Bản dịch
THA -ap489 — Ký Sự về Trưởng Lão Pulinuppādaka
7 Pulinuppādakattheraapadāna
BJT 5140Ở ngọn núi Hi-mã-lạp, (tôi là) vị đạo sĩ khổ hạnh tên Devaḷa. Con đường kinh hành của tôi ở tại nơi ấy đã được tạo nên bởi các vị phi nhân.
BJT 5141Lúc bấy giờ, (tôi) là vị quấn búi tóc rối mang túi đựng nước, trong khi tầm cầu mục đích tối thượng, tôi đã rời khỏi khu rừng bao la.
BJT 5142Khi ấy, tám mươi bốn ngàn người đệ tử đã phục vụ tôi. Được sanh ra theo nghiệp của mình, các vị sống ở trong khu rừng bao la.
BJT 5143Sau khi rời khỏi khu ẩn cư, tôi đã tạo nên ngôi bảo tháp bằng cát. Tôi đã gom góp các bông hoa các loại và đã cúng dường ngôi bảo tháp ấy.
BJT 5144Ở tại nơi ấy, sau khi làm cho tâm được tịnh tính, tôi đi vào khu ẩn cư. Tất cả các người đệ tử đã tụ hội lại và đã hỏi tôi về sự việc này:
BJT 5145“Chúng tôi cũng muốn biết ngài sẽ lễ bái vị Thiên thần nào ở ngôi bảo tháp đã được xây dựng bằng cát. Được hỏi, xin ngài hãy giải thích cho chúng tôi.”
BJT 5146“Các đấng Hữu Nhãn có danh vọng lớn lao đã được xác định rõ ở trong câu chú thuật của chúng ta. Đương nhiên, ta lễ bái các vị Phật tối thượng có danh vọng lớn lao ấy.”
BJT 5147“Các bậc Đại Hùng, các đấng Toàn Tri, các vị Lãnh Đạo Thế Gian ấy là như thế nào? Màu da thế nào? Giới hạnh thế nào? Các vị có danh vọng lớn lao ấy là như thế nào?”
BJT 5148“Chư Phật có ba mươi hai tướng mạo, và còn có bốn mươi cái răng. Với lông mi dài như của bò cái tơ, các con mắt của các vị ấy trông giống như trái cam thảo rừng.
BJT 5149Và trong khi bước đi, chư Phật ấy chỉ nhìn với khoảng cách của cán cày. Đầu gối của các vị ấy không phát tiếng, âm thanh của các khớp không nghe được.
BJT 5150Và trong khi bước đi, các đấng Thiện Thệ bước đi đều nhấc lên bàn chân phải trước tiên; điều này là trạng thái tự nhiên của chư Phật.
BJT 5151Và chư Phật ấy không bị hãi sợ tương tợ như con sư tử vua của loài thú. Các vị chẳng bao giờ ca tụng bản thân và không khinh miệt các hạng chúng sanh.
BJT 5152Được thoát khỏi sự kiêu ngạo và chê bai, là bình đẳng đối với tất cả sanh linh, chư Phật là những vị không ca tụng chính mình; điều này là trạng thái tự nhiên của chư Phật.
BJT 5153Và trong khi được sanh ra, chư Phật Toàn Giác ấy thị hiện ánh sáng và làm toàn thể trái đất này rung chuyển theo sáu cách.
BJT 5154Và chư vị này nhìn thấy địa ngục, khi ấy địa ngục được tiêu diệt, có đám mây lớn đổ mưa; điều này là trạng thái tự nhiên của chư Phật.
BJT 5155Các bậc Long Tượng ấy là như thế, và có danh vọng lớn lao không thể sánh bằng, không bị vượt trội về thể hình, các đấng Như Lai là vô lượng.”
BJT 5156Tất cả các người đệ tử đã tùy hỷ những lời nói của tôi với sự kính trọng. Và họ đã thực hành theo đúng như thế, tùy theo sức mạnh, tùy theo năng lực.
BJT 5157Trong khi tin tưởng lời nói của tôi, những đệ tử có sự mong mỏi về nghiệp của mình tôn vinh (ngôi bảo tháp) cát với tâm ý hướng về bản thể đức Phật.
BJT 5158Vào lúc bấy giờ, vị Thiên tử có danh vọng lớn lao sau khi mệnh chung ở cõi trời Đẩu Suấtđã sanh vào bụng mẹ, mười ngàn thế giới đã rung động.
