Bản dịch
THA -ap506 — Ký Sự về Trưởng Lão Avaṭaphaliya
Avaṭaphaliyattheraapadāna
BJT 5414Đức Thế Tôn có ngàn ánh hào quang, đấng Tự Chủ, vị không bị đánh bại đã xuất ra khỏi sự độc cư và đã ra đi về việc khất thực.
BJT 5415Có được một nắm trái cây, tôi đã nhìn thấy và đã đi đến gặp đấng Nhân Ngưu. Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã dâng cúng trái cây avaṭa.
BJT 5416Kể từ khi tôi đã dâng cúng trái cây trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 5417Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5418Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5419Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Avaṭaphaliyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Avaṭaphaliya là phần thứ tư.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Sataraṃsī nāma bhagavā, sayambhū aparājito;
Vivekā vuṭṭhahitvāna, gocarāyābhinikkhami.
The Blessed One was named Sataraṃsī, the Self-Become, the Unconquered. Having arisen from seclusion, he went forth for his alms-round.
Bậc Thế Tôn tên là Sataraṃsī, bậc Tự Sinh, bậc Bất Bại, sau khi đứng dậy từ nơi độc cư, đã đi ra ngoài để khất thực.
86.
86.
86.
‘‘Phalahattho ahaṃ disvā, upagacchiṃ narāsabhaṃ;
Pasannacitto sumano, tālaphalaṃ adāsahaṃ.
Seeing the bull among men, I, with fruit in hand, approached him. With a confident and glad mind, I gave him a palm fruit.
Tay cầm quả cây, sau khi nhìn thấy bậc Nhân Ngưu, tôi đã đi đến gần. Với tâm ý trong sạch, với ý vui mừng, tôi đã dâng cúng quả thốt nốt.
87.
87.
87.
‘‘Catunnavutito kappe, yaṃ phalaṃ adadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, phaladānassidaṃ phalaṃ.
Ninety-four aeons from this one, when I gave that fruit, I have known no bad destination. This is the fruit of the gift of a fruit.
Cách nay chín mươi bốn kiếp, khi ấy tôi đã dâng cúng quả cây nào, (kể từ đó) tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là kết quả của việc dâng cúng quả cây.
88.
88.
88.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burnt up… I dwell free from taints.
Các phiền não của tôi đã được đốt sạch ... (như trên) ... tôi sống không còn lậu hoặc.
89.
89.
89.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Welcome indeed was my coming… the Buddha’s teaching has been done.
Thật là khéo đến cho tôi ... (như trên) ... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
90.
90.
90.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the Buddha’s teaching has been done.
Bốn Tuệ Phân Tích ... (như trên) ... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā tālaphaladāyako thero imā gāthāyo
Thus indeed the Venerable Elder Tālaphaladāyaka
Như vậy, thật vậy, trưởng lão khả kính Tālaphaladāyaka những câu kệ này
Abhāsitthāti.
spoke these verses.
đã nói lên.
Tālaphaladāyakattherassāpadānaṃ navamaṃ.
The Apadāna of the Elder Giver of a Palm Fruit, the ninth.
Thánh tích của trưởng lão Tālaphaladāyaka, chương thứ chín.