Bản dịch
THA -ap503 — Ký Sự về Trưởng Lão Tikaṇikārapupphiya
1 Tikaṇikārapupphiyattheraapadāna
BJT 5358Đấng Toàn Giác tên Sumedha có ba mươi hai hảo tướng. Có ước muốn độc cư, đức Thế Tôn đã đi đến núi Hi-mã-lạp.
BJT 5359Sau khi đã đi sâu vào núi Hi-mã-lạp, đấng Bi Mẫn cao cả, bậc Hiền Trí, đấng Tối Thượng Nhân đã xếp chân thế kiết già rồi ngồi xuống.
BJT 5360Khi ấy, tôi đã là người nắm giữ pháp thuật, là vị du hành ở không trung. Sau khi cầm lấy cây chỉa ba được thực hiện khéo léo, tôi đi ở trên không trung.
BJT 5361Đức Phật chói sáng ở trong khu rừng giống như ngọn lửa ở trên đỉnh núi, tợ như mặt trăng ngày rằm, tợ như cây sālāchúa đã được trổ hoa.
BJT 5362Hào quang của đức Phật vượt ra khỏi chóp đỉnh của khu rừng và tỏa rộng giống như là màu sắc ngọn lửa của cây sậy, sau khi nhìn thấy tôi đã làm cho tâm được tịnh tín.
BJT 5363Trong khi chọn lựa, tôi đã nhìn thấy bông hoa kaṇikāracó hương thơm của cõi trời. Sau khi cầm lấy ba bông hoa, tôi đã cúng dường đến đức Phật tối thượng.
BJT 5364Khi ấy, do nhờ năng lực của đức Phật, ba bông hoa của tôi (xoay ngược lại) có các cuống hoa ở bên trên và các cánh hoa ở bên dưới, tạo thành bóng râm che cho đức Phật.
BJT 6365Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 5366Tại nơi ấy, có cung điện được kiến tạo khéo léo dành cho tôi được biết (với tên) là “kaṇikārī” có chiều dài sáu mươi do-tuần, chiều rộng ba mươi do-tuần.
BJT 5367(Cung điện) có một ngàn cột trụ chống có màu lục, một trăm mái tròn được trang hoàng với những ngọn cờ. Có một trăm ngàn tháp nhọn đã hiện diện ở cung điện của tôi.
BJT 5368Có những chiếc ghế bành làm bằng vàng, làm bằng ngọc ma-ni, và cũng làm bằng hồng ngọc nữa, luôn cả ngọc pha-lê (hiện ra) ở bất cứ nơi nào và bất cứ khi nào theo ước muốn.
BJT 5369Và có chiếc giường vô cùng giá trị được trải loại nệm bông gòn có một phần lông rái cá, và được gắn liền với chiếc gối.
BJT 5370Khi nào tôi ước muốn việc ra đi, thì sau khi rời khỏi nơi cư ngụ và trong lúc thực hiện cuộc du hành cùng với chư Thiên, tôi dẫn đầu hội chúng chư Thiên.
BJT 5371Tôi đứng, ở phía bên dưới là bông hoa, ở phía bên trên của tôi ở xung quanh một trăm do-tuần có mái che được phủ bằng các bông hoa kaṇika.
BJT 5372Có sáu mươi ngàn nhạc công đã phục vụ sáng chiều. Họ thường xuyên vây quanh tôi đêm ngày không biếng nhác.
BJT 5373Ở tại nơi ấy, tôi sướng vui với các điệu vũ, các lời ca, các tiếng chũm chọe, và các khúc tấu nhạc, với niềm sướng vui của việc giải trí. Tôi vui thích theo sự mong muốn này mong muốn khác.
BJT 5374Lúc bấy giờ, ở tại nơi ấy tôi đã ăn, tôi đã uống, tôi vui thích ở cõi trời Tam Thập. Được gần gũi với các đám nữ nhân, tôi vui thích ở lâu đài tuyệt hảo.
