Bản dịch
THA -ap514 — Ký Sự về Trưởng Lão Kapitthaphaladāyaka
2 Kapitthaphaladāyakattheraapadāna
BJT 5463Trong lúc đấng Toàn Giác, bậc có màu da vàng chói, vị thọ nhận các vật hiến cúng đang tiến bước ở trên đường, tôi đã dâng cúng trái táo rừng.
BJT 5464Kể từ khi tôi đã dâng cúng trái cây trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 5465Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5466Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5467Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Kapitthaphaladāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Kapitthaphaladāyaka là phần thứ nhì.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
2. Kapitthaphaladāyakattheraapadānaṃ
2. The Apadāna of the Elder Kapitthaphaladāyaka.
2. Thiên truyện Trưởng lão Kapitthaphaladāyaka
7.
7.
7.
‘‘Suvaṇṇavaṇṇaṃ sambuddhaṃ, āhutīnaṃ paṭiggahaṃ;
Rathiyaṃ paṭipajjantaṃ, kapitthaṃ † adadiṃ phalaṃ.
To the Perfectly Enlightened One of golden complexion, worthy of receiving offerings, as he was walking along the main road, I gave a wood-apple fruit.
“Trong khi Ngài đang đi trên đường phố, tôi đã dâng cúng quả kapittha đến đức Chánh Đẳng Giác, bậc có màu da vàng ròng, bậc xứng đáng thọ nhận các vật dâng cúng.”
8.
8.
8.
‘‘Ekanavutito kappe, yaṃ phalaṃ adadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, phaladānassidaṃ phalaṃ.
Ninety-one aeons ago from this aeon, when I gave that fruit, I have known no woeful state since then. This is the fruit of the gift of a fruit.
“Cách đây chín mươi mốt kiếp, vào lúc ấy tôi đã dâng cúng quả cây nào; (kể từ đó) tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là kết quả của việc dâng cúng quả cây.”
9.
9.
9.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burnt up… I dwell without taints.
“Các phiền não của tôi đã được đốt sạch ... vân vân ... tôi sống không còn lậu hoặc.”
10.
10.
10.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Indeed, my coming was a good coming… the teaching of the Buddha has been done.
“Quả thật, sự quang lâm của tôi đã là điều tốt đẹp ... vân vân ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
11.
11.
11.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the teaching of the Buddha has been done.
“Bốn Tuệ Phân Tích ... vân vân ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā kapitthaphaladāyako thero imā
Thus indeed the Venerable Elder Kapitthaphaladāyaka these
Như vậy, thật vậy, trưởng lão Kapitthaphaladāyaka, vị có tuổi thọ, đã nói lên những câu kệ này.
Gāthāyo abhāsitthāti.
verses recited.
đã nói lên như thế.
Kapitthaphaladāyakattherassāpadānaṃ dutiyaṃ.
The second Apadāna of the Elder Kapitthaphaladāyaka is finished.
Thiên truyện thứ nhì về trưởng lão Kapitthaphaladāyaka.