Bản dịch
THA -ap487 — Ký Sự về Trưởng Lão Candanamāliya
Candanamāliyattheraapadāna
BJT 5105Sau khi từ bỏ năm phần dục lạc, các sắc yêu quý, các vật thích ý, tôi đã từ bỏ tám mươi koṭivà đã xuất gia vào đời sống không gia đình.
BJT 5106Sau khi xuất gia, tôi đã tránh xa nghiệp ác do thân. Sau khi từ bỏ ác hạnh do khẩu, tôi cư ngụ ở bờ sông.
BJT 5107Trong khi tôi đang sống mỗi một mình, đức Phật tối thượng đã đi đến gặp tôi. Tôi không biết về “Đức Phật.” Tôi đã thực hiện việc chào hỏi.
BJT 5108Sau khi thực hiện việc chào hỏi, tôi đã hỏi tên và dòng họ: “Phải chăng ngài là Thiên thần, là vị Càn-thát-bà, hay là Chúa của chư Thiên Sakka?
BJT 5109Ngài là ai? Là con trai của ai? Phải chăng vị Đại Phạm Thiên đã đi đến nơi đây? Ngài tỏa sáng tất cả các phương giống như là mặt trời đang mọc.
BJT 5110Thưa ngài, một ngàn cây căm bánh xe được thấy ở bàn chân. Ngài là ai? Là con trai của ai? Làm thế nào chúng tôi nhận biết ngài? Xin ngài cho biết tên và dòng họ, xin ngài hãy xua đi nỗi nghi hoặc của tôi.”
BJT 5111“Ta không phải là Thiên thần, không phải là Càn-thát-bà, cũng không phải là Chúa của chư Thiên Sakka. Và Ta cũng không có bản thể của Phạm Thiên, đối với các vị này Ta là bậc Tối Thượng.”
BJT 5112Ta đã vượt lên phạm vi của các vị ấy, ta đã cắt lìa sự trói buộc của các dục. Sau khi thiêu đốt tất cả các phiền não, ta đạt đến phẩm vị Toàn Giác tối thượng.”
BJT 5113Sau khi lắng nghe lời nói của vị ấy, tôi đã nói lời nói này: “Bạch đấng Đại Hiền Trí, nếu Ngài là đức Phật, đấng Toàn Tri, bậc Đoạn Tận khổ đau, xin thỉnh Ngài ngồi xuống, tôi sẽ cúng dường Ngài.”
BJT 5114Tôi đã trải ra tấm da dê và tôi đã dâng cúng đến đấng Đạo Sư. Đức Thế Tôn đã ngồi xuống ở tại nơi ấy tợ như con sư tử (ngồi xuống) ở hang núi.
BJT 5115Tôi đã cấp tốc leo lên ngọn núi và đã hái trái xoài, bông hoa sālā xinh xắn, và gỗ trầm hương vô cùng giá trị.
BJT 5116Tôi đã mau mắn nâng lên tất cả các thứ ấy và đã đi đến gần đấng Lãnh Đạo Thế Gian. Tôi đã dâng cúng trái cây và đã cúng dường bông hoa sālā đến đức Phật.
BJT 5117Với tâm hoan hỷ, với ý vui mừng, tôi đã thoa trầm hương và đã đảnh lễ bậc Đạo Sư với niềm phỉ lạc dạt dào.
BJT 5118Khi ấy, đấng Lãnh Đạo Thế Gian Sumedha đã ngồi xuống ở tấm da dê. Trong khi làm cho tôi được hoan hỷ, Ngài đã tán dương việc làm của tôi rằng:
BJT 5119“Do cả hai việc dâng cúng trái cây cùng với hương thơm tràng hoa này, (người này) sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong hai trăm năm mươi kiếp, và sẽ trở thành người vận dụng quyền lực với tâm tư không bị sút kém.
BJT 5120(Người này) sẽ đi đến bản thể nhân loại trong hai ngàn sáu trăm kiếp và sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương có đại thần lực (chinh phục) bốn phương.
BJT 5121Có thành phố tên là Vebhāra toàn bằng vàng được tô điểm với châu báu các loại sẽ được hóa hiện ra bởi vị thần Vissakamma.
BJT 5122Theo phương cách này đây, người ấy sẽ luân hồi các cõi. Dầu ở bản thể Thiên nhân hay nhân loại, (người này) sẽ được tôn vinh ở khắp mọi nơi. Khi đạt đến lần hiện hữu cuối cùng, (người này) sẽ là thân quyến của đấng Phạm Thiên.
