Bản dịch
THA -ap500 — Ký Sự về Trưởng Lão Pulinathūpiya
8 Pulinathūpiyattheraapadāna
BJT 5304Ở không xa núi Hi-mã-lạp, có ngọn núi tên là Yamaka, có khu ẩn cư của tôi đã khéo được xây dựng, có gian nhà rộng bằng lá đã khéo được tạo lập.
BJT 5305(Tôi) là vị đạo sĩ tóc bện tên Nārada có sự khổ hạnh cao tột. Mười bốn ngàn người đệ tử sống quanh tôi.
BJT 5206Lúc bấy giờ, trong khi đang thiền tịnh tôi đã suy nghĩ như vầy: “Tất cả mọi người tôn vinh ta. Ta không tôn vinh bất cứ ai.
BJT 5307Ta không có vị giáo giới, không biết đến bất cứ vị diễn giả nào. Ta đi đến cư ngụ ở trong rừng, không có thầy giáo thọ và thầy tế độ.
BJT 5308Đối với ta, không có thầy giáo thọ để ta phục vụ với tâm cung kính trong lúc kề cận thì sự cư ngụ ở rừng là không có ý nghĩa.
BJT 5309Như thế, ta sẽ tự tìm kiếm vị thầy đáng kính, đáng thọ nhận sự cúng dường của ta. Ta sẽ sống có sự hỗ trợ, không người nào sẽ trách móc.”
BJT 5310Không xa khu ẩn cư của tôi có con sông nhỏ với bờ nước lúp xúp, có bãi nước cạn khéo được thiết lập, được trải lớp cát vô cùng trong sạch, làm thích ý.
BJT 5311Khi ấy, tôi đã đi đến con sông tên là Amarikā. Tôi đã gom cát lại và đã thực hiện ngôi bảo tháp bằng cát.
BJT 5312“Những vị nào đã là các bậc Toàn Giác, là những vị Hiền Trí có sự đoạn tận việc tái sanh, ngôi bảo tháp như thế này là dành cho các vị ấy;” tôi đã làm điều ấy trở thành ấn chứng.
BJT 5313Sau khi thực hiện ngôi bảo tháp cát, tôi đã biến hóa thành vàng. Tôi đã cúng dường ba ngàn bông hoa kiṅka bằng vàng.
BJT 5314Tràn đầy niềm phấn khởi, tôi chắp tay lên lễ bái sáng chiều. Tôi đã đảnh lễ ngôi bảo tháp cát như là đảnh lễ bậc Toàn Giác ở trước mặt.
BJT 5315Mỗi khi các điều ô nhiễm là các suy tầm về đời sống tại gia sanh khởi, tôi tưởng nhớ đến đấng Thiện Thệ đến ngôi bảo tháp, lập tức tôi quán xét lại rằng:
BJT 5316“Thưa ông, trong khi sống nương tựa vào đấng Hướng Đạo, bậc Xa Phu, sao ông có thể sống chung với các điều ô nhiễm, thật không thích hợp cho ông!”
BJT 5317Lúc bấy giờ, mỗi khi suy tưởng đến ngôi bảo tháp, sự cung kính đã có đến tôi. Tôi đã xua đuổi các suy tầm xấu xa như là con voi bị khổ sở vì cây lao nhọn.
BJT 5318Trong khi đang an trú như thế, vị vua Thần Chết đã chế ngự tôi. Mệnh chung ở tại nơi ấy, tôi đã đi đến thế giới Phạm Thiên.
BJT 5319Sau khi sống đến hết tuổi thọ, tôi đã sanh ra ở cõi Tam Thập (Đạo Lợi). Tôi đã là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc tám mươi lần.
BJT 5320Và tôi đã trở thành đấng Chuyển Luân Vương ba trăm lần. Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.
BJT 5321Tôi thọ hưởng quả thành tựu của những bông hoa kiṅkaṇiấy. Trong đời sống, có một trăm ngàn người bảo mẫu ở quanh tôi.
BJT 5322Do bản chất của sự việc đã được thực hành ở ngôi bảo tháp, bụi bặm và cáu đất không làm nhơ nhuốc, các mồ hôi không tiết ra ở cơ thể, tôi có được vẻ ngời sáng.
