Bản dịch
THA -ap521 — Ký Sự về Trưởng Lão Sabbaphaladāyaka
Sabbaphaladāyakattheraapadāna
BJT 5505Lúc bấy giờ, tôi là vị Bà-la-môn tên Varuṇa thông suốt về chú thuật. Tôi đã lìa bỏ mười người con trai và đã đi sâu vào khu rừng.
BJT 5506Tôi đã tạo lập khu ẩn cư khéo được xây dựng, khéo được phân chia, làm thích ý. Sau khi làm nên gian nhà rộng bằng lá, tôi sống ở trong khu rừng.
BJT 5507Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, có ý định tiếp độ tôi, Ngài đã đi đến khu ẩn cư của tôi.
BJT 5508Ánh sáng đã trở thành bao la đến tận lùm cây rậm của khu rừng. Khi ấy, do nhờ năng lực của đức Phật khu rừng được phát sáng.
BJT 5509Sau khi nhìn thấy điều kỳ diệu ấy của đức Phật tối thượng như thế ấy, tôi đã cầm lấy túi đựng bình bát và đã chứa đầy với trái cây.
BJT 5510Tôi đã đi đến gặp bậc Toàn Giác và đã dâng cúng túi trái cây. Vì lòng thương tưởng đến tôi, đức Phật đã nói lời nói này:
BJT 5511“Ngươi hãy cầm lấy túi nặng (trái cây) và đi đến ở phía sau Ta. Và khi Hội Chúng đã thọ dụng, phước báu sẽ thành tựu cho ngươi.”
BJT 5512Tôi đã cầm lấy cái túi ấy và đã dâng cúng đến Hội Chúng tỳ khưu. Ở tại nơi ấy, sau khi làm cho tâm được tịnh tín tôi đã sanh lên cõi trời Đẩu Suất.
BJT 5513Được liên kết với nghiệp phước thiện, ở tại nơi ấy tôi luôn luôn thọ hưởng sự sung sướng với các điệu vũ, các lời ca, và các khúc tấu nhạc của cõi trời.
BJT 5514Nơi chốn nào tôi sanh lên, dầu là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, tôi không có sự thiếu hụt về của cải; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 5515Sau khi dâng cúng trái cây đến đức Phật, tôi đã được thiết lập làm vị chúa tể cho đến tận bốn châu lục, luôn cả các đại dương và các ngọn núi nữa.
BJT 5516Và đối với tôi, ngay cả các bầy chim bay lên ở không trung, chúng cũng đi đến chịu sự điều khiển của tôi; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 5517Và cho đến các loài chúng sanh như các dạ-xoa, các loài quỷ sứ, các vị Thiên nhân kumbhaṇḍa, và các loài nhân điểu ở lùm cây rậm của khu rừng cũng đi đến phục vụ cho tôi.
BJT 5518Loài rùa, loài chó, loài ong, và cả hai loài mòng muỗi, chúng cũng đi đến chịu sự điều khiển của tôi; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 5519Các loài chim gọi là thần điểu, thuộc loài có cánh, có sức mạnh lớn lao, chúng cũng đi đến nương nhờ ở tôi; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 5520Ngay cả các loài rồng có tuổi thọ dài lâu, có thần lực, có danh vọng lớn lao, chúng cũng đi đến chịu sự điều khiển của tôi; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 5521Loài sư tử, loài cọp, loài báo, cùng các loài gấu, chó sói, và linh cẩu, chúng cũng đi đến chịu sự điều khiển của tôi; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 5522Các vị sống bằng cỏ thần dược và các vị sống ở trên không trung, tất cả đi đến nương nhờ ở tôi; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 5523Sau khi chạm đến đối tượng (Niết Bàn) khó được nhìn thấy, vô cùng hoàn hảo, thâm sâu, khéo được chói sáng, tôi an trú; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 5524Sau khi chạm đến tám giải thoát tôi sống không còn lậu hoặc. Và tôi là người có sự nhiệt tâm, cẩn trọng; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 5525Những vị nào là con trai của đức Phật, đã trú vào Thánh Quả, có sân hận đã được cạn kiệt, có danh vọng lớn lao, tôi đã là một vị nữa trong số những vị ấy; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 5526Được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, sau khi đi đến sự toàn hảo về các thắng trí, sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5527Những vị nào là con trai của đức Phật, có được tam minh, đã đạt đến thần thông, có danh vọng lớn lao, đã chứng đạt Thiên nhĩ, tôi đã là một vị nữa trong số những vị ấy.