BJT 5159Tôi đã đứng ở đường kinh hành không xa khu ẩn cư. Tất cả các đệ tử đã tụ tập lại và đã đi đến ở bên tôi (hỏi rằng):
BJT 5160“Trái đất gầm thét như loài bò mộng, rống lên như loài sư tử, khuấy động như loài cá sấu, sẽ có hậu quả gì đây?”
BJT 5161“Đấng Toàn Giác mà ta tán dương lúc ở gần ngôi bảo tháp bằng cát, giờ đây đức Thế Tôn bậc Đạo Sư ấy đã nhập vào bụng mẹ.”
BJT 5162Sau khi thực hiện việc giảng pháp cho họ và tán dương bậc Đại Hiền Trí, tôi đã giải tán các đệ tử của mình rồi đã xếp vào thế kiết già.
BJT 5163Và sức lực của tôi quả nhiên đã cạn kiệt, tôi đã bị bệnh một cách trầm trọng. Tôi đã tưởng nhớ đến đức Phật tối thượng và đã mệnh chung ở tại nơi ấy.
BJT 5164Khi ấy, tất cả các người đệ tử đã tụ hội lại và đã thực hiện giàn hỏa thiêu. Và sau khi cầm lấy thi thể của tôi họ đã đặt lên giàn hỏa thiêu.
BJT 5165Các vị ấy đã tụ hội lại, vây quanh giàn hỏa thiêu, và đã chắp tay lên ở đầu. Bị ưu phiền bởi mũi tên sầu muộn, các vị ấy đã khóc rống lên.
BJT 5166Trong khi các vị ấy đang than vãn, tôi đã đi đến gần giàn hỏa thiêu (nói rằng): “Này các bậc trí tuệ, ta là thầy của các ngươi, các ngươi chớ có sầu muộn.
BJT 5167Các ngươi hãy nên nỗ lực cho lợi ích của mình đêm ngày không biếng nhác. Các ngươi chớ trở nên xao lãng, thời khắc của các ngươi đã được xếp đặt.”
BJT 5168Sau khi chỉ dạy các đệ tử của mình, tôi đã trở lại thế giới chư Thiên. Và tôi đã sướng vui ở thế giới chư Thiên mười tám kiếp.
BJT 5169Và tôi đã trở thành đấng Chuyển Luân Vương năm trăm lần, và đã cai quản Thiên quốc hàng trăm lần.
BJT 5170Trong những kiếp còn lại, tôi đã luân hồi xen lẫn (ở cõi trời và cõi người), tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường cát.
BJT 5171Giống như vào tháng Komudī, có nhiều giống cây trổ hoa. Tương tợ y như thế, nhờ bậc Đại Ẩn Sĩ tôi cũng được trổ hoa vào thời điểm.
BJT 5172Chính sự tinh tấn là có khả năng tiến hành các phận sự, là điều kiện đưa đến sự an ổn khỏi các điều ràng buộc. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5173(Kể từ khi) tôi đã tán dương đức Phật trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc tán dương.
BJT 5174Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5175Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5176Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Pulinuppādaka đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Pulinuppādaka là phần thứ bảy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
7. Pulinuppādakattheraapadānaṃ
7. The Apadāna of the Elder Pulinuppādaka
7. Thiên Thạnh Nhân Ký Sự về Trưởng lão Pulinuppādaka
111.
111.
111.
‘‘Pabbate himavantamhi, devalo nāma tāpaso;
Tattha me caṅkamo āsi, amanussehi māpito.
“In the Himavanta mountain, I was an ascetic named Devala; there was my walking path, created by non-human beings.”
“Ở trên núi Himavanta, tôi là một đạo sĩ tên là Devala. Ở nơi ấy, có con đường kinh hành của tôi, được tạo ra bởi các phi nhân.”
112.
112.
112.
‘‘Jaṭābhārena † bharito, kamaṇḍaludharo sadā;
Uttamatthaṃ gavesanto, vipinā nikkhamiṃ tadā.
“Burdened by the weight of matted hair, always carrying a water pot, seeking the highest benefit, I then went forth from the forest.”
“Mang gánh nặng là búi tóc bện, luôn mang theo bình nước, trong khi tìm cầu mục đích tối thượng, khi ấy tôi đã đi ra khỏi khu rừng.”
