Bản dịch
THA -ap51 — Ký Sự về Trưởng Lão Subhadda
Subhaddattheraapadāna
BJT 1215Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara vị thọ nhận các vật hiến cúng có danh vọng lớn lao đã tiếp độ đám đông dân chúng rồi Niết Bàn.
BJT 1216Và trong khi bậc Toàn Giác đang Niết Bàn, mười ngàn (thế giới) đã rúng động. Khi ấy, đã có tập thể dân chúng đông đảo, và chư Thiên đã tụ hội lại.
BJT 1217Sau khi cúng dường trầm hương cùng với các loại bột thơm và hoa nhài, tôi đã trở nên mừng rỡ. Với tâm mừng rỡ, tôi đã thoa lên đấng Tối Thượng Nhân.
BJT 1218Biết được ý định của tôi, bậc Đạo Sư, đấng Vô Thượng ở thế gian, bậc Toàn Giác ngay khi đang nằm đã nói lên những lời kệ này:
BJT 1219“Người nào đã phủ lên (cơ thể Ta) bằng vật thơm và tràng hoa vào thời điểm cuối cùng của Ta, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói.
BJT 1220Mệnh chung ở đây, người nam này sẽ đi đến cõi trời Đẩu Suất. Sau khi cai quản vương quốc ở tại nơi ấy, người ấy sẽ đi đến cõi Hóa Lạc Thiên.
BJT 1221Sau khi cúng dường tràng hoa cao quý tối thượng theo phương thức này đây, được hài lòng với nghiệp của chính mình, người ấy sẽ thọ hưởng sự thành đạt.
BJT 1222Người nam này cũng sẽ tái sanh ở cõi trời Đẩu Suất lần nữa. Sau khi mệnh chung từ cõi trời ấy (người này) sẽ đi đến bản thể nhân loại.
BJT 1223Người con trai dòng Sakya, đấng Long Tượng cao cả ở thế gian luôn cả chư Thiên, bậc Hữu Nhãn sẽ giúp cho nhiều chúng sanh giác ngộ rồi sẽ Niết Bàn.
BJT 1224Trong khi đã thành đạt sự xuất gia (làm đạo sĩ), được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch (người này) sẽ đi đến gặp bậc Toàn Giác, và khi ấy sẽ hỏi câu hỏi.
BJT 1225Bậc Toàn Giác, đấng Toàn Tri, bậc Lãnh Đạo Thế Gian sẽ làm cho (người này) vui vẻ. Sau khi biết toàn diện về hành động phước thiện, Ngài sẽ phô bày các Chân Lý (cao thượng).
BJT 1226Và được hài lòng về câu hỏi, người này sẽ hớn hở, có tâm chăm chú. Sau khi đảnh lễ bậc Đạo Sư, (người này) sẽ cầu xin sự xuất gia.
BJT 1227Đức Phật ấy, bậc rành rẽ về Giáo Pháp cao cả, sau khi nhìn thấy (người này) có tâm tịnh tín, hoan hỷ với nghiệp của mình, sẽ cho (người này) xuất gia.
BJT 1228Sau khi nỗ lực trong Giáo Pháp của đấng Chánh Đẳng Giác, sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, người nam này sẽ Niết Bàn không còn lậu hoặc.”
(Tụng phẩm thứ năm).
BJT 1229Được gắn liền với nghiệp quá khứ, có sự chăm chú, khéo được định tĩnh, tôi là người con trai chánh thống của đức Phật, đã được sanh ra từ Giáo Pháp, đã được tạo ra tốt đẹp.
BJT 1230Sau khi đi đến gặp đấng Pháp Vương, tôi đã hỏi câu hỏi tối thượng. Và trong khi giảng giải về câu hỏi của tôi, Ngài đã đưa tôi vào dòng chảy Giáo Pháp.
BJT 1231Sau khi hiểu được Giáo Pháp của Ngài, tôi đã sống, được thỏa thích trong Giáo Pháp. Sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 1232Trước đây một trăm ngàn kiếp, đấng Lãnh Đạo Padumuttara đã Niết Bàn không còn chấp thủ, tợ như cây đèn đã tắt vì sự cạn kiệt về dầu thắp.
BJT 1233Đã có ngôi bảo tháp làm bằng châu báu cao bảy do-tuần. Tại nơi ấy, tôi đã cúng dường ngọn cờ tốt đẹp về mọi mặt, làm thích ý.
BJT 1234Và vị Thinh Văn hàng đầu tên Tissa của đức Phật Kassapa, người thừa tự Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, đã là con trai ruột của tôi.
