Bản dịch
THA -ap492 — Ký Sự về Trưởng Lão Sālamaṇḍapiya
Sālamaṇḍapiyattheraapadāna
BJT 5219Vào lúc ấy, tôi đã đi sâu vào rừng cây sālā. Khu ẩn cư của tôi được xây dựng khéo léo, được phủ lên bởi những bông hoa sālā, tôi cư ngụ ở khu rừng.
BJT 5220Và đức Thế Tôn Piyadassī, đấng Tự Chủ, là nhân vật cao cả. Có ước muốn độc cư, bậc Toàn Giác đã đi đến khu rừng cây sālā.
BJT 5221Khi ấy, tôi đã rời khỏi khu ẩn cư và đã đi đến khu rừng. Trong khi tìm kiếm rễ và trái cây tôi đi lang thang ở trong rừng bao la.
BJT 5222Tại nơi ấy, tôi đã nhìn thấy đấng Toàn Giác Piyadassī, bậc có danh vọng lớn lao, ngồi vững chải, thể nhập (định), đang chói sáng ở trong khu rừng lớn.
BJT 5223Tôi đã dựng bốn cây gậy và đã tạo nên mái che được làm khéo léo ở phía bên trên của đức Phật, rồi đã phủ lên bằng các bông hoa sālā.
BJT 5224Tôi đã cầm giữ mái che được phủ lên bằng bông hoa sālā trong bảy ngày. Tại đó, sau khi làm cho tâm được tịnh tín tôi đã đảnh lễ đức Phật tối thượng.
BJT 5225Vào thời điểm ấy, đức Thế Tôn đã xuất khỏi định. Trong khi nhìn với khoảng cách của cán cày, bậc Tối Thượng Nhân đã ngồi xuống.
BJT 5226Vị Thinh Văn của bậc Đạo Sư Piyadassī tên là Varuṇa cùng với một trăm ngàn vị có năng lực đã đi đến gặp đấng Hướng Đạo.
BJT 5227Và đức Thế Tôn Piyadassī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, bậc Chiến Thắng sau khi ngồi xuống ở hội chúng tỳ khưu đã để lộ nụ cười.
BJT 5228Anuruddha, vị thị giả của bậc Đạo Sư Piyadassī, đã khoác y một bên vai rồi đã hỏi bậc Đại Hiền Trí rằng:
BJT 5229“Bạch đức Thế Tôn, bậc Đạo Sư để lộ nụ cười trong khi biết được lý do, vậy nguyên nhân của việc thể hiện nụ cười của bậc Đạo Sư là gì?”
BJT 5230Ta đã nhớ lại việc làm của người trai trẻ đã cầm giữ mái che bằng bông hoa cho ta trong bảy ngày, nên ta đã để lộ nụ cười.
BJT 5231Ta không nhìn thấy khoảng không gian nào dung chứa được phước báu, và không khoảng không gian nào được như ý dầu ở thế giới chư Thiên hay nhân loại.
BJT 5232Đối với người có được nghiệp phước thiện đang sinh sống ở thế giới chư Thiên, cho đến hội chúng của người ấy sẽ được phủ lên bởi bông hoa sālā.
BJT 5233Tại đó, trong khi nghiệp phước thiện đã được hội tụ, người ấy sẽ luôn luôn vui sướng với các điệu vũ, các lời ca, và các khúc tấu nhạc của Thiên đình.
BJT 5234Cho đến hội chúng của người ấy sẽ có được hương thơm hạng nhất. Và sẽ có cơn mưa bông hoa sālā rơi xuống liền khi ấy.
BJT 5235Mệnh chung từ nơi ấy, người nam này sẽ đi đến cõi nhân loại. Thậm chí ở nơi đây cũng có mái che bằng bông hoa sālā được duy trì trong mọi thời điểm.
BJT 5236Ở nơi đây, điệu vũ và lời ca, được kết hợp với (âm thanh của) chũm chọe, sẽ thường xuyên vây quanh người này; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 5237Và khi mọc trời đang mọc lên, sẽ có cơn mưa bông hoa sālā rơi xuống. Được gắn liền với nghiệp phước thiện, (bông hoa sālā) đổ mưa vào mọi thời điểm.
BJT 5238Vào một ngàn tám trăm kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 5239Là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, (người này) sẽ biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc và sẽ Niết Bàn không còn lậu hoặc.”
BJT 5240Sẽ có mái che bông hoa sālā cho người này khi đang chứng ngộ Giáo Pháp. Trong khi người này đang được thiêu đốt ở giàn hỏa thiêu, sẽ có mái che ở tại nơi ấy.”
