Bản dịch
THA -ap486 — Ký Sự về Trưởng Lão Ñāṇatthavika
4 Ñāṇathavikattheraapadāna
BJT 5076Khu ẩn cư của tôi được xây dựng khéo léo ở phía nam của núi Hi-mã-lạp. Vào lúc bấy giờ, trong khi tầm cầu mục đích tối thượng tôi cư ngụ ở trong rừng.
BJT 5077Trong lúc tìm kiếm vị thầy, tôi sống mỗi một mình với rễ và trái cây, hài lòng với việc có hay không có.
BJT 5078Trong khi ấy, đấng Toàn Giác tên Sumedha đã hiện khởi ở thế gian. Trong lúc tiếp độ đám đông dân chúng, Ngài công bố về bốn Sự Thật.
BJT 5079Tôi không được nghe về đấng Toàn Giác, cũng không có ai nói với tôi. Khi tám năm đang trôi qua, tôi đã nghe về đấng Lãnh Đạo Thế Gian.
BJT 5080Sau khi dập tắt củi lửa và quét dọn khu ẩn cư, tôi đã cầm lấy gói vật dụng và đã rời khỏi khu rừng.
BJT 5081Trong khi cư ngụ chỉ một đêm ở các ngôi làng và các khu phố chợ, khi ấy theo tuần tự tôi đã đi đến gần con sông Candavatī.
BJT 5082Vào thời điểm ấy, trong lúc tiếp độ nhiều chúng sanh, đức Thế Tôn đấng Lãnh Đạo Thế Gian Sumedha thuyết giảng về vị thế Bất Tử.
BJT 5083Tôi đã vượt qua đám đông người và đã đảnh lễ đấng Chiến Thắng sánh tợ đại dương. Tôi đã khoác tấm da dê một bên vai rồi đã ngợi ca đấng Lãnh Đạo Thế Gian rằng:
BJT 5084“Ngài là đấng Tối Thượng của loài người, là bậc thầy, là biểu hiệu, là ngọn cờ, là mục đích tối cao, là nơi nương tựa, là sự nâng đỡ, là ngọn đèn của chúng sanh.
(Tụng phẩm thứ hai mươi mốt).
BJT 5085Bạch bậc Hiền Trí, Ngài là bậc khôn khéo về kiến thức, là đấng Anh Hùng đã giúp cho chúng sanh vượt qua, ở thế gian không có người nào khác là đấng Tiếp Độ, không ai là trội hơn Ngài.
BJT 5086Biển cả vĩ đại hiển nhiên là có thể đo lường bằng đầu ngọn cỏ kusa, tuy nhiên bạch đấng Toàn Tri, trí tuệ của Ngài là không thể đo lường được.
BJT 5087Bạch đấng Hữu Nhãn, sau khi đặt trái đất lên đĩa cân là có thể xác định, tuy nhiên sự đo lường trí tuệ của Ngài là không thể có.
BJT 5088Không gian có thể ước lượng bằng sợi dây thừng hoặc bằng ngón tay, tuy nhiên bạch đấng Toàn Tri, giới hạnh của Ngài là không thể đo lường.
BJT 5089Bạch đấng Hữu Nhãn, nước ở đại dương, bầu trời, và trái đất, những vật này là có thể đo lường, còn Ngài là không thể đo lường.”
BJT 5090Sau khi đã tán dương đấng Toàn Tri có danh vọng lớn lao bằng sáu câu kệ, khi ấy tôi đã chắp tay lên rồi đứng im lặng.
BJT 5091Người ta nói về người có tuệ bao la, sáng suốt là “Sumedha.” Ngài đã ngồi xuống ở hội chúng tỳ khưu và đã nói lên những lời kệ này:
BJT 5092“Người nào, được tịnh tín, đã tán dương trí tuệ của Ta bằng tâm ý của mình, ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói.
BJT 5093Người này sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong bảy mươi bảy kiếp, và sẽ là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc một ngàn lần.
BJT 5094Và (người này) sẽ là đấng Chuyển Luân Vương hàng trăm lần. Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.