BJT 5323Ôi ngôi bảo tháp đã khéo được xây dựng bởi tôi, con sông Amarikā đã khéo được nhìn thấy bởi tôi! Sau khi thực hiện ngôi bảo tháp bằng cát, tôi đạt được vị thế Bất Động.
BJT 5324Với người có ước muốn làm việc lành có sự nắm được điều cốt yếu, dầu có thửa ruộng hoặc không có thửa ruộng, việc thực hành đều có kết quả tốt đẹp.
BJT 5325Cũng giống như người nam có sức mạnh nỗ lực để vượt qua biển cả, sau khi cầm lấy khúc gỗ nhỏ nhoi, có thể lao mình vào đại dương (nghĩ rằng):.
BJT 5326“Nương tựa vào khúc gỗ này, ta sẽ vượt qua biển lớn.” Với sự nỗ lực và tinh tấn, người nam (ấy) có thể vượt qua biển cả.
BJT 5327Tương tợ y như thế, việc làm đã được thực hiện bởi tôi dầu nhỏ nhoi và bé bỏng, sau khi nương tựa vào việc làm ấy tôi đã tự mình vượt khỏi luân hồi.
BJT 5328Khi đạt đến lần hiện hữu cuối cùng, được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch tôi đã được sanh ra trong nhà đại bá hộ vô cùng sang trọng ở thành phố Sāvatthī.
BJT 5329Có niềm tin, mẹ và cha của tôi đã đi đến nương nhờ vào đức Phật. Có sự đạt được (Pháp) nhãn, cả hai người này hành xử thuận theo Giáo Pháp.
BJT 5330Sau khi nhặt lấy vỏ khô của cội cây Bồ Đề, họ đã cho xây dựng ngôi bảo tháp bằng vàng. Sáng chiều họ trực tiếp lễ bái người con trai của dòng họ Sakya.
BJT 5331Vào ngày lễ Uposatha, họ đã dời đi ngôi bảo tháp bằng vàng. Trong khi tán dương công hạnh của đức Phật, họ đã trải qua ba canh (của đêm).
BJT 5332Sau khi nhìn thấy ngôi bảo tháp (vàng), tôi đã nhớ lại ngôi bảo tháp bằng cát. Tôi đã ngồi ở ngay chỗ ngồi ấy và đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
(Tụng phẩm thứ hai mươi hai).
BJT 5333Trong khi tìm kiếm đấng Chiến Thắng ấy, tôi đã nhìn thấy vị Tướng Quân Chánh Pháp. Sau khi lìa khỏi gia đình, tôi đã xuất gia trong sự chứng minh của vị ấy.
BJT 5334Vào lúc bảy tuổi tính từ khi sanh, tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán. Sau khi nhận biết đức hạnh (của tôi), đức Phật bậc Hữu Nhãn đã cho tu lên bậc trên.
BJT 5336Trong khi chỉ là đứa bé trai, tôi đã hoàn thành được công việc. Giờ đây, việc cần phải làm trong Giáo Pháp của người con trai dòng họ Sakya đã được tôi thực hiện.
BJT 5337(Tôi trở thành) vị ẩn sĩ đã vượt qua mọi sự hận thù và hãi sợ, đã vượt lên mọi điều trói buộc. “Bạch đấng Đại Hùng, con là Thinh Văn của Ngài; điều này là quả báu của bông hoa bằng vàng.”
BJT 5338Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5339Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5340Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Pulinathūpiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Pulinathūpiya là phần thứ tám.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
8. Pulinathūpiyattheraapadānaṃ
8. The Apadāna of the Elder Pulinathūpiya
8. Thí dụ về Trưởng lão Pulinathūpiya
57.
57.
57.
‘‘Himavantassāvidūre, yamako nāma pabbato;
Assamo sukato mayhaṃ, paṇṇasālā sumāpitā.
“Not far from the Himavanta there is a mountain named Yamaka. My hermitage was well-made there, my leaf-hut well-constructed.
Không xa dãy Himavanta, có ngọn núi tên là Yamaka. Am thất của tôi được làm rất khéo, tịnh xá lợp bằng lá được dựng lên rất đẹp.
58.
58.
58.
‘‘Nārado nāma nāmena, jaṭilo uggatāpano;
Catuddasasahassāni, sissā paricaranti maṃ.