BJT 5375Và tôi đã cai quản Thiên quốc năm trăm lần. Và tôi đã trở thành đấng Chuyển Luân Vương ba trăm lần. Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.
BJT 5376Trong khi luân hồi ở cõi này cõi khác, tôi nhận lãnh của cải lớn lao, tôi không có sự thiếu hụt về của cải; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 5377Tôi (đã) luân hồi ở hai cảnh giới trong bản thể Thiên nhân và loài người, tôi không biết đến cõi tái sanh khác; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 5378Tôi (đã) được sanh ra ở hai gia tộc, Sát-đế-lỵ và luôn cả Bà-la-môn, tôi không biết đến gia tộc hạ tiện; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 5379Về phương tiện di chuyển bằng voi, phương tiện di chuyển bằng ngựa, kiệu khiêng, và cỗ xe kéo, tôi đạt được tất cả mọi thứ này; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 5380Về đám tôi trai, bầy tớ gái, và các nữ nhân đã được trang điểm, tôi đạt được tất cả mọi thứ này; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 5381Về y phục làm bằng tơ lụa, bằng sợi len, bằng chỉ lanh, và bằng bông vải, tôi đạt được tất cả mọi thứ này; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 5382Về vải vóc mới, trái cây tươi, thức ăn mới lạ có phẩm vị cao sang, tôi đạt được tất cả mọi thứ này; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 5383“Ngài hãy nhai món này, ngài hãy ăn món này, ngài hãy nằm ở chiếc giường này,” tôi đạt được tất cả mọi thứ này; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 5384Tôi được tôn vinh ở tất cả các nơi, danh vọng của tôi được thăng tiến, tôi luôn luôn có phe cánh đông đảo, luôn luôn có hội chúng không bị chia rẽ, tôi là hạng nhất trong số các quyến thuộc; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 5385Tôi không biết đến sự lạnh (và) sự nóng, sự bực bội không được biết đến. Sự khổ sở thuộc về tâm ở trái tim của tôi không được biết đến.
BJT 5386Sau khi có được làn da màu vàng ròng, tôi luân hồi ở cõi này cõi khác, tôi không biết đến việc tàn tạ sắc thân; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 5387Sau khi mệnh chung ở thế giới chư Thiên, được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch tôi đã được sanh ra trong nhà đại bá hộ vô cùng sang trọng ở thành phố Sāvatthī.
BJT 5388Sau khi từ bỏ năm phần dục lạc, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình. Vào lúc bảy tuổi tính từ khi sanh, tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
BJT 5389Sau khi nhận biết đức hạnh (của tôi), đức Phật bậc Hữu Nhãn đã cho tu lên bậc trên, tôi là vị trẻ tuổi xứng đáng được cúng dường; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 5390Thiên nhãn của tôi được thanh tịnh, tôi là thiện xảo về định, đã đạt đến sự toàn hảo về các thắng trí; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 5391Tôi đã thành tựu các pháp phân tích, là vị rành rẽ về các nền tảng của thần thông, đã đạt đến sự toàn hảo về các pháp; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 5392(Kể từ khi) tôi đã cúng dường đức Phật trước đây ba mươi ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 5393Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5394Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5395Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Tikaṇikārapupphiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Tikaṇikārapupphiya là phần thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
1. Tikaṇikārapupphiyattheraapadānaṃ
1. The Apadāna of the Elder Tikaṇikārapupphiya
1. Thiên sự của Trưởng lão Tikaṇikārapupphiya
1.
1.
1.
‘‘Sumedho nāma sambuddho, bāttiṃsavaralakkhaṇo;
Vivekakāmo sambuddho, himavantamupāgamiṃ.
The Perfectly Enlightened One named Sumedha, endowed with the thirty-two excellent marks, the Enlightened One desiring seclusion, approached the Himavanta.
