Bản dịch
THA -ap483 — Ký Sự về Trưởng Lão Paṃsukūlasaññaka
Paṁsukūlasaññakattheraapadāna
BJT 5031Đức Thế Tôn, bậc Tự Chủ tên Tissa là nhân vật cao cả. Sau khi cởi ra tấm y may từ vải bị quăng bỏ, đấng Chiến Thắng đã đi vào trú xá.
BJT 5032Sau khi cầm lấy cây cung đã được uốn cong, tôi đã bước đi vì nhu cầu thức ăn. Tôi đã nắm lấy con dao cong và đã đi vào khu rừng rậm.
BJT 5033Khi ấy, tôi đã nhìn thấy tấm y may từ vải bị quăng bỏ được treo ở ngọn cây tại nơi ấy. Tôi đã để cây cung xuống ngay tại nơi ấy và đã chắp tay lên ở đầu.
BJT 5034Với tâm hoan hỷ, với ý vui mừng, tôi đã tưởng nhớ đến đức Phật tối thượng và đã đảnh lễ tấm y may từ vải bị quăng bỏ với niềm phỉ lạc dạt dào.
BJT 5035(Kể từ khi) tôi đã đảnh lễ tấm y may từ vải bị quăng bỏ trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc đảnh lễ.
BJT 5036Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5037Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5038Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Paṁsukūlasaññakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Paṁsukūlasaññaka là phần thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
1. Paṃsukūlasaññakattheraapadānaṃ
1. The Apadāna of the Elder Paṃsukūlasaññaka
1. Thánh tích của Trưởng lão Paṃsukūlasaññaka
1.
1.
1.
‘‘Tisso nāmāsi bhagavā, sayambhū aggapuggalo;
Paṃsukūlaṃ ṭhapetvāna, vihāraṃ pāvisī jino.
“The Blessed One was named Tissa, the Self-become, the foremost person. Having laid aside a rag-robe, the Victor entered his dwelling.”
Đức Thế Tôn tên là Tissa, bậc Tự Sanh, bậc Tối Thượng Nhân. Bậc Chiến Thắng đã đặt tấm y phấn tảo xuống rồi đi vào tịnh xá.
2.
2.
2.
‘‘Vinataṃ † dhanumādāya, bhakkhatthāya cariṃ ahaṃ;
Maṇḍalaggaṃ gahetvāna, kānanaṃ pāvisiṃ ahaṃ.
“Taking up a bent bow, I roamed about for food. Grasping a sword, I entered the forest.”
Ta đã lấy cây cung cong, đi lang thang vì mục đích tìm thức ăn. Ta đã cầm lấy thanh gươm rồi đi vào khu rừng.
3.
3.
3.
‘‘Tatthaddasaṃ paṃsukūlaṃ, dumagge laggitaṃ tadā;
Cāpaṃ tattheva nikkhippa, sire katvāna añjaliṃ.
“There I saw a rag-robe that was caught on the top of a tree. Laying down my bow right there, I placed my hands in reverence on my head.”
Khi ấy, ở đó ta đã nhìn thấy tấm y phấn tảo bị vướng trên ngọn cây. Ta đã đặt cây cung xuống ngay tại nơi ấy, rồi chắp tay lên đầu.
4.
4.
4.
‘‘Pasannacitto sumano, vipulāya ca pītiyā;
Buddhaseṭṭhaṃ saritvāna, paṃsukūlaṃ avandahaṃ.
“With a devoted and joyful mind, and with abundant rapture, I recalled the Best of Buddhas and paid homage to that rag-robe.”
Với tâm ý hoan hỷ và tín thành, với niềm hỷ lạc rộng lớn, ta đã tưởng nhớ đến bậc Tối Thắng Giác rồi đảnh lễ tấm y phấn tảo.
5.
5.
5.
‘‘Dvenavute ito kappe, paṃsukūlamavandahaṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, vandanāya idaṃ phalaṃ.
“Ninety-two aeons ago from this one, I paid homage to that rag-robe. I do not know of any unhappy destination; this is the fruit of that veneration.”
Vào kiếp thứ chín mươi hai kể từ kiếp này, khi ta đã đảnh lễ tấm y phấn tảo, ta không còn biết đến đường ác thú. Đây là quả báu của việc đảnh lễ.
6.
6.
6.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ, bhavā sabbe samūhatā;
Nāgova bandhanaṃ chetvā, viharāmi anāsavo.
“My defilements are burnt up, all states of existence are eradicated. Like a great elephant that has broken its bonds, I dwell taintless.”
Các phiền não của ta đã được đốt sạch, tất cả các hữu đã được nhổ bật. Giống như con voi chúa cắt đứt các dây trói, ta sống không còn lậu hoặc.
7.
7.
7.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi, mama buddhassa santike;
Tisso vijjā anuppattā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
“Welcome indeed was my coming into the presence of the Buddha. The three knowledges have been attained; the Buddha’s teaching has been done.”
Thật vậy, sự đến của ta là sự khéo đến, (đến) nơi sự hiện diện của đức Phật. Tam minh đã được chứng đạt, giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
8.
8.
8.
‘‘Paṭisambhidā catasso, vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
“The four analytical knowledges, and also these eight liberations, and the six direct knowledges have been realized. The Buddha’s teaching has been done.”
Bốn Tuệ Phân Tích, tám giải thoát này, và sáu thắng trí đã được chứng ngộ. Giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā paṃsukūlasaññako thero imā gāthāyo
Thus, it is said, the venerable Elder Paṃsukūlasaññaka, these verses
Như vậy, quả thật Trưởng lão Paṃsukūlasaññaka đã nói những câu kệ này
Abhāsitthāti.
recited.
đã nói.
Paṃsukūlasaññakattherassāpadānaṃ paṭhamaṃ.
The first Apadāna of the Elder Paṃsukūlasaññaka is concluded.
Thánh tích thứ nhất của Trưởng lão Paṃsukūlasaññaka.