BJT 5095Dầu trở thành vị Thiên nhân hay là nhân loại, (người này) được tụ hội với nghiệp phước thiện, sẽ có tuệ sắc bén, tâm tư không bị kém sút.
BJT 5096Vào ba mươi ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 5097Sau khi lìa khỏi gia đình, (người này) sẽ xuất gia, không còn sở hữu gì, và sẽ chạm đến phẩm vị A-la-hán vào lúc bảy tuổi tính từ khi sanh.”
BJT 5098Từ khi tôi nhớ lại bản thân, từ khi tôi đạt được Giáo Pháp, trong khoảng thời gian này tôi không biết đến tâm tư không được thích ý.
BJT 5099Tôi đã luân hồi ở tất cả các cõi và đã thọ hưởng đầy đủ, tôi không có sự thiếu hụt về của cải; điều này là quả báu của việc ngợi ca trí tuệ.
BJT 5100Ba ngọn lửa (tham sân si) của tôi đã được dập tắt, tất cả các hữu đã được xóa sạch, tất cả các lậu hoặc đã được đoạn tận, giờ đây không còn tái sanh nữa.
BJT 5101Kể từ khi tôi đã ngợi ca trí tuệ trước đây ba mươi ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc ngợi ca trí tuệ.
BJT 5102Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5103Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5104Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Ñāṇatthavika đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Ñāṇatthavika là phần thứ tư.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
4. Ñāṇathavikattheraapadānaṃ
4. The Apadāna of the Elder Ñāṇathavika
4. Thiên sử về trưởng lão Ñāṇathavika
46.
46.
46.
‘‘Dakkhiṇe himavantassa, sukato assamo mama;
Uttamatthaṃ gavesanto, vasāmi vipine tadā.
“On the southern side of the Himavanta, my hermitage was well-made. Seeking the ultimate goal, I was then dwelling in the forest.
“Ở phía nam của dãy Himavanta, am thất của ta được khéo làm. Khi ấy, ta sống trong rừng, tìm cầu mục đích tối thượng.
47.
47.
47.
‘‘Lābhālābhena santuṭṭho, mūlena ca phalena ca;
Anvesanto ācariyaṃ, vasāmi ekako ahaṃ.
“Content with gain and loss, and with roots and fruits, seeking a teacher, I was dwelling alone.
“Hài lòng với được, không được, với rễ cây và trái cây, ta sống một mình, tìm kiếm vị đạo sư.
48.
48.
48.
‘‘Sumedho nāma sambuddho, loke uppajji tāvade;
Catusaccaṃ pakāseti, uddharanto mahājanaṃ.
At that moment, the Perfectly Enlightened One named Sumedha arose in the world; uplifting the great populace, He proclaimed the Four Truths.
“Khi ấy, bậc Chánh Đẳng Giác tên là Sumedha đã xuất hiện ở thế gian. Ngài tuyên thuyết Tứ Diệu Đế, trong khi cứu vớt chúng sanh.
49.
49.
49.
‘‘Nāhaṃ suṇomi sambuddhaṃ, napi me koci saṃsati †;
Aṭṭhavasse atikkante, assosiṃ lokanāyakaṃ.
I had not heard of the Perfectly Enlightened One, nor did anyone tell me of him. When eight years had passed, I heard of the Leader of the World.
“Ta đã không nghe về bậc Chánh Đẳng Giác, cũng không có ai nói cho ta hay. Sau khi tám năm trôi qua, ta đã nghe về bậc Lãnh Đạo Thế Gian.
50.
50.
50.
‘‘Aggidāruṃ nīharitvā, sammajjitvāna assamaṃ;
Khāribhāraṃ gahetvāna, nikkhamiṃ vipinā ahaṃ.
Having brought out the firewood for the fire-offering and having swept the hermitage, taking up the carrying-pole with its load, I departed from the forest.
“Sau khi mang củi lửa ra, quét dọn am thất, và mang lấy gánh đồ dùng, ta đã rời khỏi khu rừng.