“Bậc Chánh Đẳng Giác tên là Sumedha, vị có ba mươi hai tướng tốt cao quý, bậc Chánh Đẳng Giác ưa thích sự vắng lặng, đã đi đến dãy Himavanta.
2.
2.
2.
‘‘Ajjhogayha himavantaṃ, aggo kāruṇiko muni;
Pallaṅkamābhujitvāna, nisīdi purisuttamo.
Having entered the Himavanta, the foremost, compassionate sage, the supreme among men, sat down, having folded his legs crosswise.
“Sau khi đã đi sâu vào dãy Himavanta, bậc Tối Thượng, bậc Hiền Triết bi mẫn, bậc Tối Thượng trong loài người đã ngồi xuống trong thế kiết-già.
3.
3.
3.
‘‘Vijjādharo tadā āsiṃ, antalikkhacaro ahaṃ;
Tisūlaṃ sukataṃ gayha, gacchāmi ambare tadā.
At that time I was a knowledge-holder, one who traveled through the sky. Taking up a well-made trident, I traveled in the sky at that time.
“Khi ấy, tôi là một vị vijjādhara (người nắm giữ thần chú), một người đi trên không trung. Khi ấy, sau khi cầm lấy cây đinh ba được làm khéo léo, tôi đang đi trên bầu trời.
4.
4.
4.
‘‘Pabbatagge yathā aggi, puṇṇamāyeva candimā;
Vane obhāsate buddho, sālarājāva phullito.
Like a fire on a mountain peak, like the moon on a full-moon day, the Buddha shone in the forest like a sāla tree king in full bloom.
“Đức Phật tỏa sáng ở trong rừng giống như ngọn lửa ở trên đỉnh núi, giống như mặt trăng vào ngày rằm, giống như cây sala chúa đang trổ hoa.
5.
5.
5.
‘‘Vanaggā nikkhamitvāna, buddharaṃsībhidhāvare;
Naḷaggivaṇṇasaṅkāsā, disvā cittaṃ pasādayiṃ.
Issuing from the treetops, the Buddha’s rays, which resembled the color of a fire among the reeds, streamed forth. Seeing them, I clarified my mind.
“Sau khi xuất ra từ ngọn cây trong rừng, các tia hào quang của đức Phật đã tuôn chảy ra. Sau khi nhìn thấy các tia sáng giống như màu sắc của ngọn lửa đốt lau sậy, tôi đã làm cho tâm được tịnh tín.
6.
6.
6.
‘‘Vicinaṃ addasaṃ pupphaṃ, kaṇikāraṃ devagandhikaṃ;
Tīṇi pupphāni ādāya, buddhaseṭṭhamapūjayiṃ.
While searching for a kaṇikāra flower with a divine fragrance, I saw the Buddha. Taking three flowers, I honored the best of Buddhas.
“Trong khi tìm kiếm, tôi đã nhìn thấy đóa hoa kaṇikāra có hương thơm của chư Thiên. Sau khi lấy ba đóa hoa, tôi đã cúng dường đến bậc Tối Thắng trong các đức Phật.
7.
7.
7.
‘‘Buddhassa ānubhāvena, tīṇi pupphāni me tadā;
Uddhaṃvaṇṭā adhopattā, chāyaṃ kubbanti satthuno.
By the Buddha’s power, my three flowers then, with stalks pointing up and petals pointing down, formed a canopy for the Teacher.
“Do nhờ oai lực của đức Phật, khi ấy ba đóa hoa của tôi có cuống hướng lên trên, có cánh hướng xuống dưới, đã làm thành lọng che cho đức Đạo Sư.
8.
8.
8.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
By that well-done deed and by my volition and aspirations, having abandoned the human body, I went to the Tāvatiṃsa heaven.
“Do nhờ nghiệp đã được làm tốt đẹp ấy và do nhờ các tác ý và nguyện vọng, sau khi từ bỏ thân người, tôi đã đi đến cõi trời Tāvatiṃsa (Đao-lợi).
9.
9.
9.
