Bản dịch
THA -ap491 — Ký Sự về Trưởng Lão Dhammaruci
9 Dhammaruciyattheraapadāna
BJT 5193Vào lúc đức Phật, đấng Chiến Thắng Dīpaṅkara đã chú nguyện cho (vị ẩn sĩ) Sumedha rằng: “Vô lượng kiếp về sau, vị này sẽ trở thành đức Phật.
BJT 5194Người mẹ sanh ra vị này sẽ có tên là Māyā. Người cha tên là Suddhodana. Vịnày sẽ là Gotama.
BJT 5195Sau khi đã ra sức nỗ lực và thực hiện hành động khó thực hành được, vị này sẽ được giác ngộ ở gốc cội cây Assattha, trở thành bậc Toàn Giác có danh vọng lớn lao.
BJT 5196Upatissa và Kolita sẽ là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả tên là Ānanda sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng này.
BJT 5197Khemā và Uppalavaṇṇā sẽlà (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Citta và luôn cảĀḷavaka sẽ là hai nam cư sĩ hàng đầu.
BJT 5198Khujjuttarā và Nandamātā sẽ là hai nữ cư sĩ hàng đầu. Cội Bồ Đề của đấng Chiến Thắng này được gọi tên là ‘Assattha’.”
BJT 5199Sau khi nghe được lời nói này của bậc Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng, chư Thiên và nhân loại, được hoan hỷ, chắp tay lên lễ bái.
BJT 5200Khi ấy, tôi đã là người trai trẻ khéo được học tập tên Megha. Tôi đã nghe được lời chú nguyện thù thắng của bậc Đại Hiền Trí đến vị Sumedha.
BJT 5201Có được niềm tin với vị Sumedha đầy lòng bi mẫn, trong khi vị anh hùng ấy đang hành hạnh xuất gia, tôi đã cùng xuất gia (với vị ấy).
BJT 5202Tôi đã thu thúc trong giới bổn Pātimokkhavà ở năm giác quan, có sự nuôi mạng trong sạch, có niệm, là vị anh hùng, là người thực hành lời dạy của đấng Chiến Thắng.
BJT 5203Trong khi đang an trú như thế, do một người bạn xấu xa nào đó tôi bị xúi giục vào hành vi sai trái và đã đánh mất đạo lộ tốt đẹp.
BJT 5204Là người bị tác động bởi sự suy tầm, tôi đã xa lìa lời giáo huấn. Sau đó vì người bạn tồi ấy, tôi đã phạm vào việc giết chết người mẹ.
BJT 5205Tôi đã thực hiện nghiệp vô gián, với tâm ý xấu xa tôi đã giết chết (người mẹ). Từ nơi ấy chết đi, tôi đã đi đến đại địa ngục Avīci vô cùng khiếp đảm.
BJT 5206Trong khi đang ở chốn đọa đày, bị khổ sở, tôi đã chịu đựng dài lâu. Tôi đã không nhìn thấy vị anh hùng Sumedha bậc cao quý của loài người nữa.
BJT 5207Trong kiếp này, tôi đã là loài cá khổng lồ ở biển cả. Sau khi nhìn thấy con thuyền ở biển khơi, tôi đã đến gần mục tiêu của việc kiếm mồi.
BJT 5208Sau khi nhìn thấy tôi, các người thương buôn kinh sợ đã tưởng nhớ đến đức Phật tối thượng. Tôi đã nghe tiếng kêu lớn “Gotama” đã được thốt lên bởi những người ấy.
BJT 5209Sau khi nhớ lại sự hiểu biết trước đây, từ nơi ấy tôi đã mệnh chung. Tôi đã được sanh ra trong gia đình sung túc dòng dõi Bà-la-môn ở thành Sāvatthī.
BJT 5210Có tên là Dhammaruci, tôi đã là người ghê tởm tất cả các điều ác. Vào lúc bảy tuổi tính từ khi sanh, tôi đã nhìn thấy bậc Quang Đăng của thế gian.
BJT 5211Tôi đã đi đến tu viện Jetavana to lớn và đã xuất gia vào đời sống không gia đình. Tôi đã đi đến (nương nhờ) đức Phật ba lần vào ban đêm và ban ngày.
BJT 5212Khi ấy, bậc Hiền Trí đã nhìn thấy và đã nói với tôi rằng: “Này Dhammaruci, lâu thật.” Do đó, tôi đã nói với đức Phật về sự việc quá khứ đã xảy ra:
BJT 5213“Thật là lâu lắm, hôm nay con quả nhiên được nhìn thấy hình dáng xinh đẹp của Ngài, thân thể không gì sánh bằng, có một trăm phước tướng, là vật làm duyên đưa đến Niết Bàn trước đây.