BJT 1235Do tâm ý kém cỏi, tôi đã nói lời nói không tốt đẹp với vị ấy. Do quả thành tựu của nghiệp ấy, tôi đã nhìn thấy đấng Chiến Thắng vào thời điểm cuối cùng.
BJT 1236Tại rừng cây sālā Upavattana, ở chỗ nằm cuối cùng, đấng Hiền Trí, bậc Đại Hùng, đấng Chiến Thắng, bậc có sự lợi ích và lòng bi mẫn, đã cho (tôi) xuất gia.
BJT 1237Giờ đây, đúng ngày hôm nay là sự xuất gia, đúng ngày hôm nay là sự tu lên bậc trên, đúng ngày hôm nay là sự Viên Tịch Niết Bàn trong sự hiện diện của bậc Tối Thượng Nhân.
BJT 1238Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Subhadda đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.]
Ký sự về trưởng lão Subhadda là phần thứ chín.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
9. Subhaddattheraapadānaṃ
9. The Apadāna of the Elder Subhadda
9. Thiên truyện về Trưởng lão Subhadda
101.
101.
101.
‘‘Padumuttaro lokavidū, āhutīnaṃ paṭiggaho;
Janataṃ uddharitvāna, nibbāyati mahāyaso.
Padumuttara, the knower of the worlds, worthy of offerings, of great renown, having uplifted the people, attained Parinibbāna.
Đức Phật Padumuttara, bậc Thông Suốt Thế Gian, bậc xứng đáng thọ nhận các vật cúng dường, bậc có danh tiếng lớn lao, sau khi đã cứu vớt chúng sanh, Ngài đã tịch diệt.
102.
102.
102.
‘‘Nibbāyante ca sambuddhe, dasasahassi kampatha;
Janakāyo mahā āsi, devā sannipatuṃ tadā.
When the Fully Enlightened One was attaining Parinibbāna, the ten-thousandfold world system quaked. The assembly of people was great, and the gods gathered then.
Và trong khi đức Chánh Đẳng Giác đang tịch diệt, mười ngàn thế giới đã rúng động. Đám đông dân chúng đã trở nên đông đảo, khi ấy chư Thiên đã tụ hội.
103.
103.
103.
‘‘Candanaṃ pūrayitvāna, tagarāmallikāhi ca;
Haṭṭho haṭṭhena cittena, āropayiṃ † naruttamaṃ.
Having filled it with sandalwood, and with tagara and jasmine flowers, joyful and with a delighted mind, I made an offering to the supreme among men.
Sau khi đã làm cho đầy đủ với bột chiên-đàn, và với các loại hoa tagara và lài, tôi, người hoan hỷ, với tâm ý hoan hỷ, đã dâng lên bậc Tối Thượng của nhân loại.
104.
104.
104.
‘‘Mama saṅkappamaññāya, satthā loke anuttaro;
Nipannakova sambuddho, imā gāthā abhāsatha.
Knowing my intention, the Teacher, the unsurpassed in the world, the Fully Enlightened One, spoke these verses while reclining:
Sau khi đã biết được ý định của tôi, bậc Đạo Sư vô song ở thế gian, bậc Chánh Đẳng Giác, trong khi đang nằm, đã nói lên những câu kệ này.
105.
105.
105.
‘‘‘Yo me pacchimake kāle, gandhamālena † chādayi;
Tamahaṃ kittayissāmi, suṇātha mama bhāsato.
‘He who, at my final time, covered me with perfumes and garlands, I shall proclaim him. Listen to my words as I speak.
‘Vị nào vào thời điểm cuối cùng của ta đã che phủ (ta) bằng hương và hoa; ta sẽ tán dương vị ấy, các ngươi hãy lắng nghe lời của ta đang nói.
106.
106.
106.
‘‘‘Ito cuto ayaṃ poso, tusitakāyaṃ gamissati;
Tattha rajjaṃ karitvāna, nimmānaṃ so gamissati.
‘Passing away from here, this person will go to the Tusita realm. Having exercised sovereignty there, he will go to the Nimmānarati realm.
‘Người này sau khi mệnh chung từ nơi đây sẽ đi đến cõi trời Tusita. Sau khi đã làm vua ở nơi ấy, người ấy sẽ đi đến cõi trời Nimmāna(rati).
107.
107.
107.
‘‘‘Eteneva upāyena, datvā mālaṃ † varuttamaṃ;
Sakakammābhiraddho so, sampattiṃ anubhossati.
‘By this very means, having offered a supreme garland, devoted to his own wholesome deed, he will experience prosperity.