‘‘Tattha me sukataṃ byamhaṃ, kaṇikārīti ñāyati;
Saṭṭhiyojanamubbedhaṃ, tiṃsayojanavitthataṃ.
There a celestial mansion, well-made for me, is known as ‘Kaṇikārī.’ It was sixty yojanas high and thirty yojanas wide.
“Ở nơi ấy, lâu đài được làm tốt đẹp của tôi được biết đến với tên gọi ‘Kaṇikārī.’ (Lâu đài ấy) cao sáu mươi do-tuần và rộng ba mươi do-tuần.
10.
10.
10.
‘‘Sahassakaṇḍaṃ satabheṇḍu †, dhajāluharitāmayaṃ;
Satasahassaniyyūhā, byamhe pātubhaviṃsu me.
It had a thousand sections and a hundred orbs, with many banners made of gold. A hundred thousand pinnacles appeared on my celestial mansion.
“(Lâu đài ấy) có một ngàn gian phòng, một trăm quả cầu, có nhiều cờ phướn, được làm bằng vàng. Một trăm ngàn vọng lâu đã hiện ra ở lâu đài của tôi.
11.
11.
11.
‘‘Soṇṇamayā maṇimayā, lohitaṅgamayāpi ca;
Phalikāpi ca pallaṅkā, yenicchakā yadicchakā †.
Couches made of gold, of jewels, and also of rubies, and of crystal, appeared whenever and however I wished.
“Các ngai vàng được làm bằng vàng, được làm bằng ngọc ma-ni, và cả được làm bằng đá lohitaṅga, và cả bằng pha lê, đã hiện ra theo ý muốn.
12.
12.
12.
‘‘Mahārahañca sayanaṃ, tūlikāvikatīyutaṃ;
Uddhalomikaekantaṃ, bimbohanasamāyutaṃ †.
And a couch of great price, furnished with mattresses and elaborate coverlets, with single- and double-fleeced coverlets, and furnished with pillows.
“Và giường nằm quý giá được trang bị với nệm gòn và thảm len, có tấm thảm lông dài một bên, được đi kèm với các chiếc gối.
13.
13.
13.
‘‘Bhavanā nikkhamitvāna, caranto devacārikaṃ;
Yadā icchāmi gamanaṃ, devasaṅghapurakkhato.
Going out from my mansion, wandering on a tour of the deva realm, whenever I wish to travel, I am attended by a host of devas.
“Bất cứ khi nào tôi mong muốn ra đi, sau khi ra khỏi lâu đài để dạo cảnh chư Thiên, tôi được đoàn chư Thiên hộ tống.
14.
14.
14.
‘‘Pupphassa heṭṭhā tiṭṭhāmi, uparicchadanaṃ mama;
Samantā yojanasataṃ, kaṇikārehi chāditaṃ.
I stand beneath the flower, which is my canopy above. For a hundred yojanas all around, it is covered with kaṇikāra flowers.
“Tôi đứng ở bên dưới đóa hoa, ở trên tôi là lọng che. Xung quanh một trăm do-tuần được che phủ bởi các hoa kaṇikāra.
15.
15.
15.
‘‘Saṭṭhituriyasahassāni, sāyapātamupaṭṭhahuṃ;
Parivārenti maṃ niccaṃ, rattindivamatanditā.
Sixty thousand musical instruments attended upon me evening and morning. Unwearied, they constantly surrounded me day and night.
“Sáu mươi ngàn nhạc cụ đã phục vụ vào buổi sáng và buổi chiều. Các nhạc cụ ấy luôn luôn vây quanh tôi, ngày và đêm không mệt mỏi.
16.
16.
16.
‘‘Tattha naccehi gītehi, tāḷehi vāditehi ca;
Ramāmi khiḍḍāratiyā, modāmi kāmakāmihaṃ.
There, with dances and songs, with cymbals and instrumental music, I delighted in the pleasure of play; desiring sensual pleasures, I rejoiced.