“I was an ascetic with matted hair named Nārada, one of fierce ascetic power. Fourteen thousand disciples attended on me.
Với danh xưng là Nārada, tôi là vị ẩn sĩ bện tóc, có khổ hạnh mãnh liệt. Mười bốn ngàn đệ tử hầu hạ tôi.
59.
59.
59.
‘‘Paṭisallīnako santo, evaṃ cintesahaṃ tadā;
‘Sabbo jano maṃ pūjeti, nāhaṃ pūjemi kiñcanaṃ.
“While in seclusion, I then reflected thus: ‘Everyone honors me, but I do not honor anyone.
Khi đang ở nơi độc cư, vào lúc ấy tôi đã suy nghĩ như vầy: ‘Tất cả mọi người đều cúng dường tôi, còn tôi thì chẳng cúng dường một ai cả.’
60.
60.
60.
‘‘‘Na me ovādako atthi, vattā koci na vijjati;
Anācariyupajjhāyo, vane vāsaṃ upemahaṃ.
“‘I have no one to advise me; no instructor is to be found. Without a teacher or preceptor, I am living in the forest.
‘Tôi không có người khuyên dạy, không có ai là người chỉ bảo. Không có thầy tổ và thầy tế độ, tôi sống ở trong rừng.’
61.
61.
61.
‘‘‘Upāsamāno yamahaṃ, garucittaṃ upaṭṭhahe;
So me ācariyo natthi, vanavāso niratthako.
“‘I have no such teacher whom I could attend upon, establishing a respectful mind; my dwelling in the forest is pointless.
‘Vị thầy mà tôi có thể thân cận và phát sinh tâm tôn kính, vị thầy như thế tôi không có. Việc sống trong rừng này là vô ích.’
62.
62.
62.
‘‘‘Āyāgaṃ me gavesissaṃ, garuṃ bhāvaniyaṃ tathā;
Sāvassayo vasissāmi, na koci garahissati’.
“‘I shall seek for myself an object of worship, one who is venerable and to be esteemed. I will live with a basis for reverence, so that no one will reproach me.’
‘Tôi sẽ tìm kiếm cho mình một vị thầy đáng tôn kính, đáng phát triển lòng sùng mộ, và đáng cúng dường. Tôi sẽ sống có nơi nương tựa, sẽ không có ai chê trách được.’
63.
63.
63.
‘‘Uttānakūlā nadikā, supatitthā manoramā;
Saṃsuddhapulinākiṇṇā, avidūre mamassamaṃ.
“Not far from my hermitage was a delightful little river with shallow banks and good fords, strewn with perfectly pure sand.
Không xa am thất của tôi, có một con sông nhỏ bờ cạn, bến nước tốt, làm vui thích tâm hồn, trải đầy cát vô cùng trong sạch.
64.
64.
64.
‘‘Nadiṃ amarikaṃ nāma, upagantvānahaṃ tadā;
Saṃvaḍḍhayitvā pulinaṃ, akaṃ pulinacetiyaṃ.
Having then gone to the river named Amarikā, I heaped up the sand and made a sand cetiya.
Khi ấy, tôi đã đến gần con sông tên là Amarika; vun đắp cát lên, tôi đã làm tháp bằng cát.
65.
65.
65.
‘‘Ye te ahesuṃ sambuddhā, bhavantakaraṇā munī;
Tesaṃ etādiso thūpo, taṃ nimittaṃ karomahaṃ.
Of those sages who were Sambuddhas, makers of an end to existence, a stupa is of this kind. I make that sign.
Những bậc Toàn Giác, bậc ẩn sĩ đã chấm dứt các hữu nào đã có mặt; bảo tháp của các ngài là như thế này, tôi làm nên dấu hiệu ấy.
66.
66.
66.
‘‘Karitvā pulinaṃ † thūpaṃ, sovaṇṇaṃ māpayiṃ ahaṃ;
Soṇṇakiṅkaṇipupphāni, sahasse tīṇi pūjayiṃ.
Having made a stupa of sand, I created it to be of gold. I offered three thousand golden kiṅkaṇi flowers.
Sau khi làm tháp bằng cát, tôi đã hóa hiện nó thành vàng. Tôi đã cúng dường ba ngàn đóa hoa chuông vàng.
67.
67.
67.
