāyo dayālayo †;
With a balanced mind, perfectly even; without a companion, an abode of compassion;
“Vị ấy có tâm quân bình, ngang bằng với các bậc ngang bằng, không có bạn đồng hành, là nơi nương tựa của lòng bi mẫn.”
Accherasatto † akuho, katāvī isisattamo.
He who possesses the weapon that cuts off defilements, He who is without deceit; He who has done what should be done, the seventh of the sages.
Ngài có vũ khí đoạn trừ (phiền não), không lừa dối, đã làm xong việc cần làm, là vị ẩn sĩ thứ bảy.
103.
103.
103.
‘‘Nittiṇṇakaṅkho nimmāno, appameyyo anūpamo;
Sabbavākyapathātīto, sacca neyyantagū † jino.
He who has crossed over doubt, He who is without conceit, the Immeasurable, the Incomparable; He who has gone beyond all paths of speech; the Conqueror who has gone to the end of the truths and the knowable.
Đấng Chiến Thắng đã vượt qua hoài nghi, không còn ngã mạn, không thể đo lường, không gì sánh bằng; Ngài đã vượt ngoài mọi lối mòn của ngôn từ, đã đi đến tận cùng của chân lý và các pháp cần được dẫn dắt.
104.
104.
104.
‘‘Sattasāravare † tasmiṃ, pasādo amatāvaho;
Tasmā buddhe ca dhamme ca, saṅghe saddhā mahatthikā †.
Confidence in Him, the excellent essence of beings, brings the deathless. Therefore, faith in the Buddha, the Dhamma, and the Sangha is of great benefit.
Nơi đấng cao cả là tinh túy của chúng sanh ấy, sự tịnh tín mang lại quả vị bất tử. Do vậy, niềm tin nơi Phật, nơi Pháp, và nơi Tăng có lợi ích to lớn.
105.
105.
105.
‘‘Guṇehi evamādīhi, tilokasaraṇuttamaṃ;
Vaṇṇento parisāmajjhe, akaṃ † dhammakathaṃ ahaṃ.
Praising with such qualities as these the Supreme Refuge of the three worlds, I gave a discourse on the Dhamma in the midst of the assembly.
Với những đức hạnh như thế, tôi đã tán dương đấng tối thượng là nơi quy y của ba cõi, và đã thuyết một bài pháp thoại ở giữa hội chúng.
106.
106.
106.
‘‘Tato cutāhaṃ tusite, anubhotvā mahāsukhaṃ;
Tato cuto manussesu, jāto homi sugandhiko.
Having passed away from there, I experienced great happiness in the Tusita heaven. Having passed away from there, I was born among humans, being fragrant.
Sau khi mệnh chung từ kiếp ấy, tôi đã hưởng thụ đại lạc ở cõi trời Đâu Suất; sau khi mệnh chung từ đó, tôi được sanh làm người và có hương thơm.
107.
107.
107.
‘‘Nissāso mukhagandho ca, dehagandho tatheva me;
Sedagandho ca satataṃ, sabbagandhova hoti me †.
The fragrance of my mouth and out-breath, and likewise the fragrance of my body; and the fragrance of my sweat is always for me a universal fragrance.
Hơi thở và hương thơm từ miệng của tôi, cùng với hương thơm của thân thể cũng như vậy; và mùi mồ hôi của tôi luôn luôn, tất cả đều là hương thơm.
108.
108.
108.
‘‘Mukhagandho sadā mayhaṃ, padumuppalacampako;
Parisanto † sadā vāti, sarīro ca tatheva me.
The fragrance of my mouth is always like the lotus, blue lotus, and campaka flower; it always wafts to the edge of the assembly, and my body is likewise.
Hương thơm từ miệng của tôi luôn luôn như hoa sen, hoa súng, và hoa sứ; hương thơm ấy luôn lan tỏa đến tận cùng hội chúng, và thân thể của tôi cũng như vậy.
109.
109.
109.
‘‘Guṇatthavassa sabbantaṃ, phalaṃ tu † paramabbhutaṃ;
Ekaggamanasā sabbe, vaṇṇayissaṃ † suṇātha me.
I will describe the entire, most wonderful fruit of praising His qualities. All of you, with single-pointed mind, listen to me.
Toàn bộ quả báu của việc tán dương đức hạnh quả thật là vô cùng kỳ diệu; tất cả quý vị hãy nhất tâm lắng nghe lời tôi, tôi sẽ mô tả điều ấy.
110.
110.
110.
‘‘Guṇaṃ buddhassa vatvāna, hitāya ca na sadisaṃ †;
Sukhito † homi sabbattha, saṅgho vīrasamāyuto †.
Having spoken of the Buddha’s quality, for which there is no equal for welfare, I am happy in all existences and endowed with heroism.