113.
113.
113.
‘‘Cullāsītisahassāni, sissā mayhaṃ upaṭṭhahuṃ;
Sakakammābhipasutā, vasanti vipine tadā.
“Eighty-four thousand disciples attended upon me; devoted to their own duties, they dwelt in the forest at that time.”
“Tám mươi bốn ngàn đệ tử đã hầu hạ tôi. Khi ấy, họ sống trong rừng, chuyên tâm vào công việc của riêng mình.”
114.
114.
114.
‘‘Assamā abhinikkhamma, akaṃ pulinacetiyaṃ;
Nānāpupphaṃ samānetvā, taṃ cetiyamapūjayiṃ.
“Having gone forth from the hermitage, I made a sand cetiya. Having brought together various flowers, I honored that cetiya.”
“Sau khi đi ra khỏi am thất, tôi đã làm một bảo tháp bằng cát. Sau khi thu thập nhiều loại hoa khác nhau, tôi đã cúng dường đến bảo tháp ấy.”
115.
115.
115.
‘‘Tattha cittaṃ pasādetvā, assamaṃ pavisāmahaṃ;
Sabbe sissā samāgantvā, etamatthaṃ pucchiṃsu maṃ †.
“Having made my mind serene there, I entered the hermitage. All the disciples, having come together, asked me about this matter.”
“Ở nơi ấy, sau khi làm cho tâm ý trong sạch, tôi đi vào am thất. Tất cả các đệ tử đã cùng nhau đến và hỏi tôi về vấn đề này.”
116.
116.
116.
‘‘‘Pulinena kato thūpo †, yaṃ tvaṃ deva † massati;
Mayampi ñātumicchāma, puṭṭho ācikkha no tuvaṃ’.
“‘A stūpa has been made with sand, which you, O ascetic, venerate. We too wish to know. Having been asked, please tell us.’”
“‘Thưa ngài, bảo tháp được làm bằng cát mà ngài đang đảnh lễ kia, chúng con cũng muốn được biết. Sau khi được hỏi, xin ngài hãy nói cho chúng con.’”
117.
117.
117.
‘‘‘Niddiṭṭhā nu † mantapade, cakkhumanto mahāyasā;
Te kho ahaṃ namassāmi, buddhaseṭṭhe mahāyase’.
“‘Are not the Possessors of the Eye, of great fame, pointed out in the sacred verses? Indeed, I venerate them, the excellent Buddhas of great renown.’”
“‘Chẳng phải các bậc có Năm Mắt, có danh tiếng lớn đã được chỉ dạy trong các câu thần chú đó sao? Quả thật, ta đang đảnh lễ các vị Phật tối thắng, có danh tiếng lớn ấy.’”
118.
118.
118.
‘‘‘Kīdisā te mahāvīrā, sabbaññū lokanāyakā;
Kathaṃvaṇṇā kathaṃsīlā, kīdisā te mahāyasā’.
“‘O great hero, what are those omniscient world-leaders like? Of what quality are they, of what conduct? What are they like, those of great fame?’”
“‘Thưa bậc Đại Hùng, các bậc Lãnh Đạo Thế Gian, bậc Toàn Tri ấy như thế nào? Các ngài có phẩm chất ra sao, có giới hạnh thế nào? Các bậc có danh tiếng lớn ấy như thế nào?’”
119.
119.
119.
‘‘‘Bāttiṃsalakkhaṇā buddhā, cattālīsadijāpi ca;
Nettā gopakhumā tesaṃ, jiñjukā phalasannibhā.
“‘The Buddhas possess the thirty-two marks and also have forty teeth. Their eyes have eyelashes like a calf's and resemble the jiñjuka fruit.’”
“‘Các đức Phật có ba mươi hai tướng tốt, và cũng có bốn mươi chiếc răng. Mắt của các ngài giống như mắt bò tơ, tương tự như trái jiñjukā.’”
120.
120.
120.
‘‘‘Gacchamānā ca te buddhā, yugamattañca pekkhare;
Na tesaṃ jāṇu nadati, sandhisaddo na suyyati.
“‘And when those Buddhas walk, they look ahead a yoke’s length. Their knees make no sound; the sound of their joints is not heard.’”
“‘Và khi các đức Phật ấy đi, các ngài nhìn trong khoảng một tầm ách. Đầu gối của các ngài không phát ra tiếng, tiếng các khớp xương không được nghe thấy.’”