BJT 5214Bạch đấng Đại Hiền Trí, bóng tối đã được Ngài tiêu diệt lâu lắm rồi. Dòng sông (ái dục) đã được làm cho khô cạn nhờ vào sự hộ trì tốt đẹp. Sự ô nhiễm đã được làm trong sạch lâu lắm rồi. Con mắt đã có được cấu tạo bằng trí tuệ.
BJT 5215Bạch đức Gotama, con được gần gũi với Ngài trong thời gian dài, con đã không bị tiêu hoại lần nữa trong khoảng thời gian dài. Hôm nay con được hội tụ với Ngài lần nữa bởi vì những việc đã làm không bị hoại diệt.”
BJT 5216Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5217Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5218Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Dhammaruci đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Dhammaruci là phần thứ chín.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
9. Dhammaruciyattheraapadānaṃ
9. The Apadāna of the Elder Dhammaruci
9. Trưởng Lão Sự Kệ của trưởng lão Dhammaruciya
164.
164.
164.
‘‘Yadā dīpaṅkaro buddho, sumedhaṃ byākarī jino;
‘Aparimeyye ito kappe, ayaṃ buddho bhavissati.
When the Buddha Dīpaṅkara, the Victor, gave the prophecy concerning Sumedha: ‘In an immeasurable eon from now, this one will become a Buddha.’
“Khi đức Phật Dīpaṅkara, đấng Toàn Thắng, đã thọ ký cho vị (ẩn sĩ) Sumedha: ‘Trong một kiếp không thể đếm được kể từ đây, vị này sẽ trở thành một vị Phật.’”
165.
165.
165.
‘‘‘Imassa janikā mātā, māyā nāma bhavissati;
Pitā suddhodano nāma, ayaṃ hessati gotamo.
‘His birth-mother will be named Māyā; his father will be named Suddhodana. This one will be Gotama.
“‘Mẹ của vị này, người đã sinh ra ngài, sẽ có tên là Māyā; cha của ngài sẽ có tên là Suddhodana. Vị này sẽ là Gotama.’”
166.
166.
166.
‘‘‘Padhānaṃ padahitvāna, katvā dukkarakārikaṃ;
Assatthamūle sambuddho, bujjhissati mahāyaso.
‘Having exerted himself in the striving and performed the difficult practice, the one of great fame will awaken to perfect enlightenment at the foot of the Assattha tree.
“‘Sau khi đã nỗ lực tinh tấn và thực hành khổ hạnh, dưới gốc cây Assattha, ngài sẽ giác ngộ, trở thành bậc Chánh Đẳng Giác, bậc Đại Danh Vọng.’”
167.
167.
167.
‘‘‘Upatisso kolito ca, aggā hessanti sāvakā;
Ānando nāma nāmena †, upaṭṭhissatimaṃ jinaṃ.
‘Upatissa and Kolita will be the chief disciples; one named Ānanda will attend upon this Victor.
“‘Upatissa và Kolita sẽ là các vị Thượng Thủ Thinh Văn. Một vị tên là Ānanda sẽ là thị giả của đấng Toàn Thắng này.’”
168.
168.
168.
‘‘‘Khemā uppalavaṇṇā ca, aggā hessanti sāvikā;
Citto āḷavako ceva, aggā hessantupāsakā.
‘Khemā and Uppalavaṇṇā will be the chief female disciples; Citta and Āḷavaka will be the chief male lay followers.
“‘Khemā và Uppalavaṇṇā sẽ là các vị Thượng Thủ Nữ Thinh Văn. Citta và Āḷavaka sẽ là các vị Thượng Thủ Nam Cư Sĩ.’”
169.
169.
169.
‘‘‘Khujjuttarā nandamātā, aggā hessantupāsikā;
Bodhi imassa vīrassa, assatthoti pavuccati’.
‘Khujjuttarā and Nandamātā will be the chief female lay followers; the Bodhi tree of this hero is called the Assattha.’
“‘Khujjuttarā và Nandamātā sẽ là các vị Thượng Thủ Nữ Cư Sĩ. Cây Bồ Đề của bậc Dũng Mãnh này sẽ được gọi là Assattha’.”
170.
170.
170.
‘‘Idaṃ sutvāna vacanaṃ, asamassa mahesino;
Āmoditā naramarū, namassanti katañjalī.
Having heard this utterance of the unequalled Great Sage, humans and gods, rejoicing, with palms joined in reverence, pay homage.
“Sau khi nghe lời này của bậc Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng, người và trời vui mừng, chắp tay cung kính đảnh lễ.”
171.
171.
171.
‘‘Tadāhaṃ māṇavo āsiṃ, megho nāma susikkhito;
Sutvā byākaraṇaṃ seṭṭhaṃ, sumedhassa mahāmune.