BJT 5123Sau khi lìa khỏi gia đình, (người này) sẽ trở thành người không có gia đình, sẽ thông suốt về các thắng trí, và sẽ Niết Bàn không còn lậu hoặc.”
BJT 5124Nói xong điều này, trong lúc tôi đang trầm tư, bậc Toàn Giác đấng Lãnh Đạo Thế Gian Sumedha đã ra đi bằng đường không trung.
BJT 5125Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 5126Sau khi mệnh chung từ cõi trời Đẩu Suất, tôi đã tái sanh vào bụng mẹ. Khi tôi sống ở trong bào thai, tôi không có thiếu hụt về sự thọ hưởng.
BJT 5127Khi tôi đã ở trong bụng mẹ, do ước muốn của tôi, thức ăn nước uống và vật thực cho người mẹ được sanh lên theo như ước muốn.
BJT 5128Vào lúc bảy tuổi tính từ khi sanh, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình. Khi tóc (cạo) được rơi xuống, tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
BJT 5129Trong lúc suy tầm về nghiệp quá khứ, tôi đã nhìn thấy không phải là kém cỏi, tôi đã nhớ lại việc làm của tôi trong ba mươi ngàn kiếp.
BJT 5130“Bạch đấng Siêu Nhân, con kính lễ Ngài! Bạch đấng Tối Thượng Nhân, con kính lễ Ngài! Sau khi đi đến với Giáo Pháp của Ngài, con đã đạt được vị thế Bất Động.”
BJT 5131Kể từ khi tôi đã cúng dường đức Phật trước đây ba mươi ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 5132Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5133Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5134Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Candanamāliya đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Candanamāliya là phần thứ năm.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
5. Candanamāliyattheraapadānaṃ
5. The Apadāna of the Elder Candanamāliya
5. (Thiên) truyện về Trưởng lão Candanamāliya
75.
75.
75.
‘‘Pañca kāmaguṇe hitvā, piyarūpe manorame;
Asītikoṭiyo hitvā, pabbajiṃ anagāriyaṃ.
“Having abandoned the five strands of sensual pleasure, which are dear and delightful, and having abandoned eighty crores, I went forth into homelessness.
“Từ bỏ năm dục lạc, là những thứ khả ái và đẹp lòng; từ bỏ tám mươi koṭi (tài sản), tôi đã xuất gia vào đời sống không nhà.”
76.
76.
76.
‘‘Pabbajitvāna kāyena, pāpakammaṃ vivajjayiṃ;
Vacīduccaritaṃ hitvā, nadīkūle vasāmahaṃ.
“Having gone forth, with my body I avoided evil deeds; having abandoned misconduct in speech, I dwelt on a riverbank.
“Sau khi xuất gia, tôi đã tránh ác nghiệp về thân; từ bỏ lời nói ác hạnh, tôi đã sống ở bên bờ sông.”
77.
77.
77.
‘‘Ekakaṃ maṃ viharantaṃ, buddhaseṭṭho upāgami;
Nāhaṃ jānāmi buddhoti, akāsiṃ paṭisantharaṃ †.
“The supreme Buddha approached me as I was dwelling alone. Not knowing he was the Buddha, I offered a friendly greeting.
“Trong khi tôi đang sống một mình, bậc Tối Thắng Giác Ngộ đã đi đến; tôi đã không biết đó là vị Phật, (nhưng) tôi đã thực hiện việc chào hỏi thân thiện.”
78.
78.
78.
‘‘Karitvā paṭisanthāraṃ, nāmagottamapucchahaṃ;
‘Devatānusi gandhabbo, adu sakko purindado.
“Having offered a friendly greeting, I asked his name and clan: ‘Are you a deva or a gandhabba, or are you Sakka, the foremost giver?
“Sau khi thực hiện việc chào hỏi thân thiện, tôi đã hỏi về tên và dòng họ: ‘Phải chăng ngài là một vị trời, một càn-thát-bà, hay là Sakka (Đế-thích), vị ban thí trước tiên?’”
79.
79.
79.
‘‘‘Ko vā tvaṃ kassa vā putto, mahābrahmā idhāgato;
Virocesi disā sabbā, udayaṃ sūriyo yathā.
“‘Who are you, or whose son are you? Has a Great Brahmā come here? You illuminate all the quarters like the rising sun.
“‘Ngài là ai, hay là con của ai? Phải chăng Đại Phạm Thiên đã đến đây? Ngài chiếu sáng khắp mọi phương trời, giống như mặt trời đang mọc.’”