51.
51.
51.
‘‘Ekarattiṃ vasantohaṃ, gāmesu nigamesu ca;
Anupubbena candavatiṃ, tadāhaṃ upasaṅkamiṃ.
Dwelling for one night in villages and market towns, I then gradually approached the city of Candavatī.
“Khi ấy, ta đã đến thành Candavatī, sau khi tuần tự ở lại một đêm tại các làng mạc và thị trấn.
52.
52.
52.
‘‘Bhagavā tamhi samaye, sumedho lokanāyako;
Uddharanto bahū satte, deseti amataṃ padaṃ.
At that time, the Blessed One, Sumedha, the Leader of the World, uplifting many beings, was teaching the deathless state.
“Vào lúc ấy, Đức Thế Tôn Sumedha, bậc Lãnh Đạo Thế Gian, đang thuyết giảng trạng thái bất tử, trong khi cứu vớt nhiều chúng sanh.
53.
53.
53.
‘‘Janakāyamatikkamma, vanditvā jinasāgaraṃ;
Ekaṃsaṃ ajinaṃ katvā, santhaviṃ lokanāyakaṃ.
Having passed beyond the crowd of people and having paid homage to the Conqueror, who is like an ocean, I arranged the deerskin garment over one shoulder and praised the Leader of the World.
“Sau khi vượt qua đám đông, đảnh lễ bậc Toàn Thắng tựa biển cả, vắt tấm da thú qua một bên vai, ta đã tán thán bậc Lãnh Đạo Thế Gian.
54.
54.
54.
‘‘‘Tuvaṃ satthā ca ketu ca, dhajo yūpo ca pāṇinaṃ;
Parāyano † patiṭṭhā ca, dīpo ca dvipaduttamo.
‘You are the Teacher and the banner, the flag and the sacrificial post for living beings; the final resort and the foundation, the island and the best of bipeds.
“‘Ngài là bậc Đạo Sư, là ngọn cờ hiệu, là lá cờ, là cột tế lễ của chúng sanh; là nơi nương tựa, là chỗ tựa vững chắc, là hòn đảo, và là bậc Tối Thượng giữa loài hai chân.
Ekavīsatimaṃ bhāṇavāraṃ.
The twenty-first recitation section.
Phẩm tụng thứ hai mươi mốt.
55.
55.
55.
‘‘‘Nepuñño dassane vīro, tāresi janataṃ tuvaṃ;
Natthañño tārako loke, tavuttaritaro mune.
‘O Hero, skilled in vision, You have saved the populace. O Sage, in this world there is no other savior superior to You.
“‘Ngài là bậc Anh Hùng tinh tế trong tri kiến, Ngài cứu độ chúng sanh. Hỡi bậc Mâu-ni, ở thế gian không có người cứu độ nào khác vượt trội hơn Ngài.
56.
56.
56.
‘‘‘Sakkā theve † kusaggena, pametuṃ sāgaruttame †;
Natveva tava sabbaññu, ñāṇaṃ sakkā pametave.
‘It might be possible to count the drops of water in the great ocean with the tip of a kusa grass blade; but it is truly not possible, O All-Knower, to measure Your knowledge.
“‘Có thể dùng ngọn cỏ kusa để đo lường các giọt nước trong đại dương; nhưng hỡi bậc Toàn Tri, trí tuệ của Ngài thì không thể nào đo lường được.
57.
57.
57.
‘‘‘Tuladaṇḍe † ṭhapetvāna, mahiṃ † sakkā dharetave;
Natveva tava paññāya, pamāṇamatthi cakkhuma.
‘Having placed it on a scale-beam, it might be possible to weigh the earth; but of Your wisdom, O One with Vision, there is truly no measure.
“‘Có thể đặt trái đất lên cán cân và cân đo được; nhưng hỡi bậc Pháp Nhãn, trí tuệ của Ngài thì quả thật không có giới hạn.
58.
58.
58.
‘‘‘Ākāso minituṃ sakkā, rajjuyā aṅgulena vā;
Natveva tava sabbaññu, sīlaṃ sakkā pametave.