“Ở nơi ấy, tôi vui hưởng với các điệu múa, các bài hát, với các tiếng vỗ tay, và với các nhạc cụ. Tôi vui hưởng trong sự thích thú vui đùa, tôi hoan hỷ là người có được các dục lạc.
17.
17.
17.
‘‘Tattha bhutvā pivitvā ca, modāmi tidase tadā;
Nārīgaṇehi sahito, modāmi byamhamuttame.
Having eaten and drunk there, I then rejoiced among the Thirty-Three gods. Accompanied by hosts of celestial women, I rejoiced in that supreme celestial mansion.
“Ở nơi ấy, sau khi đã ăn và đã uống, khi ấy tôi hoan hỷ ở cõi trời Ba Mươi Ba. Cùng với các đoàn tiên nữ, tôi hoan hỷ ở trong lâu đài cao quý.
18.
18.
18.
‘‘Satānaṃ pañcakkhattuñca, devarajjamakārayiṃ;
Satānaṃ tīṇikkhattuñca, cakkavattī ahosahaṃ;
Five hundred times I exercised sovereignty as king of the devas; three hundred times I was a wheel-turning monarch.
“Và năm trăm lần, tôi đã làm vua của chư Thiên. Và ba trăm lần, tôi đã là vị Chuyển Luân vương.
Padesarajjaṃ vipulaṃ, gaṇanāto asaṅkhiyaṃ.
My regional kingship was vast, innumerable by count.
Việc làm vua của một vùng rộng lớn thì không thể đếm được bằng sự tính toán.
19.
19.
19.
‘‘Bhavābhave saṃsaranto, mahābhogaṃ labhāmahaṃ;
Bhoge me ūnatā natthi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Wandering through existences, I obtain great wealth. There is no deficiency in my wealth; this is the fruit of worshipping the Buddha.
“Trong khi luân chuyển ở các kiếp sống, tôi đã nhận được tài sản lớn lao. Đối với tôi, không có sự thiếu hụt về tài sản. Đây là quả của việc cúng dường đức Phật.
20.
20.
20.
‘‘Duve bhave saṃsarāmi, devatte atha mānuse;
Aññaṃ gatiṃ na jānāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
I wander only in two existences, among devas and among humans. I know of no other destination; this is the fruit of worshipping the Buddha.
“Tôi luân chuyển trong hai kiếp sống: hoặc là ở cõi trời hoặc là ở cõi người. Tôi không biết đến cảnh giới nào khác. Đây là quả của việc cúng dường đức Phật.
21.
21.
21.
‘‘Duve kule pajāyāmi, khattiye cāpi brāhmaṇe;
Nīce kule na jāyāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
I am born only into two families, that of warriors and that of brahmins. I am not born in a low family; this is the fruit of worshipping the Buddha.
“Tôi được sanh trong hai dòng dõi, hoặc là Sát-đế-lỵ hoặc là Bà-la-môn; tôi không sanh vào dòng dõi thấp hèn, đây là quả của việc cúng dường đức Phật.”
22.
22.
22.
‘‘Hatthiyānaṃ assayānaṃ, sivikaṃ sandamānikaṃ;
Labhāmi sabbamevetaṃ, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Elephant-vehicles, horse-vehicles, palanquins, and litters—I obtain all of this; this is the fruit of worshipping the Buddha.
“Xe voi, xe ngựa, kiệu, và võng; tôi nhận được tất cả những thứ ấy, đây là quả của việc cúng dường đức Phật.”
23.
23.
23.
‘‘Dāsīgaṇaṃ dāsagaṇaṃ, nāriyo samalaṅkatā;
Labhāmi sabbamevetaṃ, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Groups of female slaves, groups of male slaves, and well-adorned women—I obtain all of this; this is the fruit of worshipping the Buddha.
“Đoàn nữ tỳ, đoàn nam nô, và những người phụ nữ được trang điểm lộng lẫy; tôi nhận được tất cả những thứ ấy, đây là quả của việc cúng dường đức Phật.”