BJT 5241Sau khi tán dương quả thành tựu, trong khi làm hài lòng hội chúng với cơn mưa Giáo Pháp, bậc Đại Hiền Trí Piyadassī đã thuyết giảng Giáo Pháp.
BJT 5242Tôi đã cai quản Thiên quốc của chư Thiên trong ba mươi kiếp. Và tôi đã trở thành đấng Chuyển Luân Vương sáu mươi bảy lần.
BJT 5243Sau khi từ thế giới chư Thiên đi đến nơi đây, tôi nhận được sự an lạc lớn lao. Thậm chí ở nơi đây cũng sẽ có mái che bông hoa sālā trong mọi thời điểm.
BJT 5244Sau khi đã làm hài lòng bậc Đại Hiền Trí Gotama đấng cao quý dòng Sakya, sau khi từ bỏ sự hơn thua, tôi đã đạt được vị thế Bất Động.
BJT 5245Kể từ khi tôi đã cúng dường đức Phật trước đây một ngàn tám trăm kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 5246Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5247Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5248Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Sālamaṇḍapiya đã nói lên những lời kệ này như thế.
Ký sự về trưởng lão Sālamaṇḍapiya là phần thứ mười.
Phần Tóm Lược:
Tấm y may từ vải bị quăng bỏ, vị tưởng nhớ đến đức Phật, vị dâng cúng củ sen, vị tán dương trí tuệ, vị có trầm hương, vị cúng dường xá-lợi, vị tái sanh do cát, vị vượt qua, vị Dhammaruci, vị có mái che bông hoa sālālà tương tợ. Có hai trăm câu kệ và thêm vào mười chín câu nữa.
Phẩm Saṁsukūla là phẩm thứ năm mươi mốt.
sabbāsavā parikkhīṇā natthi dāni punabbhavo.So ahaṁ vicarissāmi gāmā gāmaṁ purā puraṁ,
namassamāno sambuddhaṁ dhammassa ca sudhammataṁ—Ma.gaṇanā ekasatacatunavutīti paññāyati.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
10. Sālamaṇḍapiyattheraapadānaṃ
10. The Apadāna of the Elder Sālamaṇḍapiya
10. Thiên sự của Trưởng lão Sālamaṇḍapiya
190.
190.
190.
‘‘Ajjhogāhetvā sālavanaṃ, sukato assamo mama;
Sālapupphehi sañchanno, vasāmi vipine tadā.
Having entered the sāl forest, my hermitage was well-made; covered with sāl blossoms, I dwelt in the wilderness then.
“Sau khi đi vào rừng Sāla, am thất của tôi đã được làm rất khéo. Am thất được che phủ bởi hoa Sāla, khi ấy tôi sống trong rừng.”
191.
191.
191.
‘‘Piyadassī ca bhagavā, sayambhū aggapuggalo;
Vivekakāmo sambuddho, sālavanamupāgami.
The Blessed One Piyadassī, the Self-become, the foremost of persons, the Sambuddha desiring seclusion, approached the sāl forest.
“Và đức Thế Tôn Piyadassī, bậc Tự Sanh, bậc Tối Thượng, bậc Chánh Đẳng Giác, vì ưa thích sự độc cư, đã đi đến khu rừng Sāla.”
192.
192.
192.
‘‘Assamā abhinikkhamma, pavanaṃ agamāsahaṃ;
Mūlaphalaṃ gavesanto, āhiṇḍāmi vane tadā.
Having gone out from the hermitage, I went to the forest; seeking roots and fruits, I then wandered in the forest.
“Ra khỏi am thất, tôi đã đi vào rừng. Tìm kiếm củ và quả, khi ấy tôi đi lang thang trong rừng.”
193.
193.
193.
‘‘Tatthaddasāsiṃ sambuddhaṃ, piyadassiṃ mahāyasaṃ;
Sunisinnaṃ samāpannaṃ, virocantaṃ mahāvane.
There in the great forest, I saw the Sambuddha named Piyadassī, of great fame, well-seated, having entered meditative absorption, and shining.
“Ở đó, trong khu rừng lớn, tôi đã thấy đức Chánh Đẳng Giác Piyadassī, bậc có danh tiếng lớn, đang ngồi an tọa, nhập định, tỏa sáng rực rỡ.”
194.
194.
194.
‘‘Catudaṇḍe ṭhapetvāna, buddhassa uparī ahaṃ;
Maṇḍapaṃ sukataṃ katvā, sālapupphehi chādayiṃ.
Having set up four poles above the Buddha, I made a well-made pavilion and covered it with sāl flowers.