‘‘Sāyapātaṃ namassāmi, vedajāto katañjalī;
Sammukhā viya sambuddhaṃ, vandiṃ pulinacetiyaṃ.
In the evening and the morning, with joy arisen and with hands joined in reverence, I venerated the sand cetiya as if in the presence of the Sambuddha.
Sáng và tối, tôi đảnh lễ, với niềm hoan hỷ phát sanh, chắp tay lại. Tôi đã đảnh lễ tháp cát như thể (đảnh lễ) bậc Toàn Giác ở trước mặt.
68.
68.
68.
‘‘Yadā kilesā jāyanti, vitakkā gehanissitā;
Sarāmi sukataṃ thūpaṃ, paccavekkhāmi tāvade.
Whenever defilements and thoughts connected with the household life arise, I recall the well-made stupa, and at that very moment, I reflect.
Khi các phiền não và các tầm tư liên hệ đến gia đình khởi sanh, tôi liền nhớ đến bảo tháp đã được khéo làm và quán xét ngay lúc ấy.
69.
69.
69.
‘‘Upanissāya viharaṃ, satthavāhaṃ vināyakaṃ;
Kilese saṃvaseyyāsi, na yuttaṃ tava mārisa.
‘Dwelling in dependence on the Guide, the Caravan Leader, should you associate with defilements? Friend, this is not fitting for you.’
Này bạn, trong khi đang sống nương tựa vào bậc Đạo Sư, vị trưởng đoàn lữ hành, việc ngươi chung sống với các phiền não là điều không thích hợp.
70.
70.
70.
‘‘Saha āvajjite thūpe, gāravaṃ hoti me tadā;
Kuvitakke vinodesiṃ, nāgo tuttaṭṭito yathā.
As soon as I adverted to the stupa, reverence would arise in me. I dispelled unwholesome thoughts just as an elephant tormented by a goad.
Ngay khi vừa hướng tâm đến bảo tháp, khi ấy lòng tôn kính liền sanh khởi trong tôi. Tôi đã loại trừ các ác tầm, giống như con voi bị thúc bằng cây móc.
71.
71.
71.
‘‘Evaṃ viharamānaṃ maṃ, maccurājābhimaddatha;
Tattha kālaṅkato santo, brahmalokamagacchahaṃ.
While I was dwelling thus, the King of Death overcame me. Having passed away there, I went to the Brahma world.
Trong khi tôi đang sống như thế, tử vương đã đè bẹp tôi. Sau khi mệnh chung tại nơi ấy, tôi đã đi đến cõi Phạm thiên.
72.
72.
72.
‘‘Yāvatāyuṃ vasitvāna, tidive † upapajjahaṃ;
Asītikkhattuṃ devindo, devarajjamakārayiṃ.
Having lived there for the full lifespan, I was reborn in heaven. Eighty times, as lord of the devas, I exercised sovereignty over the deva kingdom.
Sau khi sống hết tuổi thọ, tôi đã sanh lên cõi trời. Tám mươi lần làm vua của chư Thiên, tôi đã trị vì vương quốc của chư Thiên.
73.
73.
73.
‘‘Satānaṃ tīṇikkhattuñca, cakkavattī ahosahaṃ;
Padesarajjaṃ vipulaṃ, gaṇanāto asaṅkhiyaṃ.
And three hundred times I was a wheel-turning monarch. My regional kingship was vast, innumerable by count.
Và ba trăm lần, tôi đã là vị Chuyển Luân vương. Còn ngôi vị vua chư hầu rộng lớn thì không thể đếm được bằng cách tính toán.
74.
74.
74.
‘‘Soṇṇakiṅkaṇipupphānaṃ †, vipākaṃ anubhomahaṃ;
Dhātīsatasahassāni, parivārenti maṃ † bhave.
I experience the result of the golden kiṅkaṇi flowers: in existence, a hundred thousand nurses surround me.
Tôi đang hưởng quả báo của những đóa hoa chuông vàng. Một trăm ngàn vú nuôi vây quanh tôi trong các kiếp sống.
75.
75.
75.
‘‘Thūpassa pariciṇṇattā, rajojallaṃ na limpati;
Gatte sedā na muccanti, suppabhāso bhavāmahaṃ.