‘It might be possible to measure the sky with a rope or with a finger, but it is truly not possible, O All-Knower, to measure Your virtue.’
“‘Có thể đo lường không gian bằng dây thừng hoặc bằng ngón tay; nhưng hỡi bậc Toàn Tri, giới hạnh của Ngài thì không thể nào đo lường được.
59.
59.
59.
‘‘‘Mahāsamudde udakaṃ, ākāso ca vasundharā;
Parimeyyāni etāni, appameyyosi cakkhuma’.
‘The water in the great ocean, the sky, and the earth—these are measurable; but You, O One with Vision, are immeasurable.’
“‘Nước trong đại dương, không gian, và mặt đất, những thứ này có thể đo lường được; nhưng hỡi bậc Pháp Nhãn, Ngài là bậc không thể đo lường được’.
60.
60.
60.
‘‘Chahi gāthāhi sabbaññuṃ, kittayitvā mahāyasaṃ;
Añjaliṃ paggahetvāna, tuṇhī aṭṭhāsahaṃ tadā.
Having extolled the All-Knower of great fame with six verses, and having raised my joined hands in reverence, I then stood silent.
“Khi ấy, sau khi tán thán bậc Toàn Tri, bậc Đại Danh Vọng, bằng sáu câu kệ, ta đã chắp tay và đứng im lặng.
61.
61.
61.
‘‘Yaṃ vadanti sumedhoti, bhūripaññaṃ sumedhasaṃ;
Bhikkhusaṅghe nisīditvā, imā gāthā abhāsatha.
He whom they call Sumedha, of vast wisdom, the greatly wise one—having sat down amidst the community of bhikkhus, spoke these verses:
Vị mà họ gọi là Sumedha, bậc có trí tuệ rộng lớn, bậc có trí tuệ tốt đẹp, sau khi ngồi giữa chúng Tỳ khưu, đã nói lên những câu kệ này.
62.
62.
62.
‘‘‘Yo me ñāṇaṃ pakittesi, vippasannena cetasā;
Tamahaṃ kittayissāmi, suṇātha mama bhāsato.
‘He who extolled my knowledge with a confident mind, of him I shall now make a declaration. Listen to me as I speak.
“‘Người nào đã tán thán trí tuệ của ta với tâm ý trong sáng, ta sẽ thọ ký cho người ấy. Hãy lắng nghe lời của ta đang nói đây.
63.
63.
63.
‘‘‘Sattasattati kappāni, devaloke ramissati;
Sahassakkhattuṃ devindo, devarajjaṃ karissati.
‘For seventy-seven aeons he will delight in the deva world. A thousand times he will be Inda, king of the devas, and exercise sovereignty.
“‘Trong bảy mươi bảy kiếp, người ấy sẽ hưởng lạc ở cõi trời. Một ngàn lần, người ấy sẽ làm vua cõi trời, trở thành vua của chư thiên.
64.
64.
64.
‘‘‘Anekasatakkhattuñca, cakkavattī bhavissati;
Padesarajjaṃ vipulaṃ, gaṇanāto asaṅkhiyaṃ.
‘And more than a hundred times he will be a wheel-turning monarch. His regional kingship will be vast, innumerable by calculation.
“‘Và nhiều hơn một trăm lần, người ấy sẽ là một vị Chuyển Luân Vương. Còn vương quyền trên một vùng đất rộng lớn thì không thể đếm được.
65.
65.
65.
‘‘‘Devabhūto manusso vā, puññakammasamāhito;
Anūnamanasaṅkappo, tikkhapañño bhavissati’.
‘Whether becoming a deva or a human, being endowed with meritorious kamma, he will have undiminished mental resolve and sharp wisdom.’
“‘Dù là trời hay người, người ấy sẽ chuyên tâm vào các hành động tạo phước, có ý chí không thiếu sót, và sẽ có trí tuệ sắc bén’.
66.
66.
66.