O Great Sage, at that time I was a well-trained young man named Megha; having heard the excellent prophecy concerning Sumedha,
“Khi ấy, tôi là một thanh niên tên là Megha, được giáo dục tốt. Sau khi nghe lời thọ ký cao quý về bậc Đại Ẩn Sĩ Sumedha,”
172.
172.
172.
‘‘Saṃvisaṭṭho bhavitvāna, sumedhe karuṇāsaye †;
Pabbajantañca taṃ vīraṃ, sahāva anupabbajiṃ.
Having become intimate with Sumedha, the abode of compassion, when that hero went forth, I too went forth along with him.
“Tôi đã trở nên thân thiết với Sumedha, người là nơi nương náu của lòng bi mẫn; và khi bậc dũng mãnh ấy xuất gia, tôi cũng đã xuất gia theo ngài.”
173.
173.
173.
‘‘Saṃvuto pātimokkhasmiṃ, indriyesu ca pañcasu;
Suddhājīvo sato vīro, jinasāsanakārako.
Restrained in the Pātimokkha and in the five faculties, of pure livelihood, mindful, and energetic, I was a doer of the Victor's teaching.
“Tôi đã thu thúc trong giới Pātimokkha và trong năm giác quan; có mạng sống trong sạch, chánh niệm, tinh tấn, và là người thực hành lời dạy của đấng Toàn Thắng.”
174.
174.
174.
‘‘Evaṃ viharamānohaṃ, pāpamittena kenaci;
Niyojito anācāre, sumaggā paridhaṃsito.
While I was living thus, being incited to misconduct by a certain evil friend, I was diverted from the good path.
“Trong khi đang sống như vậy, tôi đã bị một người bạn xấu nào đó xúi giục vào hành vi sai trái, và đã bị trượt ngã khỏi con đường tốt đẹp.”
175.
175.
175.
‘‘Vitakkavasiko hutvā, sāsanato apakkamiṃ;
Pacchā tena kumittena, payutto mātughātanaṃ.
Having come under the sway of evil thoughts, I departed from the teaching. Later, urged on by that bad friend, I committed the killing of my mother.
“Do bị tư tưởng xấu ác chi phối, con đã rời khỏi giáo pháp; Về sau, do người bạn xấu kia xúi giục, con đã phạm tội giết mẹ.”
176.
176.
176.
‘‘Akariṃ ānantariyaṃ †, ghātayiṃ duṭṭhamānaso;
Tato cuto mahāvīciṃ, upapanno sudāruṇaṃ.
I committed an act with immediate retribution; with a malicious mind, I killed. Passing away from there, I was reborn in the exceedingly terrible great Avīci.
“Con đã phạm tội vô gián, với tâm địa độc ác, con đã giết (mẹ). Từ đó mệnh chung, con đã sanh vào địa ngục Đại A-tỳ vô cùng khủng khiếp.”
177.
177.
177.
‘‘Vinipātagato santo, saṃsariṃ dukkhito ciraṃ;
Na puno addasaṃ vīraṃ, sumedhaṃ narapuṅgavaṃ.
Having fallen to the plane of misery, I wandered for a long time, afflicted with suffering. I did not see again the hero, the bull amongst men, Sumedha.
“Bị rơi vào đọa xứ, con đã đau khổ luân hồi trong thời gian dài. Con đã không còn gặp lại bậc Anh Hùng, vị đạo sĩ Sumedha, bậc Nhân Ngưu.”
178.
178.
178.
‘‘Asmiṃ kappe samuddamhi, maccho āsiṃ timiṅgalo;
Disvāhaṃ sāgare nāvaṃ, gocaratthamupāgamiṃ.
In this aeon I was a timiṅgala fish in the ocean. Seeing a ship on the sea, I approached it for the sake of food.
“Trong kiếp này, ở trong biển cả, con đã là loài cá Timiṅgala. Thấy chiếc thuyền trên biển, con đã đến gần để tìm mồi.”
179.
179.
179.
‘‘Disvā maṃ vāṇijā bhītā, buddhaseṭṭhamanussaruṃ;
Gotamoti mahāghosaṃ, sutvā tehi udīritaṃ.
Seeing me, the frightened merchants recollected the supreme Buddha. Having heard the great cry ‘Gotama!’ uttered by them,
“Các thương nhân thấy con thì hoảng sợ, liền tưởng niệm đến bậc Tối Thắng Giác. Nghe tiếng hô lớn ‘Gotama’ do họ thốt lên.”
180.
180.
180.
‘‘Pubbasaññaṃ saritvāna, tato kālaṅkato ahaṃ;
Sāvatthiyaṃ kule iddhe, jāto brāhmaṇajātiyaṃ.
Recollecting a past memory, I then died. I was reborn in Sāvatthī into a prosperous brahmin family.
