Bản dịch
THA -ap52 — Ký Sự về Trưởng Lão Cunda
Cundattheraapadāna
BJT 1239Sau khi cho thực hiện cây cột trụ dành cho đức Thế Tôn Siddhattha, bậc Trưởng Thượng của thế gian như thế ấy, tôi đã phủ lên bằng các bông hoa nhài
BJT 1240Sau khi làm hoàn tất, tôi đã đem bông hoa ấy lại gần đức Phật. Tôi đã cầm lấy phần còn lại của bông hoa và đã dâng lên đức Phật.
BJT 1241Đức Phật, đấng Lãnh Đạo cao cả của thế gian trông tợ như cây cột trụ bằng vàng. Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã dâng tặng cây cột trụ bông hoa đến Ngài.
BJT 1242Đấng Toàn Giác, bậc có sự nghi hoặc đã được loại trừ, được tháp tùng bởi những vị đã vượt qua các bộc lưu, sau khi ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu đã nói lên những lời kệ này:
BJT 1243“Người nào đã dâng cúng cột trụ bông hoa đang tỏa ra mùi hương của cõi trời đến Ta, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói.
BJT 1244Mệnh chung ở đây, người nam này sẽ đi đến thế giới chư Thiên, (và sẽ) được hội chúng chư Thiên tôn trọng, được các bông hoa nhài phủ quanh.
BJT 1245Được phát khởi từ nghiệp phước thiện, có chỗ trú ngụ cao vút làm bằng vàng và ngọc ma-ni, có cung điện sẽ được hiện ra cho vị ấy.
BJT 1246Người ấy sẽ cai quản Thiên quốc bảy mươi bốn kiếp và sẽ thọ hưởng sự thành đạt, được các tiên nữ trọng vọng.
BJT 1247(Người ấy) sẽ ngự trị quốc độ thuộc đất liền ở trái đất ba trăm lần, và sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương bảy mươi lăm lần.
BJT 1248(Người ấy) sẽ trở thành vị thống lãnh nhân loại tên là Dujjaya. Được nương tựa vào nghiệp của chính mình, (người ấy) sẽ thọ hưởng phước báu ấy.
BJT 1249(Người ấy) sẽ không đi đến đọa xứ và sẽ đi đến bản thể nhân loại. Và số vàng không ít hơn một trăm koṭi (một tỷ) sẽ được tích lũy (cho người ấy).
BJT 1250Người ấy sẽ sanh vào dòng dõi Bà-la-môn và sẽ là người con trai ruột thông minh yêu dấu của (Bà-la-môn) Vaṅganta và bà Sārī.
BJT 1251Và về sau, người ấy sẽ xuất gia trong Giáo Pháp của đức Aṅgīrasa (Phật Gotama) và sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư có tên là Cūlacunda.
BJT 1252Người ấy sẽ trở thành bậc có lậu hoặc được đoạn tận ngay khi còn là vị sa-di. Sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, người ấy sẽ Niết Bàn không còn lậu hoặc.”
BJT 1253Tôi đã phục vụ đấng Đại Hùng và nhiều vị hiền đức khác, và tôi đã hầu cận người anh trai của tôi nhằm đạt đến mục đích tối thượng.
BJT 1254Tôi đã phục vụ người anh trai của tôi, tôi đã đặt xá-lợi (của anh tôi) ở trong bình bát và đã trình lên đấng Toàn Giác, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu.
BJT 1255Đức Phật ở thế gian luôn cả chư Thiên đã cầm lấy bằng hai tay, và trong khi phô bày xá-lợi ấy Ngài đã tán dương vị Thinh Văn hàng đầu.
BJT 1256Tâm của tôi đã khéo được giải thoát, đức tin của tôi đã được thiết lập. Sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 1257Bốn (tuệ) phân tích, ―(như trên)― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Cunda đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Cunda là phần thứ mười.