24.
24.
24.
‘‘Koseyyakambaliyāni, khomakappāsikāni ca;
Labhāmi sabbamevetaṃ, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Garments of silk and wool, and of linen and cotton—I obtain all of this; this is the fruit of worshipping the Buddha.
“Vải lụa, vải len, và vải lanh, vải bông; tôi nhận được tất cả những thứ ấy, đây là quả của việc cúng dường đức Phật.”
25.
25.
25.
‘‘Navavatthaṃ navaphalaṃ, navaggarasabhojanaṃ;
Labhāmi sabbamevetaṃ, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
New clothes, new fruits, and food with new, excellent flavors—I obtain all of this; this is the fruit of worshipping the Buddha.
“Y phục mới, trái cây đầu mùa, vật thực có hương vị hảo hạng đầu mùa; tôi nhận được tất cả những thứ ấy, đây là quả của việc cúng dường đức Phật.”
26.
26.
26.
‘‘Imaṃ khāda imaṃ bhuñja, imamhi sayane saya;
Labhāmi sabbamevetaṃ, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
‘Eat this, enjoy this, lie on this couch’—I obtain all of this; this is the fruit of worshipping the Buddha.
“‘Hãy ăn món này, hãy dùng món kia, hãy ngủ trên giường này;’ tôi nhận được tất cả những lời mời gọi ấy, đây là quả của việc cúng dường đức Phật.”
27.
27.
27.
‘‘Sabbattha pūjito homi, yaso abbhuggato mama;
Mahāpakkho sadā homi, abhejjapariso sadā;
Ñātīnaṃ uttamo homi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
I am honored everywhere, my fame has risen up. I always have a great following, always an unbreakable retinue. I am the foremost among my kinsmen; this is the fruit of worshipping the Buddha.
“Tôi được tôn kính ở khắp mọi nơi, danh tiếng của tôi vang lừng. Tôi luôn có phe phái lớn mạnh, luôn có đoàn tùy tùng không chia rẽ. Tôi là người tối thắng trong hàng quyến thuộc, đây là quả của việc cúng dường đức Phật.”
28.
28.
28.
‘‘Sītaṃ uṇhaṃ na jānāmi, pariḷāho na vijjati;
Atho cetasikaṃ dukkhaṃ, hadaye me na vijjati.
I do not know cold or heat; burning fever is not found in me. Furthermore, no mental suffering is found in my heart.
“Tôi không biết đến lạnh hay nóng, không có sự thiêu đốt. Hơn nữa, trong tâm tôi không có khổ não thuộc về tâm.”
29.
29.
29.
‘‘Suvaṇṇavaṇṇo hutvāna, saṃsarāmi bhavābhave;
Vevaṇṇiyaṃ na jānāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Having a golden complexion, I wander through existences. I do not know a bad complexion; this is the fruit of worshipping the Buddha.
“Có được sắc da vàng óng, tôi luân hồi trong các cõi hữu. Tôi không biết đến sự biến đổi màu da, đây là quả của việc cúng dường đức Phật.”
30.
30.
30.
‘‘Devalokā cavitvāna, sukkamūlena codito;
Sāvatthiyaṃ pure jāto, mahāsāle suaḍḍhake.
Having passed away from the deva world, impelled by a pure wholesome root-cause, I was born in the city of Sāvatthī in a wealthy Mahāsāla family.
“Sau khi mệnh chung từ cõi trời, được thúc đẩy bởi căn lành trong sạch, tôi đã sanh ra ở thành Sāvatthī, trong dòng dõi đại phú, rất giàu có.”
31.
31.
31.
‘‘Pañca kāmaguṇe hitvā, pabbajiṃ anagāriyaṃ;
Jātiyā sattavassohaṃ, arahattamapāpuṇiṃ.
Having abandoned the five strands of sensual pleasure, I went forth into the homeless life. When I was seven years of age, I attained Arahantship.