80.
80.
80.
‘‘‘Sahassārāni cakkāni, pāde dissanti mārisa;
Ko vā tvaṃ kassa vā putto, kathaṃ jānemu taṃ mayaṃ;
Nāmagottaṃ pavedehi, saṃsayaṃ apanehi me’.
“‘Thousand-spoked wheels are seen on your feet, venerable sir. Who are you, or whose son are you? How may we know you? Declare your name and clan; dispel my doubt.’
“‘Thưa ngài, các bánh xe có ngàn căm được nhìn thấy ở bàn chân. Ngài là ai, hay là con của ai? Làm thế nào chúng tôi có thể biết được ngài? Xin hãy cho biết tên và dòng họ, xin hãy xua tan sự nghi ngờ của tôi.’”
81.
81.
81.
‘‘‘Namhi devo na gandhabbo, namhi † sakko purindado;
Brahmabhāvo ca me natthi, etesaṃ uttamo ahaṃ.
“‘I am not a deva, nor a gandhabba; I am not Sakka, the foremost giver. The state of a Brahmā is also not mine; I am superior to them.
“‘Ta không phải là vị trời, không phải là càn-thát-bà, không phải là Sakka, vị ban thí trước tiên. Trạng thái Phạm thiên cũng không phải của ta, ta là bậc tối thượng hơn cả những vị ấy.’”
82.
82.
82.
‘‘‘Atīto visayaṃ tesaṃ, dālayiṃ kāmabandhanaṃ;
Sabbe kilese jhāpetvā, patto sambodhimuttamaṃ’.
“‘I have transcended their domain; I have shattered the bonds of sensual pleasure. Having burned away all defilements, I have attained supreme enlightenment.’
“‘Ta đã vượt qua cảnh giới của các vị ấy, đã phá tan sự trói buộc của dục vọng. Sau khi đã thiêu đốt tất cả các phiền não, ta đã đạt đến sự Giác Ngộ tối thượng.’”
83.
83.
83.
‘‘Tassa vācaṃ suṇitvāhaṃ, idaṃ vacanamabraviṃ;
‘Yadi buddhoti sabbaññū, nisīda tvaṃ mahāmune.
“Having heard his words, I spoke this statement: ‘If you are the Buddha, the All-Knowing One, please be seated, Great Sage.
“Sau khi nghe lời nói của vị ấy, tôi đã nói lên lời này: ‘Nếu ngài là bậc Toàn Giác, là vị Phật, xin ngài hãy ngồi xuống, hỡi bậc Đại ẩn sĩ.’”
84.
84.
84.
‘Tamahaṃ pūjayissāmi, dukkhassantakaro tuvaṃ’;
‘‘Pattharitvā jinacammaṃ, adāsi satthuno ahaṃ.
“‘I will honor you, for you are the one who makes an end of suffering.’ Having spread out a hide of a black antelope, I gave it to the Teacher.
“‘Con sẽ cúng dường ngài, ngài là bậc chấm dứt khổ đau.’ Sau khi trải tấm da thú, tôi đã dâng lên bậc Đạo Sư.”
85.
85.
85.
‘‘Nisīdi tattha bhagavā, sīhova girigabbhare;
Khippaṃ pabbatamāruyha, ambassa phalamaggahiṃ.
“The Blessed One sat down there, like a lion in a mountain cave. Quickly climbing the mountain, I plucked a mango fruit.
“Đức Thế Tôn đã ngồi ở nơi ấy, giống như con sư tử ở trong hang núi. Tôi đã nhanh chóng trèo lên núi, và đã hái lấy quả xoài.”
86.
86.
86.
‘‘Sālakalyāṇikaṃ pupphaṃ, candanañca mahārahaṃ;
Khippaṃ paggayha taṃ sabbaṃ, upetvā lokanāyakaṃ.
“A beautiful sāla flower and precious sandalwood—quickly taking all this, I approached the Leader of the World.
“Hoa sāla xinh đẹp, và gỗ chiên-đàn quý giá; sau khi nhanh chóng cầm lấy tất cả những thứ ấy, tôi đã đi đến gần bậc Lãnh Đạo thế gian.”
87.
87.
87.
‘‘Phalaṃ buddhassa datvāna, sālapupphamapūjayiṃ;
Candanaṃ anulimpitvā, avandiṃ satthuno ahaṃ.