“Nhớ lại tiền tướng, sau khi mệnh chung từ đó, con đã sanh vào dòng dõi Bà-la-môn, trong một gia đình giàu có ở thành Sāvatthī.”
181.
181.
181.
‘‘Āsiṃ dhammaruci nāma, sabbapāpajigucchako;
Disvāhaṃ lokapajjotaṃ, jātiyā sattavassiko.
I was named Dhammaruci, one who loathed all evil. When I was seven years old by birth, I saw the Light of the World.
“Con tên là Dhammaruci, người ghê tởm mọi điều ác. Khi được bảy tuổi, con đã nhìn thấy ngọn đèn của thế gian.”
182.
182.
182.
‘‘Mahājetavanaṃ gantvā, pabbajiṃ anagāriyaṃ;
Upemi buddhaṃ tikkhattuṃ, rattiyā divasassa ca.
Going to the great Jeta’s Grove, I went forth into the homeless life. Three times during the night and the day I approach the Buddha.
“Đến đại tinh xá Jetavana, con đã xuất gia sống đời không nhà. Con đến yết kiến đức Phật ba lần, cả ban đêm lẫn ban ngày.”
183.
183.
183.
‘‘Tadā disvā muni āha, ciraṃ dhammarucīti maṃ;
Tatohaṃ avacaṃ buddhaṃ, pubbakammapabhāvitaṃ.
Then the Sage saw me and said: ‘Dhammaruci, it has been a long time!’ Then I, influenced by past kamma, said to the Buddha:
“Khi ấy, bậc Mâu-ni thấy con liền nói: ‘Này Dhammaruci, đã lâu lắm rồi’. Bấy giờ, con bạch với đức Phật lời nói được tác động bởi nghiệp quá khứ.”
184.
184.
184.
‘‘Suciraṃ satapuññalakkhaṇaṃ, patipubbena visuddhapaccayaṃ;
Ahamajjasupekkhanaṃ vata, tava passāmi nirupamaṃ viggahaṃ †.
For a very long time I have not seen you, who possess the marks of a hundred merits, with pure causes from previous deeds. Today, indeed, I see your incomparable form. That sight is a good sight.
“Đã rất lâu rồi (con không được thấy Ngài), bậc có trăm tướng phước, bậc có nhân duyên thanh tịnh từ trước. Hôm nay, thật may mắn thay, con được thấy thân tướng vô song của Ngài. Việc được thấy ấy thật là một điều thiện kiến.”
185.
185.
185.
‘‘Suciraṃ vihatattamo mayā, sucirakkhena nadī visositā;
Suciraṃ amalaṃ visodhitaṃ, nayanaṃ ñāṇamayaṃ mahāmune.
O Great Sage, for a very long time the darkness has been dispelled by me; with well-guarded virtue the river has been dried up. For a very long time the stainless, wisdom-made eye has been purified by me.
“Bởi con, bóng tối vô minh đã được xua tan từ lâu; bởi sự gìn giữ lâu dài, dòng sông (ái dục) đã được làm cho khô cạn. Hỡi bậc Đại Mâu-ni, con mắt trí tuệ không tỳ vết đã được thanh lọc từ lâu.”
186.
186.
186.
‘‘Cirakālasamaṅgito † tayā, avinaṭṭho punarantaraṃ ciraṃ;
Punarajjasamāgato tayā, na hi nassanti katāni gotama.
I was associated with you for a long time, and that was not lost. After a long interval, today I am reunited with you. Indeed, O Gotama, deeds that are done do not perish.
“Con đã được hội ngộ cùng Ngài trong một thời gian dài, (sự liên kết ấy) không bị mất đi, dù lại xa cách một thời gian dài. Hôm nay, con lại được hội ngộ cùng Ngài. Hỡi Gotama, các hành vi đã tạo tác quả thật không bị tiêu mất.”
187.
187.
187.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burnt up… I dwell without taints.
“Các phiền não của tôi đã được đốt cháy… (vân vân)… tôi sống không còn lậu hoặc.”
188.
188.
188.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Indeed, my coming was a good coming… the Buddha’s teaching has been done.
“Sự đến của tôi thật là thiện lai… (vân vân)… giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.”
189.
189.
189.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the Buddha’s teaching has been done.
“Bốn Tuệ Phân Tích… (vân vân)… giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā dhammaruciyo thero imā gāthāyo
Thus indeed the Venerable Elder Dhammaruci these verses
Như vậy, quả thật Trưởng lão Dhammaruci đã nói những câu kệ này.
Abhāsitthāti.
recited.
Đã nói lên như vậy.
Dhammaruciyattherassāpadānaṃ navamaṃ.
The ninth Apadāna of the Elder Dhammaruci is concluded.
Thiên sự của Trưởng lão Dhammaruci, phẩm thứ chín.