BJT 5528Kể từ khi tôi đã dâng cúng trái cây trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 5529Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5530Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5531Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Sabbaphaladāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Sabbaphaladāyaka là phần thứ chín.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
9. Sabbaphaladāyakattheraapadānaṃ
9. The Apadāna of the Elder Sabbaphaladāyaka
9. Thiên sự của trưởng lão Sabbaphaladāyaka
51.
51.
51.
‘‘Varuṇo nāma nāmena, brāhmaṇo mantapāragū;
Chaḍḍetvā dasaputtāni, vanamajjhogahiṃ tadā.
As a brahmin named Varuṇa, a master of the sacred chants, having abandoned my ten sons, I then entered the forest.
“Là vị Bà-la-môn tên là Varuṇa, bậc thông suốt các câu thần chú, sau khi từ bỏ mười người con, khi ấy tôi đã đi vào rừng.
52.
52.
52.
‘‘Assamaṃ sukataṃ katvā, suvibhattaṃ manoramaṃ;
Paṇṇasālaṃ karitvāna, vasāmi vipine ahaṃ.
Having built a well-made hermitage, well-proportioned and delightful, and having made a leaf-hut, I dwell in the wilderness.
“Sau khi đã làm xong cái am thất được xây cất tốt đẹp, được phân chia hợp lý, và khả ái, sau khi đã làm xong căn chòi lợp lá, tôi sống ở trong khu rừng.
53.
53.
53.
‘‘Padumuttaro lokavidū, āhutīnaṃ paṭiggaho;
Mamuddharitukāmo so, āgacchi mama assamaṃ.
Padumuttara, the Knower of the World, the Recipient of Offerings, desiring to uplift me, came to my hermitage.
“Vị ấy là đấng Padumuttara, bậc Toàn Giả, bậc đáng thọ nhận các vật cúng dường, do có ý muốn cứu vớt tôi nên đã đi đến am thất của tôi.
54.
54.
54.
‘‘Yāvatā vanasaṇḍamhi, obhāso vipulo ahu;
Buddhassa ānubhāvena, pajjalī vipinaṃ tadā.
A vast radiance arose throughout the forest grove; by the Buddha's power, the forest then blazed.
“Ánh sáng bao la đã hiện ra trong khắp lùm cây trong rừng. Do nhờ oai lực của đấng Phật, khi ấy khu rừng đã rực sáng.
55.
55.
55.
‘‘Disvāna taṃ pāṭihīraṃ, buddhaseṭṭhassa tādino;
Pattapuṭaṃ gahetvāna, phalena pūjayiṃ ahaṃ.
Having seen that miracle of the excellent Buddha, the steadfast one, I took a leaf-container of fruit and honored him with it.
Sau khi nhìn thấy thần thông ấy của bậc Phật-đà cao thượng, bậc Tādin, tôi đã lấy gói lá và đã dùng trái cây để cúng dường.
56.
56.
56.
‘‘Upagantvāna sambuddhaṃ, sahakhārimadāsahaṃ;
Anukampāya me buddho, idaṃ vacanamabravi.
Having approached the Perfectly Enlightened One, I gave my gift, together with my ascetic's carrying-pole. Out of compassion for me, the Buddha spoke this word:
Sau khi đi đến gần bậc Chánh-Đẳng-Giác, tôi đã dâng cúng vật dụng của vị ẩn sĩ. Do lòng bi mẫn đối với tôi, đức Phật đã nói lên lời này.
57.
57.
57.
‘Khāribhāraṃ gahetvāna, pacchato ehi me tuvaṃ;
Paribhutte ca saṅghamhi, puññaṃ tava bhavissati’.
‘Take this burden of requisites and follow behind me. When the Saṅgha has partaken of it, merit will accrue to you.’
‘Ngươi hãy mang lấy gánh vật dụng của vị ẩn sĩ rồi đi theo sau ta. Và khi Tăng chúng đã dùng xong, phước báu sẽ là của ngươi.’
58.
58.
58.
‘‘Puṭakantaṃ gahetvāna, bhikkhusaṅghassadāsahaṃ;
Tattha cittaṃ pasādetvā, tusitaṃ upapajjahaṃ.
Taking that bundle, I gave it to the Saṅgha of bhikkhus. Having inspired faith in my mind therein, I was reborn in the Tusita realm.
Tôi đã lấy gói (trái cây) ấy và đã dâng cúng đến chư Tăng Tỳ-khưu. Do đã làm cho tâm ý trong sạch ở nơi ấy, tôi đã được sanh lên cõi trời Tusita.