Because I attended to the stupa, dust and dirt do not cling to my body. Sweat is not emitted from my limbs, and I have a beautiful radiance.
Do việc đã chăm sóc bảo tháp, bụi bẩn không bám dính vào thân. Mồ hôi không tuôn chảy, tôi trở thành người có ánh sáng rực rỡ.
76.
76.
76.
‘‘Aho me sukato thūpo, sudiṭṭhāmarikā nadī;
Thūpaṃ katvāna pulinaṃ, pattomhi acalaṃ padaṃ.
Ah, the stupa was well made by me! The Amarikā river was well seen! Having made a stupa of sand, I have attained the unshakable state.
Ôi, bảo tháp của tôi đã được khéo làm, con sông Amarika đã được khéo thấy! Do đã làm tháp bằng cát, tôi đã chứng đắc trạng thái bất động.
77.
77.
77.
‘‘Kusalaṃ kattukāmena, jantunā sāragāhinā;
Natthi khettaṃ akhettaṃ vā, paṭipattīva sādhakā †.
For a being who wishes to do good and to grasp the essence, there is no fertile or barren field; practice itself is what brings accomplishment.
Đối với người muốn làm điều thiện, người nắm giữ lấy cốt lõi, không có (phân biệt) ruộng phước hay không phải ruộng phước. Chính sự thực hành mới là điều thành tựu.
78.
78.
78.
‘‘Yathāpi balavā poso, aṇṇavaṃ taritussahe;
Parittaṃ kaṭṭhamādāya, pakkhandeyya mahāsaraṃ.
Just as a strong man, eager to cross the ocean, might take a small piece of wood and plunge into the great sea,
Ví như người có sức mạnh, nỗ lực để vượt qua biển cả; lấy một khúc gỗ nhỏ, người ấy có thể lao vào đại dương.
79.
79.
79.
‘‘Imāhaṃ kaṭṭhaṃ nissāya, tarissāmi mahodadhiṃ;
Ussāhena vīriyena, tareyya udadhiṃ naro.
thinking, ‘Relying on this piece of wood, I will cross the great ocean,’ so with striving and energy that man could cross the ocean.
Nương vào khúc gỗ này, tôi sẽ vượt qua đại dương. Với sự nỗ lực và tinh tấn, một người có thể vượt qua biển cả.
80.
80.
80.
‘‘Tatheva me kataṃ kammaṃ, parittaṃ thokakañca yaṃ;
Taṃ kammaṃ upanissāya, saṃsāraṃ samatikkamiṃ.
In the same way, though the deed I did was small and trifling, by relying on that deed I have crossed beyond saṃsāra.
Cũng vậy, nghiệp mà tôi đã làm là nhỏ bé và ít ỏi. Nương vào nghiệp ấy, tôi đã vượt qua vòng luân hồi.
81.
81.
81.
‘‘Pacchime bhave sampatte, sukkamūlena codito;
Sāvatthiyaṃ pure jāto, mahāsāle suaḍḍhake.
Having arrived at my final existence, impelled by my root of merit, I was born in the city of Sāvatthī into a very wealthy great Sāla family.
Khi đạt đến kiếp sống cuối cùng, được thúc đẩy bởi căn lành, tôi đã sanh ra ở thành Sāvatthī, trong gia tộc Mahāsāla rất giàu có.
82.
82.
82.
‘‘Saddhā mātā pitā mayhaṃ, buddhassa saraṇaṃ gatā;
Ubho diṭṭhapadā ete, anuvattanti sāsanaṃ.
My mother and father were faithful; they had gone for refuge to the Buddha. Both had seen the deathless state and followed the teaching.
Cha và mẹ của tôi có đức tin, đã quy y nơi đức Phật. Cả hai vị này đã thấy được chân lý, và sống thuận theo giáo pháp.
83.
83.
83.
‘‘Bodhipapaṭikaṃ gayha, soṇṇathūpamakārayuṃ;
Sāyapātaṃ † namassanti, sakyaputtassa sammukhā.
Taking a piece of bark from the Bodhi tree, they had a golden stūpa made. In the evening and the morning, they would pay homage in the presence of the Son of the Sakyans.
Họ đã lấy vỏ cây Bồ-đề và đã làm một bảo tháp bằng vàng. Sáng và tối, họ đảnh lễ ở trước mặt của Thích tử (đức Phật).