121.
121.
121.
‘‘‘Gacchamānā ca sugatā, uddharantāva gacchare;
Paṭhamaṃ dakkhiṇaṃ pādaṃ, buddhānaṃ esa dhammatā.
“‘And when the Well-Farers walk, they proceed lifting the right foot first. This is the nature of the Buddhas.’”
“‘Và khi các bậc Thiện Thệ đi, các ngài đi trong khi nhấc lên trước tiên là bàn chân phải. Đây là bản tánh của các đức Phật.’”
122.
122.
122.
‘‘‘Asambhītā ca te buddhā, migarājāva kesarī;
Nevukkaṃsenti attānaṃ, no ca vambhenti pāṇinaṃ.
“‘And those Buddhas are fearless, like a maned lion, the king of beasts. They do not exalt themselves, nor do they disparage beings.’”
“‘Và các đức Phật ấy không sợ hãi, giống như sư tử, vua của các loài thú. Các ngài không tán dương bản thân, cũng không khinh miệt chúng sanh.’”
123.
123.
123.
‘‘‘Mānāvamānato muttā, samā sabbesu pāṇisu;
Anattukkaṃsakā buddhā, buddhānaṃ esa dhammatā.
“‘Freed from honor and dishonor, impartial towards all beings, the Buddhas do not exalt themselves. This is the nature of the Buddhas.’”
Các đức Phật đã giải thoát khỏi kiêu mạn và khinh mạn, bình đẳng đối với tất cả chúng sanh; các đức Phật không tự tán thán mình, đây là pháp tánh của các đức Phật.
124.
124.
124.
‘‘‘Uppajjantā ca sambuddhā, ālokaṃ dassayanti te;
Chappakāraṃ pakampenti, kevalaṃ vasudhaṃ imaṃ.
“‘And when the Perfectly Enlightened Ones arise, they reveal a light. They cause this entire earth to quake in six ways.’”
Và khi các đấng Chánh Đẳng Giác xuất hiện, các Ngài biểu thị ánh sáng; các Ngài làm rung chuyển toàn bộ quả đất này theo sáu cách.
125.
125.
125.
‘‘‘Passanti nirayañcete, nibbāti nirayo tadā;
Pavassati mahāmegho, buddhānaṃ esa dhammatā.
“‘And if they look upon a hell, then that hell is extinguished. A great cloud rains down. This is the nature of the Buddhas.’”
Và nếu các Ngài nhìn đến địa ngục, khi ấy địa ngục được dập tắt; đám mây lớn đổ mưa, đây là pháp tánh của các đức Phật.
126.
126.
126.
‘‘‘Īdisā te mahānāgā, atulā ca † mahāyasā;
Vaṇṇato anatikkantā, appameyyā tathāgatā’.
“‘Such are those great beings, incomparable and of great fame. Unsurpassed in virtue, immeasurable are the Tathāgatas.’”
Các bậc Đại Long (Phật) ấy là như vậy, không thể so sánh được và có danh tiếng lớn; về phẩm hạnh, các Ngài không thể bị vượt qua, các đấng Như Lai là không thể đo lường được.
127.
127.
127.
‘‘‘Anumodiṃsu me vākyaṃ, sabbe sissā sagāravā;
Tathā ca paṭipajjiṃsu, yathāsatti yathābalaṃ’.
“All my disciples respectfully rejoiced in my words, and they practiced accordingly, in line with their ability and strength.”
Tất cả các đệ tử có lòng tôn kính đã hoan hỷ lời nói của tôi; và họ đã thực hành như vậy, tùy theo khả năng, tùy theo sức lực.
128.
128.
128.
‘‘Paṭipūjenti pulinaṃ, sakakammābhilāsino;
Saddahantā mama vākyaṃ, buddhasakkatamānasā †.
“Aspiring for their own wholesome kamma, having faith in my words, and with minds reverential toward the Buddha, they again paid homage to the sand stūpa.”
Những vị mong muốn thiện nghiệp của mình, tin tưởng lời nói của tôi, có tâm tôn kính đức Phật, đã cúng dường lại bảo tháp bằng cát.
129.
129.
129.
‘‘Tadā cavitvā tusitā, devaputto mahāyaso;
Uppajji mātukucchimhi, dasasahassi kampatha.