“Dựng lên bốn cây cột, tôi đã làm một cái lều được chế tác khéo léo ở bên trên đức Phật và lợp nó bằng những bông hoa Sāla.”
195.
195.
195.
‘‘Sattāhaṃ dhārayitvāna, maṇḍapaṃ sālachāditaṃ;
Tattha cittaṃ pasādetvā, buddhaseṭṭhamavandahaṃ.
Having maintained the sāl-covered pavilion for seven days, and having made my mind confident towards him, I paid homage to the best of Buddhas.
“Trong bảy ngày, sau khi duy trì cái lều được lợp bằng hoa Sāla, với tâm ý hoan hỷ nơi Ngài, tôi đã đảnh lễ bậc Tối Thắng Giác.”
196.
196.
196.
‘‘Bhagavā tamhi samaye, vuṭṭhahitvā samādhito;
Yugamattaṃ pekkhamāno, nisīdi purisuttamo.
At that time, the Blessed One, the supreme among men, having arisen from concentration, sat down gazing a yoke’s length.
“Vào lúc ấy, đức Thế Tôn, bậc Tối Thượng Nhân, sau khi xuất khỏi thiền định, đã ngồi xuống, nhìn về phía trước một tầm ách.”
197.
197.
197.
‘‘Sāvako varuṇo nāma, piyadassissa satthuno;
Vasīsatasahassehi, upagacchi vināyakaṃ.
A disciple named Varuṇa, of the Teacher Piyadassī, approached the Leader together with one hundred thousand who have mastery.
“Vị đệ tử tên là Varuṇa của đức Đạo Sư Piyadassī, cùng với một trăm ngàn vị đã tự chủ, đã đến gần bậc Lãnh Đạo.”
198.
198.
198.
‘‘Piyadassī ca bhagavā, lokajeṭṭho narāsabho;
Bhikkhusaṅghe nisīditvā, sitaṃ pātukarī jino.
And the Blessed One Piyadassī, chief of the world, bull among men, the Victor, having sat down in the Saṅgha of bhikkhus, manifested a smile.
“Và đức Thế Tôn Piyadassī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, bậc Nhân Ngưu, sau khi ngồi xuống giữa Tăng chúng, bậc Chiến Thắng đã mỉm cười.”
199.
199.
199.
‘‘Anuruddho upaṭṭhāko, piyadassissa satthuno;
Ekaṃsaṃ cīvaraṃ katvā, apucchittha mahāmuniṃ.
Anuruddha, the attendant of the Teacher Piyadassī, having arranged his robe over one shoulder, asked the Great Sage:
“Vị thị giả Anuruddha của đức Đạo Sư Piyadassī, sau khi vắt y qua một bên vai, đã hỏi bậc Đại Mâu-ni.”
200.
200.
200.
‘‘‘Ko nu kho bhagavā hetu, sitakammassa satthuno;
Kāraṇe vijjamānamhi, satthā pātukare sitaṃ’.
‘What indeed is the reason, Blessed One, for the Teacher’s act of smiling? When a cause exists, the Teacher manifests a smile.’
“‘Bạch đức Thế Tôn, đâu là nhân, đâu là duyên khiến đức Đạo Sư mỉm cười? Khi có nguyên nhân, đức Đạo Sư mới biểu lộ nụ cười.’”
201.
201.
201.
‘‘‘Sattāhaṃ sālacchadanaṃ †, yo me dhāresi māṇavo;
Tassa kammaṃ saritvāna, sitaṃ pātukariṃ ahaṃ.
‘The youth who held a sāl-flower covering for me for seven days—remembering his deed, I manifested a smile.’
‘Chàng trai nào đã che cho ta mái che bằng hoa sala trong bảy ngày; ta, sau khi nhớ lại việc làm của người ấy, đã mỉm cười.
202.
202.
202.
‘‘‘Anokāsaṃ na passāmi, yattha † puññaṃ vipaccati;
Devaloke manusse vā, okāsova na sammati.
‘I see no circumstance wherein this merit would not ripen. Whether in the world of devas or in the world of humans, the space is insufficient for its result.’
‘Ta không thấy nơi nào không có cơ hội để phước báu trổ quả; hoặc ở cõi trời, hoặc ở cõi người, cơ hội (cho quả) cũng không đủ chỗ chứa.
203.
203.
203.
‘‘‘Devaloke vasantassa, puññakammasamaṅgino;
Yāvatā parisā tassa, sālacchannā bhavissati.
‘While he is dwelling in the world of devas, endowed with meritorious kamma, his entire retinue, as far as it extends, will be covered with sāl flowers.’