‘Chỉ bằng phương tiện này, sau khi đã dâng tặng vòng hoa cao quý nhất, người ấy, người thành tựu trong nghiệp của mình, sẽ hưởng thụ tài sản.
108.
108.
108.
‘‘‘Punāpi tusite kāye, nibbattissatiyaṃ naro;
Tamhā kāyā cavitvāna, manussattaṃ gamissati.
‘Again this man will be reborn in the Tusita realm. Passing away from that realm, he will attain a human state.
‘Một lần nữa, người này sẽ tái sanh ở cõi trời Tusita. Sau khi mệnh chung từ cõi ấy, người này sẽ đi đến trạng thái làm người.
109.
109.
109.
‘‘‘Sakyaputto mahānāgo, aggo loke sadevake;
Bodhayitvā bahū satte, nibbāyissati cakkhumā.
‘The son of the Sakyans, the great being, foremost in the world with its gods, the one with vision, will attain Parinibbāna after having awakened many beings.
‘Vị Thích-ca tử, bậc Đại Long, bậc Tối Thượng trong thế gian cùng với chư Thiên, bậc có mắt tuệ, sau khi đã giác ngộ cho nhiều chúng sanh, sẽ tịch diệt.
110.
110.
110.
‘‘‘Tadā sopagato santo, sukkamūlena codito;
Upasaṅkamma sambuddhaṃ, pañhaṃ pucchissati tadā.
‘Then, having approached, impelled by a pure root of merit, he will draw near to the Fully Enlightened One and ask a question.’
‘Khi ấy, người ấy sau khi đã đến gần, được thúc đẩy bởi căn lành, sau khi đến gần đức Chánh Đẳng Giác, khi ấy sẽ hỏi một câu hỏi.
111.
111.
111.
‘‘‘Hāsayitvāna sambuddho, sabbaññū lokanāyako;
Puññakammaṃ pariññāya, saccāni vivarissati.
‘The Fully Enlightened One, the All-Knowing, the Leader of the World, having smiled, and having fully understood his meritorious action, will reveal the truths.
‘Sau khi mỉm cười, đức Chánh Đẳng Giác, bậc Toàn Tri, bậc Lãnh Đạo thế gian, sau khi đã liễu tri về thiện nghiệp, sẽ khai thị các chân lý.
112.
112.
112.
‘‘‘Āraddho ca ayaṃ pañho, tuṭṭho ekaggamānaso;
Satthāraṃ abhivādetvā, pabbajjaṃ yācayissati.
‘This question having been resolved, he, being pleased and with a one-pointed mind, having paid homage to the Teacher, will request the going forth.
‘Và câu hỏi này đã được khởi đầu, người ấy hài lòng, có tâm chuyên nhất, sau khi đã đảnh lễ bậc Đạo Sư, sẽ xin được xuất gia.
113.
113.
113.
‘‘‘Pasannamānasaṃ disvā, sakakammena tositaṃ;
Pabbājessati so buddho, aggamaggassa kovido.
‘Seeing him with a serene mind, delighted by his own kamma, that Buddha, skilled in the supreme path, will ordain him.
‘Sau khi nhìn thấy người có tâm ý trong sạch, người được hoan hỷ bởi nghiệp của mình, đức Phật ấy, bậc thông thạo con đường tối thượng, sẽ cho xuất gia.
114.
114.
114.
‘‘‘Vāyamitvānayaṃ poso, sammāsambuddhasāsane;
Sabbāsave pariññāya, nibbāyissatināsavo’.
‘Having striven in the Dispensation of the Perfectly Enlightened One, this man, having fully understood all the taints, will attain Nibbāna without taints’.
‘Sau khi đã tinh tấn, người này ở trong giáo pháp của đức Chánh Đẳng Giác, sau khi đã liễu tri tất cả các lậu hoặc, sẽ tịch diệt, là người không còn lậu hoặc.’
Pañcamabhāṇavāraṃ.
The Fifth Recitation Section.
Phẩm tụng thứ năm.
115.
115.
115.
‘‘Pubbakammena saṃyutto, ekaggo susamāhito;
Buddhassa oraso putto, dhammajomhi sunimmito.
Connected with past kamma, one-pointed, well-concentrated, I am the Buddha's true-born son, born of the Dhamma, well-fashioned.
Tôi, người được kết hợp với nghiệp quá khứ, có tâm chuyên nhất, có định vững vàng, là người con trai đích thực của đức Phật, người được sanh ra từ Giáo Pháp, người được tạo dựng tốt đẹp.
116.
116.
116.
‘‘Dhammarājaṃ upagamma, apucchiṃ pañhamuttamaṃ;
Kathayanto ca me pañhaṃ, dhammasotaṃ upānayi.