‘‘Tiṃsakappasahassamhi, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
‘Thirty thousand aeons hence, one born into the Okkāka clan, Gotama by name and clan, will be the Teacher in the world.
Sau ba mươi ngàn kiếp, một vị Đạo Sư sẽ xuất hiện trên thế gian, sinh ra trong dòng dõi Okkāka, tên là Gotama theo họ tộc.
67.
67.
67.
‘‘Agārā abhinikkhamma, pabbajissati kiñcano;
Jātiyā sattavassena, arahattaṃ phusissati.
‘Having gone forth from the home life, possessionless, he will enter the homeless state. At seven years from birth, he will attain Arahantship.’
Từ bỏ gia đình, người ấy sẽ xuất gia, không còn vướng bận. Vào năm thứ bảy sau khi sinh, người ấy sẽ chứng đắc A-la-hán quả.
68.
68.
68.
‘‘Yato sarāmi attānaṃ, yato pattosmi sāsanaṃ;
Etthantare na jānāmi, cetanaṃ amanoramaṃ.
“From when I can remember myself, from when I attained the teaching, in that interval I have not known an unpleasing intention.
“Kể từ khi ta có thể nhớ về bản thân, kể từ khi ta đạt đến giáo pháp, trong khoảng thời gian ấy, ta không biết đến một ý muốn nào không vui thích.
69.
69.
69.
‘‘Saṃsaritvā bhave sabbe, sampattānubhaviṃ ahaṃ;
Bhoge me ūnatā natthi, phalaṃ ñāṇassa thomane.
“Having wandered through all states of existence, I have experienced success. There is no deficiency in my possessions; this is the fruit of praising that knowledge.
“Sau khi luân hồi qua tất cả các kiếp sống, ta đã trải nghiệm sự thành tựu. Ta không hề thiếu thốn tài sản; đây là quả của việc tán thán trí tuệ.
70.
70.
70.
‘‘Tiyaggī nibbutā mayhaṃ, bhavā sabbe samūhatā;
Sabbāsavā parikkhīṇā, natthi dāni punabbhavo.
“My three fires are extinguished, all states of existence are uprooted. All my taints are destroyed; now there is no more renewed existence.
“Ba ngọn lửa của ta đã được dập tắt, tất cả các kiếp hữu đã được nhổ bật gốc. Tất cả các lậu hoặc đã được tận trừ, nay không còn tái sanh nữa.
71.
71.
71.
‘‘Tiṃsakappasahassamhi, yaṃ ñāṇamathaviṃ ahaṃ †;
Duggatiṃ nābhijānāmi, phalaṃ ñāṇassa thomane.
“Thirty thousand aeons ago, when I praised that knowledge, since then I have known no bad destination; this is the fruit of praising that knowledge.
“Kể từ khi ta tán thán trí tuệ ấy ba mươi ngàn kiếp trước, ta không hề biết đến khổ cảnh; đây là quả của việc tán thán trí tuệ.
72.
72.
72.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
“My defilements are burnt up … I dwell free from taints.
“Các phiền não của ta đã được đốt cháy… vân vân… ta sống không còn lậu hoặc.
73.
73.
73.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
“Welcome indeed was my coming … the Buddha’s teaching has been fulfilled.
“Sự đến của ta thật là khéo đến… vân vân… giáo pháp của Đức Phật đã được thực hành.
74.
74.
74.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
“The four kinds of analytical knowledge … the Buddha’s teaching has been fulfilled.”
“Bốn Tuệ Phân Tích… vân vân… giáo pháp của Đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā ñāṇathaviko thero imā gāthāyo
Thus indeed the Venerable Elder Ñāṇathavika
Như vậy, Tôn giả Trưởng lão Ñāṇathaviko đã nói lên những câu kệ này.
Abhāsitthāti.
He recited these verses.
Đã nói lên như thế.
Ñāṇathavikattherassāpadānaṃ catutthaṃ.
The Fourth Apadāna of the Elder Ñāṇathavika is concluded.
(Thiên) truyện về Trưởng lão Ñāṇathavika là (thiên) truyện thứ tư.