Do đã nói lên đức hạnh của đức Phật, không gì sánh bằng về mặt lợi ích; tôi được an lạc ở khắp mọi nơi, và tôi trở nên người hội đủ lòng dũng cảm.
111.
111.
111.
‘‘Yasassī sukhito kanto, jutimā piyadassano;
Vattā aparibhūto ca, niddoso paññavā tathā.
I become famous, happy, and beloved; radiant and of pleasing appearance; an eloquent speaker who is not despised, faultless and likewise wise.
Tôi có danh tiếng, được an lạc, được yêu mến, có hào quang, và có ngoại hình khả ái; tôi là người có tài ăn nói, không bị khinh miệt, không có lỗi lầm, và cũng là người có trí tuệ.
112.
112.
112.
‘‘Khīṇe āyusi † nibbānaṃ, sulabhaṃ buddhabhattino;
Tesaṃ hetuṃ pavakkhāmi, taṃ suṇātha yathātathaṃ.
When the lifespan is exhausted, Nibbāna is easy to obtain for one devoted to the Buddha. I will explain the reason for this; listen to it just as it is.
Đối với người có lòng sùng kính đức Phật, khi tuổi thọ đã cạn, Niết Bàn là điều dễ dàng đạt được. Tôi sẽ nói lên nguyên nhân của những điều ấy, quý vị hãy lắng nghe như thật.
113.
113.
113.
‘‘Santaṃ yasaṃ bhagavato, vidhinā abhivādayaṃ;
Tattha tatthūpapannopi †, yasassī tena homahaṃ.
By properly praising the tranquil and famous Blessed One, wherever I am reborn, because of that, I become famous.
Tôi đã tán dương danh tiếng hiện có của đức Thế Tôn một cách đúng pháp; do đó, dù được sanh ra ở nơi này nơi kia, tôi cũng trở thành người có danh tiếng.
114.
114.
114.
‘‘Dukkhassantakaraṃ buddhaṃ, dhammaṃ santamasaṅkhataṃ;
Vaṇṇayaṃ sukhado āsiṃ, sattānaṃ sukhito tato.
Praising the Buddha, who makes an end to suffering, and the Dhamma, peaceful and unconditioned, I became happy myself and a giver of happiness to beings.
Do tán dương đức Phật, đấng chấm dứt khổ đau, và Chánh Pháp, là pháp tịch tịnh và vô vi, tôi đã trở thành người mang lại an lạc cho chúng sanh, và do đó tôi cũng được an lạc.
115.
115.
115.
‘‘Guṇaṃ vadanto buddhassa, buddhapītisamāyuto;
Sakantiṃ parakantiñca, janayiṃ tena kantimā.
Speaking of the Buddha’s quality, filled with joy in the Buddha, I generated my own delight and the delight of others; by that I became beloved.
Trong khi nói lên đức hạnh của đức Phật, tôi được tràn đầy hỷ lạc về Ngài; tôi đã tạo ra sự khả ái cho bản thân và cho người khác, do đó tôi đã trở thành người được yêu mến.
116.
116.
116.
‘‘Jino te titthikākiṇṇe †, abhibhuyya kutitthiye;
Guṇaṃ vadanto jotesiṃ †, nāyakaṃ jutimā tato.
When the Conqueror had overpowered the false teachers in that world crowded with sectarians, I, by speaking of his quality, made the Leader shine. Because of that, I became radiant.
Đấng Chiến Thắng đã chinh phục các kẻ theo tà kiến trong thế gian đầy dẫy ngoại đạo; do nói lên đức hạnh ấy, tôi đã làm cho đấng Lãnh Đạo được tỏa sáng, và do đó tôi đã trở nên người có hào quang.
117.
117.
117.
‘‘Piyakārī janassāpi, sambuddhassa guṇaṃ vadaṃ;
Saradova sasaṅkohaṃ, tenāsiṃ piyadassano.
Speaking of the quality of the Perfectly Enlightened One, who does what is dear to the people, I became like the autumn moon; because of that, I became pleasing to see.
Do nói lên đức hạnh của đấng Chánh Đẳng Giác, là bậc được dân chúng yêu mến, tôi đã trở nên khả ái, giống như vầng trăng mùa thu.
118.
118.
118.
‘‘Yathāsattivasenāhaṃ, sabbavācāhi santhaviṃ;
Sugataṃ tena vāgiso, vicittapaṭibhānavā.
According to my ability, I praised the Sugata with all kinds of speech. Because of that, I became a master of speech, endowed with varied and ready eloquence.
Tôi đã tán dương đấng Thiện Thệ bằng tất cả lời lẽ, tùy theo khả năng của mình; do đó, tôi đã trở thành bậc thầy ngôn ngữ, người có tài ứng đối đa dạng.
119.
119.
119.