“Then, having passed away from the Tusita heaven, the deva’s son of great renown arose in his mother’s womb, and the ten-thousand-fold world system quaked.”
Khi ấy, mệnh chung từ cõi trời Tusita, vị thiên tử có danh tiếng lớn đã sanh vào lòng mẹ; mười ngàn thế giới đã rung chuyển.
130.
130.
130.
‘‘Assamassāvidūramhi, caṅkamamhi ṭhito ahaṃ;
Sabbe sissā samāgantvā, āgacchuṃ mama santike.
“I was standing on the walking path not far from the hermitage. All my disciples gathered together and came into my presence.”
Tôi đang đứng trên đường kinh hành, ở nơi không xa tịnh xá; tất cả các đệ tử đã tụ họp lại, đã đến gần tôi.
131.
131.
131.
‘‘Usabhova mahī nadati, migarājāva kūjati;
Susumārova † saḷati, kiṃ vipāko bhavissati.
“‘The earth bellows like a bull, it roars like the king of beasts, it cries like a crocodile. What will be the result of this?’”
Mặt đất rống lên như bò đực, gầm lên như vua sư tử, kêu lên như cá sấu. Quả báo gì sẽ xảy ra?
132.
132.
132.
‘‘Yaṃ pakittemi sambuddhaṃ, sikatāthūpasantike;
So dāni bhagavā satthā, mātukucchimupāgami.
The Perfectly Enlightened One whom I praised by the sand stūpa—that Blessed One, the Teacher, has now entered his mother’s womb.
Vị Chánh Đẳng Giác mà tôi đã tán thán ở gần bảo tháp bằng cát, vị Thế Tôn, bậc Đạo Sư ấy, bây giờ đã đi vào lòng mẹ.
133.
133.
133.
‘‘Tesaṃ dhammakathaṃ vatvā, kittayitvā mahāmuniṃ;
Uyyojetvā sake sisse, pallaṅkamābhujiṃ ahaṃ.
Having given them a talk on the Dhamma and extolled the Great Sage, I dismissed my own disciples and sat down with my legs crossed.
Sau khi thuyết pháp cho họ, tán thán bậc Đại Mâu Ni, và cho các đệ tử của mình đi, tôi đã ngồi kiết già.
134.
134.
134.
‘‘Balañca vata me khīṇaṃ, byādhinā † paramena taṃ;
Buddhaseṭṭhaṃ saritvāna, tattha kālaṅkato † ahaṃ.
Indeed, my strength was exhausted by that terrible illness. Remembering the Supreme Buddha, I passed away right there.
Quả thật, sức lực của tôi đã cạn kiệt, do cơn bệnh nặng nề ấy; sau khi niệm tưởng đến bậc Phật Tối Thượng, tôi đã mệnh chung tại nơi đó.
135.
135.
135.
‘‘Sabbe sissā samāgantvā, akaṃsu citakaṃ tadā;
Kaḷevarañca me gayha, citakaṃ abhiropayuṃ.
All my disciples gathered together and then built a funeral pyre. Taking my body, they placed it upon the pyre.
Khi ấy, tất cả các đệ tử đã tụ họp lại, đã làm giàn hỏa táng; và sau khi mang thi hài của tôi, họ đã đặt lên giàn hỏa táng.
136.
136.
136.
‘‘Citakaṃ parivāretvā, sīse katvāna añjaliṃ;
Sokasallaparetā te, vikkandiṃsu samāgatā.
Surrounding the funeral pyre, placing their joined hands on their heads, they, overcome by the dart of sorrow, wailed together.
Sau khi vây quanh giàn hỏa táng, chắp tay trên đầu, những vị ấy, bị mũi tên sầu muộn xâm chiếm, đã cùng nhau khóc than.
137.
137.
137.
‘‘Tesaṃ lālappamānānaṃ, agamaṃ citakaṃ tadā;
‘Ahaṃ ācariyo tumhaṃ, mā socittha sumedhasā.
As they were lamenting, I then approached the pyre and said: ‘I am your teacher; do not grieve, O wise ones.
Khi ấy, trong lúc họ đang than khóc, tôi đã đến giàn hỏa táng (và nói): ‘Ta là thầy của các con, hỡi những người có trí tuệ tốt, các con đừng sầu muộn.’
138.
138.
138.