‘Khi đang sống ở cõi trời, người có đầy đủ phước nghiệp, hội chúng của vị ấy có bao nhiêu thì sẽ được che phủ bởi hoa sala.
204.
204.
204.
‘‘‘Tattha dibbehi naccehi, gītehi vāditehi ca;
Ramissati sadā santo, puññakammasamāhito.
‘There, being endowed with meritorious kamma, he will always rejoice with divine dances, songs, and instrumental music.’
‘Ở nơi ấy, người có đầy đủ phước nghiệp, là bậc hiền thiện, sẽ luôn luôn vui hưởng với các điệu vũ, các bài hát, và các nhạc cụ của chư Thiên.
205.
205.
205.
‘‘‘Yāvatā parisā tassa, gandhagandhī bhavissati;
Sālassa pupphavasso ca, pavassissati tāvade.
‘As far as his retinue extends, it will be fragrant with scents; and a rain of sāl flowers will shower down at that very moment.’
‘Hội chúng của vị ấy có bao nhiêu thì hương thơm sẽ ngào ngạt bấy nhiêu; và cơn mưa hoa sala sẽ tuôn xuống ngay lúc ấy.
206.
206.
206.
‘‘‘Tato cutoyaṃ manujo, mānusaṃ āgamissati;
Idhāpi sālacchadanaṃ, sabbakālaṃ dharissati †.
‘Having passed away from there, this person will come to the human world; here also, he will have a sāl-flower covering at all times.’
‘Người này, sau khi mệnh chung từ nơi ấy, sẽ đi đến cõi người; cũng ở nơi đây, mái che bằng hoa sala sẽ luôn luôn che cho vị ấy.
207.
207.
207.
‘‘‘Idha naccañca gītañca, sammatāḷasamāhitaṃ;
Parivāressanti maṃ niccaṃ, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
‘Here, dancing and singing, accompanied by cymbals and percussion, will always surround this person. This is the fruit of worshipping a Buddha.’
‘Ở nơi đây, các điệu vũ và các bài hát, cùng với trống, chũm chọe, phách, sẽ luôn luôn vây quanh người này. Đây là quả của việc cúng dường đức Phật.
208.
208.
208.
‘‘‘Uggacchante ca sūriye, sālavassaṃ pavassati;
Puññakammena saṃyuttaṃ, vassate sabbakālikaṃ.
‘When the sun is rising, a rain of sāl flowers will fall; connected to his meritorious deed, it will rain at all times.’
‘Và khi mặt trời mọc lên, cơn mưa hoa sala sẽ tuôn xuống; do được kết hợp với phước nghiệp, mưa sẽ tuôn xuống vào mọi lúc.
209.
209.
209.
‘‘‘Aṭṭhārase kappasate, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
‘Eighteen hundred aeons from now, born in the Okkāka clan, a Teacher named Gotama by his clan name will appear in the world.’
‘Trong một ngàn tám trăm kiếp, vị sanh ra trong dòng dõi Okkāka, có danh tánh là Gotama, bậc Đạo Sư, sẽ xuất hiện ở trên đời.
210.
210.
210.
‘‘‘Tassa dhammesu dāyādo, oraso dhammanimmito;
Sabbāsave pariññāya, nibbāyissatināsavo.
‘He will be an heir in his Dhamma, a true son created by the Dhamma. Having fully understood all the taints, he will, without taints, attain Nibbāna.’
‘Là người thừa tự trong các Pháp của vị ấy, là người con ruột do Pháp tạo ra; sau khi đã liễu tri tất cả các lậu hoặc, vị ấy sẽ nhập Niết-bàn, là người vô lậu.
211.
211.
211.
‘‘‘Dhammaṃ abhisamentassa, sālacchannaṃ bhavissati;
Citake jhāyamānassa, chadanaṃ tattha hessati’.
‘For him when he fully understands the Dhamma, there will be a sāl-covering; when he is being cremated on the pyre, that covering will be there.’
‘Đối với người đang thông suốt Chánh Pháp, sẽ có mái che bằng hoa sala; đối với người đang được thiêu trên giàn hỏa táng, mái che sẽ có ở nơi ấy’.
212.
212.
212.
‘‘Vipākaṃ kittayitvāna, piyadassī mahāmuni;
Parisāya dhammaṃ desesi, tappento dhammavuṭṭhiyā.
Having declared the result, the great sage Piyadassī taught the Dhamma to the assembly, delighting them with a rain of Dhamma.
Đức Đại ẩn sĩ Piyadassī, sau khi đã tuyên thuyết về quả báu, đã làm cho hội chúng được thỏa mãn bằng cơn mưa Pháp và đã thuyết giảng Chánh Pháp.
213.