“Having given the fruit to the Buddha, I honored him with the sāla flower. Having anointed him with sandalwood, I paid homage to the Teacher.
“Sau khi dâng quả đến đức Phật, tôi đã cúng dường hoa sāla. Sau khi thoa gỗ chiên-đàn, tôi đã đảnh lễ bậc Đạo Sư.”
88.
88.
88.
‘‘Pasannacitto sumano, vipulāya ca pītiyā;
Ajinamhi nisīditvā, sumedho lokanāyako.
“With a devout and joyful mind, and with abundant rapture, Sumedha, the Leader of the World, having sat upon the hide,
“Với tâm trong sạch, với ý hoan hỷ, và với niềm hỷ lạc dồi dào; sau khi ngồi trên tấm da thú, bậc Lãnh Đạo thế gian Sumedha.”
89.
89.
89.
‘‘Mama kammaṃ pakittesi, hāsayanto mamaṃ tadā;
‘Iminā phaladānena, gandhamālehi cūbhayaṃ.
“…then gladdened me and proclaimed my kamma: ‘By this gift of fruit, and by these gifts of perfume and flowers, by both,
“Khi ấy, trong khi làm cho tôi vui mừng, ngài đã tuyên thuyết về nghiệp của tôi: ‘Do sự bố thí quả cây này, và do hương thơm cùng vòng hoa, do cả hai (vật thí) này.’”
90.
90.
90.
‘‘‘Pañcavīse kappasate, devaloke ramissati;
Anūnamanasaṅkappo, vasavattī bhavissati.
“‘For twenty-five hundred aeons, he will delight in the deva world; with his heart’s wish undiminished, he will be a wielder of power.
“‘Trong hai ngàn năm trăm kiếp, người này sẽ hưởng lạc ở cõi trời. Với tâm tư và ý định không thiếu sót, người này sẽ trở thành bậc tự tại.’”
91.
91.
91.
‘‘‘Chabbīsatikappasate, manussattaṃ gamissati;
Bhavissati cakkavattī, cāturanto mahiddhiko.
“‘For twenty-six hundred aeons, he will attain a human state; he will become a wheel-turning monarch, ruler of the four quarters, of great psychic power.
“‘Trong hai ngàn sáu trăm kiếp, người này sẽ đạt đến thân người. Người này sẽ là vị Chuyển Luân Vương, cai trị bốn phương, có đại thần lực.’”
92.
92.
92.
‘‘‘Vebhāraṃ nāma nagaraṃ, vissakammena māpitaṃ;
Hessati sabbasovaṇṇaṃ, nānāratanabhūsitaṃ.
“‘A city named Vebhāra, created by Vissakamma, will come to be; it will be made entirely of gold, adorned with various jewels.
“‘Sẽ có một thành phố tên là Vebhāra, do thần Vissakamma tạo ra; sẽ hoàn toàn bằng vàng, được trang hoàng với nhiều loại châu báu.’”
93.
93.
93.
‘‘‘Eteneva upāyena, saṃsarissati so bhave †;
Sabbattha pūjito hutvā, devatte atha mānuse.
“‘By this very means he will transmigrate through existences; being honored everywhere, whether in the state of a deva or a human.
“‘Chỉ bằng phương tiện này, người ấy sẽ luân hồi trong các cõi; được cúng dường ở khắp mọi nơi, dù ở cõi trời hay cõi người.’”
94.
94.
94.
‘‘‘Pacchime bhave sampatte, brahmabandhu bhavissati;
Agārā abhinikkhamma, anagārī bhavissati;
Abhiññāpāragū hutvā, nibbāyissatināsavo’.
“‘When he reaches his final existence, he will be of brahmin kin. Having gone forth from the home, he will become homeless. Having gone to the far shore of the direct knowledges, free from taints, he will attain Nibbāna.’
“‘Khi đạt đến kiếp sống cuối cùng, người này sẽ là người thân của Phạm thiên (Bà-la-môn). Từ bỏ gia đình, người này sẽ trở thành người không nhà. Sau khi thông suốt các thắng trí, là bậc vô lậu, người này sẽ tịch diệt.’”
95.
95.
95.
‘‘Idaṃ vatvāna sambuddho, sumedho lokanāyako;
Mama nijjhāyamānassa, pakkāmi anilañjase.
“Having said this, the Perfectly Enlightened One, Sumedha, the Leader of the World, departed into the sky while I was looking on.
“Sau khi nói lên lời này, bậc Chánh Đẳng Giác Sumedha, vị Lãnh Đạo thế gian, trong khi tôi đang nhìn ngắm, đã bay đi trong hư không.”