84.
84.
84.
‘‘Uposathamhi divase, soṇṇathūpaṃ vinīharuṃ;
Buddhassa vaṇṇaṃ kittentā, tiyāmaṃ vītināmayuṃ.
On the Uposatha day, they would bring out the golden stūpa. Praising the qualities of the Buddha, they would pass the three watches of the night.
Vào ngày trai giới, họ đã mang bảo tháp vàng ra. Tán dương các phẩm hạnh của đức Phật, họ đã trải qua ba canh của đêm.
85.
85.
85.
‘‘Saha disvānahaṃ † thūpaṃ, sariṃ pulinacetiyaṃ;
Ekāsane nisīditvā, arahattamapāpuṇiṃ.
Upon seeing the stupa, I remembered the sand cetiya. Seated in a single session, I attained Arahantship.
Ngay khi vừa thấy bảo tháp, tôi đã nhớ lại tháp cát. Ngồi xuống tại một chỗ, tôi đã chứng đắc A-la-hán quả.
Dvāvīsatimaṃ bhāṇavāraṃ.
The Twenty-Second Recitation Section.
Phẩm tụng thứ hai mươi hai.
86.
86.
86.
‘‘Gavesamāno taṃ vīraṃ, dhammasenāpatiddasaṃ;
Agārā nikkhamitvāna, pabbajiṃ tassa santike.
Seeking that Hero, I saw the General of the Dhamma. Having gone out from the home, I went forth into homelessness in his presence.
Trong khi tìm kiếm bậc Anh Hùng ấy, tôi đã gặp vị Tướng quân Chánh pháp. Rời khỏi gia đình, tôi đã xuất gia ở gần bên ngài.
87.
87.
87.
‘‘Jātiyā sattavassena, arahattamapāpuṇiṃ;
Upasampādayī buddho, guṇamaññāya cakkhumā.
Being seven years of age, I attained Arahantship. The Buddha, the One with Vision, recognizing my quality, gave me the higher ordination.
Lúc bảy tuổi, tôi đã chứng đắc A-la-hán quả. Đức Phật, bậc có Thiên nhãn, sau khi biết được phẩm hạnh (của tôi) đã tế độ cho tôi.
88.
88.
88.
‘‘Dārakeneva santena, kiriyaṃ niṭṭhitaṃ mayā;
Kataṃ me karaṇīyajja, sakyaputtassa sāsane.
Though I was just a boy, the task was finished by me. Today, what had to be done has been done by me in the teaching of the Son of the Sakyans.
Dầu chỉ là một đứa trẻ, việc cần làm đã được tôi hoàn tất. Hôm nay, trong giáo pháp của Thích tử, phận sự đã được tôi thực hiện.
89.
89.
89.
‘‘Sabbaverabhayātīto, sabbasaṅgātigo † isi;
Sāvako te mahāvīra, soṇṇathūpassidaṃ phalaṃ.
Gone beyond all enmity and fear, a seer who has transcended all attachments, I am your disciple, O Great Hero. This is the fruit of the golden stūpa.
Vị ẩn sĩ đã vượt qua mọi oán thù và sợ hãi, đã vượt qua mọi chấp thủ. Thưa bậc Đại Hùng, vị ấy là đệ tử của ngài. Đây là quả báo của bảo tháp vàng.
90.
90.
90.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burnt up … I dwell free from taints.
Các phiền não đã được tôi đốt sạch... (vân vân)... tôi sống không còn lậu hoặc.
91.
91.
91.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
A good coming it was for me … the Buddha’s teaching has been done.
Sự đến của tôi thật là khéo đến... (vân vân)... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
92.
92.
92.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges … the Buddha’s teaching has been done.
Bốn Tuệ phân tích... (vân vân)... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā pulinathūpiyo thero imā gāthāyo
Thus, it is said, the venerable elder Puḷinathūpiya
Như thế, quả thật Trưởng lão Pulinaṭhūpiya những câu kệ này
Abhāsitthāti.
spoke these verses.
đã nói lên.
Pulinathūpiyattherassāpadānaṃ aṭṭhamaṃ.
The Apadāna of the Elder Puḷinathūpiya, the Eighth.
Thánh tích của Trưởng lão Pulinaṭhūpiya là phần thứ tám.