59.
59.
59.
‘‘Tattha dibbehi naccehi, gītehi vāditehi ca;
Puññakammena saṃyuttaṃ, anubhomi sadā sukhaṃ.
There, with divine dances, songs, and music, I always experience happiness connected with my meritorious deed.
Ở nơi ấy, với các điệu vũ, các bài hát, và các loại nhạc cụ của chư Thiên, tôi luôn luôn hưởng thụ sự an lạc tương ứng với nghiệp phước thiện.
60.
60.
60.
‘‘Yaṃ yaṃ yonupapajjāmi, devattaṃ atha mānusaṃ;
Bhoge me ūnatā natthi, phaladānassidaṃ phalaṃ.
In whatever existence I am reborn, whether divine or human, there is no deficiency in my enjoyments: this is the fruit of the gift of fruit.
Bất cứ cảnh giới nào tôi sanh vào, hoặc là chư Thiên hoặc là loài người, tài sản của tôi không hề bị thiếu hụt. Đây là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
61.
61.
61.
‘‘Yāvatā caturo dīpā, sasamuddā sapabbatā;
Phalaṃ buddhassa datvāna, issaraṃ kārayāmahaṃ.
Having given fruit to the Buddha, I get to exercise sovereignty over the four continents, with their oceans and mountains.
Trong phạm vi bốn châu thiên hạ, cùng với các biển cả và các ngọn núi, do đã dâng cúng trái cây đến đức Phật, tôi đã thực thi quyền tối thượng.
62.
62.
62.
‘‘Yāvatā me pakkhigaṇā, ākāse uppatanti ce;
Tepi maṃ vasamanventi, phaladānassidaṃ phalaṃ.
Whatever flocks of birds fly in the sky, they too come under my control: this is the fruit of the gift of fruit.
Bất cứ đàn chim nào bay lượn trên bầu trời, chúng cũng đều tuân theo quyền lực của tôi. Đây là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
63.
63.
63.
‘‘Yāvatā vanasaṇḍamhi, yakkhā bhūtā ca rakkhasā;
Kumbhaṇḍā garuḷā cāpi, pāricariyaṃ upenti me.
Whatever yakkhas, spirits, and rāksasas are in the forest grove, and also kumbhaṇḍas and garuḷas, they come to attend upon me.
Bất cứ các dạ-xoa, các bhūta, các la-sát, các cưu-bàn-trà, và cả các kim-xí-điểu nào có ở trong lùm cây, (tất cả) chúng đều đến hầu hạ tôi.
64.
64.
64.
‘‘Kumbhā soṇā madhukārā, ḍaṃsā ca makasā ubho;
Tepi maṃ vasamanventi, phaladānassidaṃ phalaṃ.
Tortoises, dogs, bees, and both gadflies and mosquitoes, they too come under my control: this is the fruit of the gift of fruit.
Các loài rùa, loài chó, loài ong, cả hai loài ruồi trâu và muỗi, chúng cũng đều tuân theo quyền lực của tôi. Đây là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
65.
65.
65.
‘‘Supaṇṇā nāma sakuṇā, pakkhijātā mahabbalā;
Tepi maṃ saraṇaṃ yanti, phaladānassidaṃ phalaṃ.
Birds named Supaṇṇa, winged creatures of great strength, they too come to me for refuge: this is the fruit of the gift of fruit.
Loài chim tên là Supaṇṇa, thuộc loài có cánh, có sức mạnh to lớn, chúng cũng đều đến quy y nơi tôi. Đây là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
66.
66.
66.
‘‘Yepi dīghāyukā nāgā, iddhimanto mahāyasā;
Tepi maṃ vasamanventi, phaladānassidaṃ phalaṃ.
Those long-lived nāgas, possessing psychic power and having a great retinue, they too come under my control: this is the fruit of the gift of fruit.
Và bất cứ loài rồng (nāga) nào có tuổi thọ dài lâu, có thần thông, có danh tiếng lớn, chúng cũng đều tuân theo quyền lực của tôi. Đây là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
67.
67.
67.
‘‘Sīhā byagghā ca dīpī ca, acchakokataracchakā;
Tepi maṃ vasamanventi, phaladānassidaṃ phalaṃ.
Lions, tigers, and leopards, bears, wolves, and hyenas, they too come under my control: this is the fruit of the gift of fruit.
Các loài sư tử, cọp, và báo, các loài gấu, chó sói, và linh cẩu, chúng cũng đều tuân theo quyền lực của tôi. Đây là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
68.