Phần Tóm Lược:
Vị Upāli, vị Soṇa, vị Bhaddiya, vị Sanniṭṭhāpaka, vị Hatthiya, mái che, giường nằm, đường kinh hành, vị Subhadda, vị tên Cunda; (tổng cộng) có một trăm bốn mươi câu kệ và bốn câu thêm vào đó.
Phẩm Upāli là phẩm thứ năm.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
10. Cundattheraapadānaṃ
10. The Apadāna of the Elder Cunda
10. Thiên truyện về Trưởng lão Cunda
125.
125.
125.
‘‘Siddhatthassa bhagavato, lokajeṭṭhassa tādino;
Agghiyaṃ kārayitvāna, jātipupphehi chādayiṃ.
For the Blessed One Siddhattha, the foremost in the world, the Such-like One, having had a floral shrine made, I covered it with jasmine flowers.
Sau khi đã cho làm tháp hoa dâng đến đức Thế Tôn Siddhattha, bậc Trưởng Thượng trong thế gian, bậc Tādī, tôi đã che phủ bằng những bông hoa lài.
126.
126.
126.
‘‘Niṭṭhāpetvāna taṃ pupphaṃ, buddhassa upanāmayiṃ;
Pupphāvasesaṃ paggayha, buddhassa abhiropayiṃ.
Having completed that floral shrine, I presented it to the Buddha. Taking the remaining flowers, I offered them up to the Buddha.
Sau khi đã làm cho xong tháp hoa ấy, tôi đã dâng lên đến đức Phật. Sau khi đã cầm lấy phần hoa còn lại, tôi đã dâng lên đến đức Phật.
127.
127.
127.
‘‘Kañcanagghiyasaṅkāsaṃ, buddhaṃ lokagganāyakaṃ;
Pasannacitto sumano, pupphagghiyamupānayiṃ.
To the Buddha, who resembles a golden shrine, the supreme leader of the world, I, with a serene and joyful mind, offered the floral shrine.
Với tâm trong sạch, với ý hoan hỷ, tôi đã dâng cúng tháp hoa đến đức Phật, vị giống như cột trụ bằng vàng, bậc Lãnh Đạo cao cả của thế gian.
128.
128.
128.
‘‘Vitiṇṇakaṅkho sambuddho, tiṇṇoghehi purakkhato;
Bhikkhusaṅghe nisīditvā, imā gāthā abhāsatha.
The Fully Enlightened One, who had overcome doubt, attended by those who have crossed the floods, sat down amidst the Sangha of bhikkhus and spoke these verses:
Đức Chánh Đẳng Giác, vị đã vượt qua sự hoài nghi, được vây quanh bởi các vị đã vượt qua bộc lưu, sau khi đã ngồi trong chúng Tỳ-khưu, đã nói lên những câu kệ này.
129.
129.
129.
‘‘‘Dibbagandhaṃ pavāyantaṃ, yo me pupphagghiyaṃ adā;
Tamahaṃ kittayissāmi, suṇātha mama bhāsato.
‘Whoever gave me this floral shrine, which emits a divine fragrance, I shall proclaim him; listen to my words as I speak.
‘Người nào đã dâng cúng đến ta tháp hoa tỏa ra hương thơm chư Thiên, ta sẽ tán dương người ấy. Các ngươi hãy lắng nghe lời ta nói.
130.
130.
130.
‘‘‘Ito cuto ayaṃ poso, devasaṅghapurakkhato;
Jātipupphehi parikiṇṇo, devalokaṃ gamissati.
‘Having passed away from here, this man, attended by an assembly of devas and strewn with jasmine flowers, will go to the deva world.
‘Người này, sau khi mệnh chung từ đây, được chúng chư Thiên vây quanh, được bao phủ bởi những bông hoa lài, sẽ đi đến thế giới chư Thiên.
131.
131.
131.
‘‘‘Ubbiddhaṃ bhavanaṃ tassa, sovaṇṇañca maṇīmayaṃ;
Byamhaṃ pātubhavissati, puññakammappabhāvitaṃ.