‘‘Ye bālā vimatiṃ pattā, paribhonti mahāmuniṃ;
Niggahiṃ te saddhammena, paribhūto na tenahaṃ †.
Those fools who had fallen into doubt and despised the Great Sage, I rebuked with the good Dhamma. Because of that, I was not despised.
Những kẻ ngu si nào đã đi đến hoài nghi và phỉ báng đấng Đại Mâu Ni, tôi đã nhiếp phục họ bằng Chánh Pháp; do đó, tôi không bị ai phỉ báng.
120.
120.
120.
‘‘Buddhavaṇṇena sattānaṃ, kilese apanesahaṃ;
Nikkilesamano homi, tassa kammassa vāhasā.
By praising the Buddha, I removed the defilements of beings. By the power of that kamma, I am one with a mind free from defilements.
Nhờ việc tán dương đức Phật, tôi đã loại trừ các phiền não của chúng sanh; nhờ năng lực của nghiệp ấy, tôi trở thành người có tâm không còn phiền não.
121.
121.
121.
‘‘Sotūnaṃ vuddhimajaniṃ †, buddhānussatidesako;
Tenāhamāsiṃ † sappañño, nipuṇatthavipassako.
As a teacher of the recollection of the Buddha, I generated growth in the listeners. Because of that, I became wise, a seer of subtle meanings.
Là người thuyết giảng về niệm Phật, tôi đã làm cho các thính giả được tăng trưởng; do đó, tôi đã trở thành người có trí tuệ, người thấy được các ý nghĩa vi tế.
122.
122.
122.
‘‘Sabbāsavaparikkhīṇo, tiṇṇasaṃsārasāgaro;
Sikhīva anupādāno, pāpuṇissāmi nibbutiṃ.
With all my taints completely destroyed, having crossed the ocean of saṃsāra, like a fire without fuel, I will attain Nibbāna.
Với tất cả lậu hoặc đã được đoạn tận, đã vượt qua biển cả luân hồi, giống như ngọn lửa không còn nhiên liệu, tôi sẽ đạt đến sự tịch diệt.
123.
123.
123.
‘‘Imasmiṃyeva kappasmiṃ, yamahaṃ santhaviṃ jinaṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, buddhavaṇṇassidaṃ phalaṃ.
In this very eon, ever since I praised the Conqueror, I know of no bad destination; this is the fruit of praising the Buddha.
Kể từ khi tôi đã tán dương đấng Chiến Thắng ở trong chính kiếp này, tôi không còn biết đến khổ cảnh nữa; đây là quả báu của việc tán dương đức Phật.
124.
124.
124.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burnt up… I dwell free of taints.
Các phiền não của tôi đã được đốt cháy... (v.v.)... tôi an trú trong trạng thái vô lậu.
125.
125.
125.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
A good coming it was for me… the Buddha’s teaching has been done.
Sự đến của tôi quả thật là thiện lai... (v.v.)... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
126.
126.
126.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the Buddha’s teaching has been done.
Bốn Tuệ Phân Tích... (v.v.)... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā sugandho thero imā gāthāyo
So indeed the venerable elder Sugandha
Như vậy, quả thật Trưởng lão Sugandha khả kính đã nói lên những câu kệ này.
Abhāsitthāti.
He recited these verses.
Đã nói lên như thế.
Sugandhattherassāpadānaṃ dasamaṃ.
The Apadāna of the Elder Sugandha, the tenth.
Trưởng Lão kệ của ngài Sugandha, phẩm thứ mười.
The Chapter of the Grass-Giver, the fifty-third.
Phẩm Người Thí Cỏ, phẩm thứ năm mươi ba.
Tassuddānaṃ –
The summary:
Phần tóm lược của phẩm ấy:
Tiṇado mañcado ceva, saraṇabbhañjanappado;
Supaṭo daṇḍadāyī ca, nelapūjī tatheva ca.
The Grass-Giver and the Bed-Giver, the Giver of Refuge and Unguent; Supaṭa and the Staff-Giver, and likewise the Worshipper with Nela flowers.
Trưởng lão Tiṇada và trưởng lão Mañcada, trưởng lão Saraṇa, trưởng lão Abbhañjanappada, trưởng lão Supaṭa, và trưởng lão Daṇḍadāyī, và tương tự là trưởng lão Nelapūjī.
Bodhisammajjako maṇḍo, sugandho dasamoti ca;
Gāthāsataṃ satevīsaṃ, gaṇitañcettha sabbaso.
The Sweeper of the Bodhi-tree, Āmaṇḍaphala, and Sugandha as the tenth. One hundred and twenty-three verses are counted here in all.
Trưởng lão Bodhisammajjaka, trưởng lão Maṇḍa, và thứ mười là trưởng lão Sugandha. Ở đây, tổng cộng các câu kệ được đếm là một trăm hai mươi ba.