68.
68.
‘‘Osadhītiṇavāsī ca, ye ca ākāsavāsino;
Sabbe maṃ saraṇaṃ yanti, phaladānassidaṃ phalaṃ.
Those dwelling in medicinal herbs and grass, and those who dwell in the sky, all go to me for refuge: this is the fruit of the gift of fruit.
Các vị trú ngụ ở dược thảo và cỏ, và các vị nào trú ngụ ở hư không, tất cả đều đến quy y nơi tôi. Đây là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
69.
69.
69.
‘‘Sududdasaṃ sunipuṇaṃ, gambhīraṃ suppakāsitaṃ;
Phassayitvā † viharāmi, phaladānassidaṃ phalaṃ.
The very difficult to see, the very subtle, the profound, the well-proclaimed: having realized it, I dwell. This is the fruit of the gift of fruit.
Tôi đang an trú sau khi đã chứng ngộ (Pháp) rất khó thấy, rất vi tế, sâu xa, và được khéo giảng dạy. Đây là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
70.
70.
70.
‘‘Vimokkhe aṭṭha phusitvā, viharāmi anāsavo;
Ātāpī nipako cāhaṃ, phaladānassidaṃ phalaṃ.
Having attained the eight liberations, I dwell taintless. I am ardent and prudent: this is the fruit of the gift of fruit.
Tôi, người nhiệt tâm và thận trọng, đang an trú không còn lậu hoặc sau khi đã chứng ngộ tám giải thoát. Đây là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
71.
71.
71.
‘‘Ye phalaṭṭhā buddhaputtā, khīṇadosā mahāyasā;
Ahamaññataro tesaṃ, phaladānassidaṃ phalaṃ.
I am one of those sons of the Buddha who are established in the fruit, whose faults are destroyed and who are of great renown: this is the fruit of the gift of fruit.
Các vị Phật-tử nào đã an trú trong Thánh quả, đã đoạn tận các điều sai trái, có danh tiếng lớn, tôi là một người trong số các vị ấy. Đây là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
72.
72.
72.
‘‘Abhiññāpāramiṃ gantvā, sukkamūlena codito;
Sabbāsave pariññāya, viharāmi anāsavo.
Having reached the perfection of direct knowledge, urged on by a wholesome root, and having fully understood all the cankers, I dwell without cankers.
Do được thúc đẩy bởi căn lành, sau khi đã đi đến sự toàn hảo của các thắng trí, tôi đang an trú không còn lậu hoặc sau khi đã liễu tri tất cả các lậu hoặc.
73.
73.
73.
‘‘Tevijjā iddhipattā ca, buddhaputtā mahāyasā;
Dibbasotasamāpannā, tesaṃ aññataro ahaṃ.
I am one of those sons of the Buddha of great renown who possess the three knowledges, have attained psychic power, and are endowed with the divine ear.
Các vị Phật-tử là bậc Tam-minh, đã đạt được thần thông, có danh tiếng lớn, đã thành tựu thiên nhĩ, tôi là một người trong số các vị ấy.
74.
74.
74.
‘‘Satasahassito kappe, yaṃ phalaṃ adadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, phaladānassidaṃ phalaṃ.
One hundred thousand eons ago, when I gave that fruit, I have not known a bad destination; this is the fruit of the gift of fruit.
Cách đây một trăm ngàn kiếp, vào lúc ấy tôi đã dâng cúng trái cây; kể từ đó, tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
75.
75.
75.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burnt up… I dwell without cankers.
Các phiền não của tôi đã được đốt cháy... (vân vân)... tôi đang an trú không còn lậu hoặc.
76.
76.
76.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Truly, my coming was a good coming… the Buddha’s teaching has been done.
Quả thật, sự đến của tôi là khéo đến... (vân vân)... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
77.
77.
77.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the Buddha’s teaching has been done.
Bốn Tuệ Phân Tích... (vân vân)... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā sabbaphaladāyako thero imā gāthāyo
Thus indeed the Venerable Elder Sabbaphaladāyaka recited these verses.
Như thế, Tôn giả Sabbaphaladāyaka đã nói lên các kệ ngôn này.
Abhāsitthāti.
...recited these verses.
Ngài đã nói như vậy.
Sabbaphaladāyakattherassāpadānaṃ navamaṃ.
The ninth Apadāna of the Elder Sabbaphaladāyaka is finished.
Thánh tích về Trưởng lão Sabbaphaladāyaka là thứ chín.