“Từ bỏ năm dục trưởng dưỡng, tôi đã xuất gia, sống đời không gia đình. Khi được bảy tuổi, tôi đã chứng đắc quả vị A-la-hán.”
32.
32.
32.
‘‘Upasampādayī buddho, guṇamaññāya cakkhumā;
Taruṇo pūjanīyohaṃ, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
The Buddha, the One with Vision, gave me the higher ordination, having recognized my virtue. Though young, I am worthy of honor; this is the fruit of worshipping the Buddha.
“Đức Phật, bậc có thiên nhãn, sau khi biết được đức hạnh của tôi đã cho tôi thọ cụ túc giới. Dù còn trẻ tuổi, tôi là người đáng được cúng dường, đây là quả của việc cúng dường đức Phật.”
33.
33.
33.
‘‘Dibbacakkhu visuddhaṃ me, samādhikusalo ahaṃ;
Abhiññāpāramippatto, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
My divine eye is purified, I am skilled in concentration; I have reached the perfection of the direct knowledges; this is the fruit of worshipping the Buddha.
“Thiên nhãn của tôi đã thanh tịnh, tôi thiện xảo về thiền định; tôi đã đạt đến sự toàn hảo của các thắng trí, đây là quả của việc cúng dường đức Phật.”
34.
34.
34.
‘‘Paṭisambhidā anuppatto, iddhipādesu kovido;
Dhammesu pāramippatto, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
I have attained the analytical knowledges and am an expert in the bases of spiritual power; I have reached perfection in the Dhammas; this is the fruit of worshipping the Buddha.
“Tôi đã chứng đắc các tuệ phân tích, thiện xảo về các thần túc thông; tôi đã đạt đến sự toàn hảo trong các pháp, đây là quả của việc cúng dường đức Phật.”
35.
35.
35.
‘‘Tiṃsakappasahassamhi, yaṃ buddhamabhipūjayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Thirty thousand aeons ago, when I worshipped the Buddha, I have no recollection of a woeful state; this is the fruit of worshipping the Buddha.
“Trong ba mươi ngàn kiếp, kể từ khi tôi đã cúng dường vị Phật ấy, tôi không hề biết đến ác thú, đây là quả của việc cúng dường đức Phật.”
36.
36.
36.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ, bhavā sabbe samūhatā;
Nāgova bandhanaṃ chetvā, viharāmi anāsavo.
My defilements are burnt up, all states of existence have been uprooted. Like an elephant that has cut its bonds, I dwell free from taints.
“Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các cõi hữu đã được nhổ bật gốc. Giống như voi chúa phá tan xiềng xích, tôi sống không còn lậu hoặc.”
37.
37.
37.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi, mama buddhassa santike;
Tisso vijjā anuppattā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Truly, my coming to the presence of my Buddha was a welcome one. The three knowledges have been attained; the Buddha’s teaching has been done.
“Sự đến của tôi thật là khéo đến, đến nơi sự hiện diện của đức Phật. Ba minh đã được chứng đắc, giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.”
38.
38.
38.
‘‘Paṭisambhidā catasso, vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
The four analytical knowledges, and these eight liberations, and the six direct knowledges have been realized; the Buddha’s teaching has been done.”
“Bốn tuệ phân tích, tám giải thoát này, và sáu thắng trí đã được chứng ngộ. Giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā tikaṇikārapupphiyo thero imā
Thus, it is said, the venerable Elder Tikaṇikārapupphiya
Như vậy, quả thật Trưởng lão Tikaṇikārapupphiya
Gāthāyo abhāsitthāti.
He recited these verses.
Đã nói lên các kệ ngôn như thế.
Tikaṇikārapupphiyattherassāpadānaṃ paṭhamaṃ.
The First Apadāna of the Elder Tikaṇikārapupphiya.
Thiên truyện thứ nhất về Trưởng lão Tikaṇikārapupphiya (đã kết thúc).