Approaching the King of Dhamma, I asked the supreme question; and while explaining my question, he led me to the stream of Dhamma.
Sau khi đã đến gần đức Pháp Vương, tôi đã hỏi câu hỏi cao thượng. Và trong khi đang giải đáp câu hỏi của tôi, Ngài đã dẫn dắt (tôi) vào dòng Pháp.
117.
117.
117.
‘‘Tassāhaṃ dhammamaññāya, vihāsiṃ sāsane rato;
Sabbāsave pariññāya, viharāmi anāsavo.
Having understood his Dhamma, I lived delighting in the Dispensation. Having fully understood all the taints, I dwell without taints.
Tôi, sau khi đã hiểu được Giáo Pháp của Ngài, đã sống hoan hỷ trong lời dạy. Sau khi đã liễu tri tất cả các lậu hoặc, tôi sống không còn lậu hoặc.
118.
118.
118.
‘‘Satasahassito kappe, jalajuttamanāyako;
Nibbāyi anupādāno, dīpova telasaṅkhayā.
One hundred thousand eons ago from this one, the Supreme Leader born of a lotus attained Parinibbāna without clinging, like a lamp when its oil is exhausted.
Cách đây một trăm ngàn kiếp, bậc Lãnh Đạo, bậc Tối Thượng Sanh từ hoa sen, đã tịch diệt không còn chấp thủ, giống như ngọn đèn (tắt) do hết dầu.
119.
119.
119.
‘‘Sattayojanikaṃ āsi, thūpañca ratanāmayaṃ;
Dhajaṃ tattha apūjesiṃ, sabbabhaddaṃ manoramaṃ.
There was a stupa made of jewels, seven yojanas in size; there I honored a banner, wholly auspicious and delightful.
Bảo tháp bằng châu báu đã cao bảy do-tuần. Tại nơi ấy, tôi đã cúng dường lá phướn hoàn toàn tốt đẹp, làm vui thích tâm ý.
120.
120.
120.
‘‘Kassapassa ca buddhassa, tisso nāmaggasāvako;
Putto me oraso āsi, dāyādo jinasāsane.
Of the Buddha Kassapa, the chief disciple named Tissa was my true-born son, an heir in the Victor’s Dispensation.
Vị Thượng thủ Thinh văn tên là Tissa của đức Phật Kassapa đã là người con ruột của tôi, là người thừa tự trong giáo Pháp của bậc Chiến Thắng.
121.
121.
121.
‘‘Tassa hīnena manasā, vācaṃ bhāsiṃ abhaddakaṃ;
Tena kammavipākena, pacchā me āsi bhaddakaṃ †.
To him, with a base mind, I spoke an inauspicious word; by the result of that kamma, good fortune came to me afterwards.
Đối với vị ấy, với tâm niệm thấp hèn, tôi đã nói lời nói không tốt đẹp. Do quả dị thục của nghiệp ấy, về sau điều tốt đẹp đã đến với tôi.
122.
122.
122.
‘‘Upavattane sālavane, pacchime sayane muni;
Pabbājesi mahāvīro, hito kāruṇiko jino.
In the Upavattana Sāla-grove, on his final couch, the Sage, the Great Hero, the beneficial and compassionate Victor, ordained me.
Tại khúc quanh của rừng sāla, trên giường nằm cuối cùng, bậc Mâu-ni, bậc Đại Hùng, vị mang lại lợi ích, vị có lòng bi mẫn, bậc Chiến Thắng đã cho tôi xuất gia.
123.
123.
123.
‘‘Ajjeva dāni pabbajjā, ajjeva upasampadā;
Ajjeva parinibbānaṃ, sammukhā dvipaduttame.
Just today is my going forth, just today my higher ordination; just today is my Parinibbāna in the presence of the Supreme among two-footed beings.
Ngay trong hôm nay là sự xuất gia, ngay trong hôm nay là sự tu lên bậc trên, ngay trong hôm nay là sự tịch diệt Niết-bàn, trước sự hiện diện của bậc Tối Thượng giữa các loài hai chân.
124.
124.
124.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal powers have been realized. The Buddha’s teaching has been done.
Bốn Tuệ phân tích ... (vân vân) ... lời giáo huấn của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā subhaddo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Subhadda spoke these verses.
Như vậy, Đại đức Trưởng lão Subhadda đã nói lên những câu kệ này.
Subhaddattherassāpadānaṃ navamaṃ.
The Ninth Apadāna of the Elder Subhadda.
Thiên truyện về Trưởng lão Subhadda là thứ chín.