96.
96.
96.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
“By that well-done deed and by my volition and aspiration, when I abandoned my human body, I went to the Tāvatiṃsa heaven.
“Do nghiệp lành đã được thực hiện ấy, và do các tác ý cùng nguyện vọng, sau khi từ bỏ thân người, tôi đã đi đến cõi trời Ba Mươi Ba.”
97.
97.
97.
‘‘Tusitato cavitvāna, nibbattiṃ mātukucchiyaṃ;
Bhoge me ūnatā natthi, yamhi gabbhe vasāmahaṃ.
“Having passed away from the Tusita heaven, I was reborn in my mother’s womb. There was no lack of comforts for me in the womb where I dwelt.
“Sau khi mệnh chung từ cõi trời Tusita (Đâu-suất), tôi đã tái sanh trong bụng mẹ. Tài sản của tôi không có sự thiếu hụt, trong bào thai nào mà tôi đã trú ngụ.”
98.
98.
98.
‘‘Mātukucchigate mayi, annapānañca bhojanaṃ;
Mātuyā mama chandena, nibbattati yadicchakaṃ.
“While I was in my mother’s womb, food, drink, and nourishment arose for my mother as much as desired, because of my wish.
“Khi tôi ở trong bụng mẹ, thức ăn, thức uống, và vật thực đã sanh khởi cho mẹ tôi theo ý muốn của tôi, bất cứ những gì bà mong muốn.”
99.
99.
99.
‘‘Jātiyā pañcavassena, pabbajiṃ anagāriyaṃ;
Oropitamhi kesamhi, arahattamapāpuṇiṃ.
“At the age of five years, I went forth into homelessness. As my hair was being shaved off, I attained Arahantship.
“Lúc năm tuổi, tôi đã xuất gia vào đời sống không nhà. Trong khi tóc đang được cạo xuống, tôi đã chứng đắc A-la-hán quả.”
100.
100.
100.
‘‘Pubbakammaṃ gavesanto, orena nāddasaṃ ahaṃ;
Tiṃsakappasahassamhi, mama kammamanussariṃ.
“Seeking my past kamma, I did not see anything more recent. I recalled my kamma from thirty thousand aeons ago.
“Trong khi tìm kiếm nghiệp quá khứ, tôi đã không thấy được ở trong khoảng thời gian gần đây. Vào ba mươi ngàn kiếp trước, tôi đã nhớ lại được nghiệp của mình.”
101.
101.
101.
‘‘Namo te purisājañña, namo te purisuttama;
Tava sāsanamāgamma, pattomhi acalaṃ padaṃ.
“Homage to you, O thoroughbred of men! Homage to you, O supreme among men! Having come to your teaching, I have attained the unshakable state.”
“Con xin đảnh lễ Ngài, bậc Trượng Phu Cao Quý; con xin đảnh lễ Ngài, bậc Tối Thắng trong loài người. Nhờ vào giáo pháp của Ngài, con đã chứng đạt trạng thái bất động (Niết Bàn).”
102.
102.
102.
‘‘Tiṃsakappasahassamhi, yaṃ buddhamabhipūjayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
“Thirty thousand eons ago, I honored a Buddha. Since then, I have not known a woeful state; this is the fruit of honoring a Buddha.”
“Cách đây ba mươi ngàn kiếp, tôi đã cúng dường đến đức Phật nào; kể từ đó, tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc cúng dường đến đức Phật.”
103.
103.
103.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
“My defilements are burned up… I dwell free from taints.”
“Các phiền não của tôi đã được đốt sạch... (vân vân)... tôi sống không còn lậu hoặc.”
104.
104.
104.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
“A good coming indeed it was for me… the Buddha’s teaching has been done.”
“Sự đến của tôi thật là khéo đến... (vân vân)... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.”
105.
105.
105.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
“The four analytical knowledges… the Buddha’s teaching has been done.”
“Bốn Tuệ Phân Tích... (vân vân)... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā candanamāliyo thero imā gāthāyo
Thus indeed the Venerable Elder Candanamāliya spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Candanamāliya đã nói lên những vần kệ này
Abhāsitthāti.
He recited these verses.
Đã nói lên như thế.
Candanamāliyattherassāpadānaṃ pañcamaṃ.
The Apadāna of the Elder Candanamāliya, the fifth.
Thiên Thạnh Nhân Ký Sự thứ năm về Trưởng lão Candanamāliya.