‘‘‘Sadatthe vāyameyyātha, rattindivamatanditā;
Mā vo pamattā ahuttha †, khaṇo vo paṭipādito’.
‘Strive for your own true good, unwearied day and night. Do not be heedless; the opportune moment has been secured for you.’
‘Các con hãy tinh tấn vì lợi ích của mình, không mệt mỏi ngày đêm; các con đừng trở nên dễ duôi, khoảnh khắc tốt đẹp đã đến với các con.’
139.
139.
139.
‘‘Sake sissenusāsitvā, devalokaṃ punāgamiṃ;
Aṭṭhārasa ca kappāni, devaloke ramāmahaṃ.
Having instructed my own disciples, I went again to the deva world. For eighteen eons I delighted in the deva world.
Sau khi giáo huấn các đệ tử của mình, tôi đã trở lại cõi trời; và trong mười tám kiếp, tôi đã hưởng lạc ở cõi trời.
140.
140.
140.
‘‘Satānaṃ pañcakkhattuñca, cakkavattī ahosahaṃ;
Anekasatakkhattuñca, devarajjamakārayiṃ.
Five hundred times I was a wheel-turning monarch, and for many hundreds of times I exercised sovereignty among the devas.
Tôi đã là vua Chuyển Luân năm trăm lần; và hơn một trăm lần, tôi đã làm vua cõi trời.
141.
141.
141.
‘‘Avasesesu kappesu, vokiṇṇo † saṃsariṃ ahaṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, uppādassa idaṃ phalaṃ †.
In the remaining eons, I transmigrated, interspersed between the human and deva realms. I know of no bad destination for myself; this is the fruit of interpreting the omen.
Trong các kiếp còn lại, tôi đã luân hồi lẫn lộn (giữa các cõi); tôi không biết đến cảnh giới khổ, đây là quả của việc giải đoán điềm.
142.
142.
142.
‘‘Yathā komudike māse, bahū pupphanti pādapā;
Tathevāhampi samaye, pupphitomhi mahesinā.
Just as in the month of Komudī many trees burst into bloom, so too at the proper time was I brought to blossom by the Great Sage.
Như trong tháng Komudika (tháng hoa súng nở), nhiều cây cối nở hoa; cũng vậy, tôi cũng đã được bậc Đại Sĩ làm cho nở hoa vào đúng thời điểm.
143.
143.
143.
‘‘Vīriyaṃ me dhuradhorayhaṃ, yogakkhemādhivāhanaṃ;
Nāgova bandhanaṃ chetvā, viharāmi anāsavo.
My energy is capable of bearing the burden, bringing about security from the yokes. Like a great elephant having broken its fetters, I dwell without cankers.
Sự tinh tấn của tôi có khả năng mang gánh nặng, đưa đến sự an ổn khỏi các ách縛; như con voi chúa phá vỡ xiềng xích, tôi sống không còn lậu hoặc.
144.
144.
144.
‘‘Satasahassito kappe, yaṃ buddhamabhikittayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, kittanāya idaṃ phalaṃ.
One hundred thousand eons ago, I extolled the Buddha. I know of no woeful state; this is the fruit of that extolling.
Cách đây một trăm ngàn kiếp, khi tôi đã tán thán đức Phật; (kể từ đó) tôi không biết đến cảnh giới khổ, đây là quả của việc tán thán.
145.
145.
145.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burned... I dwell without cankers.
Các phiền não của tôi đã được đốt cháy… (vân vân)… tôi sống không còn lậu hoặc.
146.
146.
146.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Truly, my coming was a good coming... the Buddha’s teaching has been fulfilled.
Quả thật, sự đến của tôi là một sự đến tốt đẹp… (vân vân)… giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
147.
147.
147.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges... the Buddha’s teaching has been fulfilled.”
Bốn Tuệ Phân Tích… (vân vân)… giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā pulinuppādako thero imā gāthāyo
Thus, indeed, the Venerable Elder Pulinuppādaka spoke these verses.
Như vậy, quả thật, trưởng lão Puḷinuppādaka đã nói những câu kệ này.
Abhāsitthāti.
He spoke thus.
đã nói.
Pulinuppādakattherassāpadānaṃ sattamaṃ.
The Apadāna of the Elder Pulinuppādaka, the Seventh.
Thiên truyện về trưởng lão Puḷinuppādaka, thứ bảy.