‘His lofty celestial mansion, made of gold and of jewels, will appear, produced by the power of his meritorious kamma.
‘Lâu đài nguy nga của người ấy, cao lớn, bằng vàng và bằng ngọc ma-ni, được tạo ra bởi năng lực của phước nghiệp, sẽ hiện ra.
132.
132.
132.
‘‘‘Catusattatikkhattuṃ so, devarajjaṃ karissati;
Anubhossati sampattiṃ, accharāhi purakkhato.
‘Seventy-four times he will exercise sovereignty over the devas. He will experience prosperity, attended by celestial nymphs.
‘Người ấy sẽ thực hiện vương quyền của chư Thiên bảy mươi bốn lần. Được các tiên nữ vây quanh, người ấy sẽ hưởng thụ sự tài sản.
133.
133.
133.
‘‘‘Pathabyā rajjaṃ tisataṃ, vasudhaṃ āvasissati;
Pañcasattatikkhattuñca, cakkavattī bhavissati.
‘Three hundred times he will rule a kingdom on earth, governing the land; and seventy-five times he will be a wheel-turning monarch.
‘Người ấy sẽ cai trị mặt đất, làm vua trên trái đất ba trăm lần, và sẽ là vua Chuyển Luân bảy mươi lăm lần.
134.
134.
134.
‘‘‘Dujjayo nāma nāmena, hessati manujādhipo;
Anubhotvāna taṃ puññaṃ, sakakammaṃ apassito †.
‘By the name of Dujjaya, he will be a lord of men; relying on his own kamma, having experienced the fruit of that merit.
‘Với tên gọi là Dujjaya, người ấy sẽ là vua của loài người. Sau khi đã hưởng thụ phước báu ấy, nương nhờ vào nghiệp của mình.
135.
135.
135.
‘‘‘Vinipātaṃ agantvāna, manussattaṃ gamissati;
Hiraññaṃ tassa † nicitaṃ, koṭisatamanappakaṃ.
‘Not having gone to a state of woe, he will attain a human state. His accumulated gold will be a hundred koṭis, not an insignificant amount.
‘Không đi đến đọa xứ, người ấy sẽ đi đến thân phận làm người. Vàng bạc được tích trữ của người ấy sẽ là vô số trăm ngàn ức.
136.
136.
136.
‘‘‘Nibbattissati yonimhi, brāhmaṇe so bhavissati;
Vaṅgantassa suto dhīmā, sāriyā oraso piyo.
‘He will be reborn in a brahmin family; he will be the wise, dear, and true-born son of Vaṅganta and Sāri.
‘Người ấy sẽ tái sanh trong dòng dõi Bà-la-môn. Người ấy sẽ là người con ruột yêu quý, có trí tuệ, của (Bà-la-môn) Vaṅganta và (bà) Sārī.
137.
137.
137.
‘‘‘So ca pacchā pabbajitvā, aṅgīrasassa sāsane;
Cūḷacundoti † nāmena, hessati satthu sāvako.
‘And he, having later gone forth in the Dispensation of Aṅgīrasa, will be a disciple of the Teacher by the name of Cūḷacunda.’
‘Và về sau, sau khi đã xuất gia trong giáo Pháp của bậc Aṅgīrasa, người ấy sẽ là vị Thinh văn của bậc Đạo Sư với tên gọi là Cūḷacunda.
138.
138.
138.
‘‘‘Sāmaṇerova so santo, khīṇāsavo bhavissati;
Sabbāsave pariññāya, nibbāyissatināsavo’.
‘Being but a novice, he will be one whose taints are destroyed. Having fully understood all the taints, he will, being taintless, attain Nibbāna.’
‘Vị ấy, trong khi còn là Sa-di, sẽ là vị đã tận trừ các lậu hoặc. Sau khi đã liễu tri tất cả các lậu hoặc, vị ấy sẽ tịch diệt, không còn lậu hoặc.’