213.
213.
‘‘Tiṃsakappāni devesu, devarajjamakārayiṃ;
Saṭṭhi ca sattakkhattuñca, cakkavattī ahosahaṃ.
For thirty aeons I exercised sovereignty among the devas; and sixty-seven times I was a wheel-turning monarch.
Trong ba mươi kiếp, ta đã trị vì ở các cõi trời; và ta đã là vua Chuyển Luân sáu mươi bảy lần.
214.
214.
214.
‘‘Devalokā idhāgantvā, labhāmi vipulaṃ sukhaṃ;
Idhāpi sālacchadanaṃ, maṇḍapassa idaṃ phalaṃ.
Having come here from the world of the devas, I obtain abundant happiness. Here too there is a sāl-covering; this is the fruit of the pavilion.
Sau khi từ cõi trời đến đây, ta nhận được sự an lạc rộng lớn; cũng ở nơi đây, có mái che bằng hoa sala. Đây là quả của cái lọng che.
215.
215.
215.
‘‘Ayaṃ pacchimako mayhaṃ, carimo vattate bhavo;
Idhāpi sālacchadanaṃ, hessati sabbakālikaṃ.
This is my last existence, the final one that is occurring. Here too a sāl-covering will be present at all times.
Đây là kiếp sống cuối cùng của ta, là kiếp sống sau rốt đang diễn ra; cũng ở nơi đây, mái che bằng hoa sala sẽ có vào mọi lúc.
216.
216.
216.
‘‘Mahāmuniṃ tosayitvā, gotamaṃ sakyapuṅgavaṃ;
Pattomhi acalaṃ ṭhānaṃ, hitvā jayaparājayaṃ.
Having gratified the Great Sage, Gotama, the bull of the Sakyans, I have attained the unshakable state, having abandoned victory and defeat.
Sau khi đã làm cho đức Đại ẩn sĩ Gotama, bậc đứng đầu dòng Sakya được hoan hỷ, sau khi đã từ bỏ sự thắng và bại, ta đã đạt đến trạng thái bất động.
217.
217.
217.
‘‘Aṭṭhārase kappasate, yaṃ buddhamabhipūjayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Eighteen hundred aeons ago, when I worshipped that Buddha, since then I have not known a bad destination; this is the fruit of worshipping the Buddha.
Trong một ngàn tám trăm kiếp, khi ta đã cúng dường đức Phật; từ đó về sau, ta không biết đến cõi khổ. Đây là quả của việc cúng dường đức Phật.
218.
218.
218.
Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burnt up… I dwell taintless.
Các phiền não của tôi đã được đốt cháy… (vân vân)… tôi sống không còn lậu hoặc.
219.
219.
219.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Truly, my coming was welcome… the Buddha’s teaching has been done.
Sự đến của tôi quả là tốt đẹp… (vân vân)… lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
220.
220.
220.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the Buddha’s teaching has been done.
Bốn Tuệ Phân Tích… (vân vân)… lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā sālamaṇḍapiyo thero imā gāthāyo
Thus indeed the Venerable Elder Sālamaṇḍapiya uttered these verses.
Quả thật, Trưởng lão Sālamaṇḍapiya đã nói lên những câu kệ này
Abhāsitthāti.
So it was spoken.
như thế ấy.
Sālamaṇḍapiyattherassāpadānaṃ dasamaṃ.
The Tenth Apadāna of the Elder Sālamaṇḍapiya.
Thiên truyện về Trưởng lão Sālamaṇḍapiya là thứ mười.
The Paṃsukūla Vagga, the Forty-Ninth.
Phẩm Paṃsukūla là thứ bốn mươi chín.
Tassuddānaṃ –
The summary:
Phần tóm lược của phẩm ấy:
Paṃsukūlaṃ buddhasaññī, bhisado ñāṇakittako;
Candanī dhātupūjī ca, pulinuppādakopi ca.
Paṃsukūla, Buddhasaññī, Bhisada, and Ñāṇakittaka; Candanī, Dhātupūjī, and also Pulinuppādaka.
Trưởng lão Paṃsukūla, Buddhasaññī, Bhisada, Ñāṇakittaka, Candanī, Dhātupūjī, và cả Pulinuppādaka.
Taraṇo dhammaruciko, sālamaṇḍapiyo tathā;
Satāni dve honti gāthā, ūnavīsatimeva ca.
Taraṇa, Dhammarucika, and Sālamaṇḍapiya as well; the verses number two hundred and nineteen.
Trưởng lão Taraṇa, Dhammarucika, và Sālamaṇḍapiya cũng vậy; có hai trăm và mười chín câu kệ.