139.
139.
139.
‘‘Upaṭṭhahiṃ mahāvīraṃ, aññe ca pesale bahū;
Bhātaraṃ me cupaṭṭhāsiṃ, uttamatthassa pattiyā.
I attended upon the Great Hero, and many other virtuous ones; I also attended upon my brother, for the attainment of the highest goal.
Để thành tựu mục đích tối thượng, tôi đã hầu hạ bậc Đại Hùng, và nhiều vị khác khả ái, và tôi đã hầu hạ người anh của tôi.
140.
140.
140.
‘‘Bhātaraṃ me upaṭṭhitvā, dhātuṃ pattamhi ohiya †;
Sambuddhaṃ upanāmesiṃ, lokajeṭṭhaṃ narāsabhaṃ.
Having attended upon my brother, and having placed the relic in his bowl, I brought it to the Fully Enlightened One, the chief of the world, the bull among men.
Sau khi đã hầu hạ người anh của tôi, sau khi đã đặt xá-lợi vào trong bình bát, tôi đã dâng đến đức Chánh Đẳng Giác, bậc Trưởng Thượng trong thế gian, bậc Ngưu Vương trong loài người.
141.
141.
141.
‘‘Ubho hatthehi paggayha, buddho loke sadevake;
Sandassayanto taṃ dhātuṃ, kittayi aggasāvakaṃ.
The Buddha, in the world with its devas, having raised it with both hands and displaying that relic, praised the chief disciple.
Trong thế gian cùng với chư Thiên, đức Phật sau khi đã nâng lên bằng cả hai tay, trong khi đang chỉ cho thấy xá-lợi ấy, đã tán dương vị Thượng thủ Thinh văn.
142.
142.
142.
‘‘Cittañca suvimuttaṃ me, saddhā mayhaṃ patiṭṭhitā;
Sabbāsave pariññāya, viharāmi anāsavo.
My mind is well liberated, and my faith is established; having fully understood all the taints, I dwell taintless.
Tâm của tôi đã được khéo giải thoát, đức tin của tôi đã được an lập. Sau khi đã liễu tri tất cả các lậu hoặc, tôi trú ngụ không còn lậu hoặc.
143.
143.
143.
‘‘Paṭisambhidānuppattā, vimokkhāpi ca phassitā †;
Chaḷabhiññā sacchikatā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The discriminations have been attained, and the liberations have been experienced; the six supernormal knowledges have been realized, the Buddha’s Dispensation has been fulfilled.
Các Tuệ phân tích đã được chứng đắc, các pháp Giải thoát cũng đã được chạm đến, sáu Thắng trí đã được chứng ngộ. Lời giáo huấn của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā cundo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Cunda spoke these verses.
Như vậy, Đại đức Trưởng lão Cunda đã nói lên những câu kệ này.
Cundattherassāpadānaṃ dasamaṃ.
The Apadāna of the Elder Cunda, the tenth.
Thiên truyện về Trưởng lão Cunda là thứ mười.
The Upāli Chapter, the Fifth.
Phẩm Upāli là phẩm thứ năm.
Tassuddānaṃ –
The summary of it:
Phần tóm lược của phẩm ấy là:
Upāli soṇo bhaddiyo, sanniṭṭhāpakahatthiyo;
Chadanaṃ seyyacaṅkamaṃ, subhaddo cundasavhayo;
Gāthāsataṃ satālīsaṃ †, catasso ca taduttari.
Upāli, Soṇa, Bhaddiya, Sanniṭṭhāpaka, Hatthiya, Chadana, Seyya, Caṅkama, Subhadda, and Cunda by name; one hundred and forty verses, and four more than that.
Upāli, Soṇa, Bhaddiya, Sanniṭṭhāpaka, Hatthiya, Chadana, Seyya, Caṅkama, Subhadda, và vị có tên là Cunda. Có một trăm bốn mươi câu kệ, và thêm bốn câu nữa.