Bản dịch
THA -ap473 — Ký Sự về Trưởng Lão Naḷamāliya
Naḷamāliyattheraapadāna
BJT 4936Tôi đã nhìn thấy bậc Toàn Giác có màu da vàng chói, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đấng Lãnh Đạo Thế Gian, đang di chuyển ở phía trên chóp đỉnh của khu rừng bao la.
BJT 4937Sau khi cầm lấy tràng hoa sậy và ngay trong khi đang đi ra, tôi đã nhìn thấy đấng Toàn Giác, bậc đã vượt qua dòng lũ, vị không còn lậu hoặc ở tại nơi ấy.
BJT 4938Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã cúng dường tràng hoa sậy đến đấng Đại Hùng, bậc xứng đáng cúng dường, vị có lòng thương tưởng đến tất cả thế gian.
BJT 4939(Kể từ khi) tôi đã dâng lên bông hoa trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 4940Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 4941Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 4942Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Naḷamāliya đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Naḷamāliya là phần thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
1. Naḷamāliyattheraapadānaṃ
1. The Apadāna of the Elder Naḷamāliya
1. Thiên truyện về trưởng lão Naḷamāliya
1.
1.
1.
‘‘Suvaṇṇavaṇṇaṃ sambuddhaṃ, āhutīnaṃ paṭiggahaṃ;
Vipinaggena gacchantaṃ, addasaṃ lokanāyakaṃ.
I saw the Perfectly Enlightened One of golden complexion, the recipient of offerings, the leader of the world, walking along the edge of the forest.
Ta đã nhìn thấy bậc Lãnh Đạo Thế Gian, đấng Chánh Đẳng Giác có màu sắc như vàng ròng, là vị đáng tiếp nhận các vật cúng dường, đang đi ngang qua khu rừng.
2.
2.
2.
‘‘Naḷamālaṃ gahetvāna, nikkhamanto ca tāvade;
Tatthaddasāsiṃ sambuddhaṃ, oghatiṇṇamanāsavaṃ.
Taking a garland of reeds and going forth at that time, there I saw the Perfectly Enlightened One, who had crossed the flood and was free from taints.
Vào lúc ấy, trong khi đang đi ra và tay cầm vòng hoa lau, ở nơi ấy ta đã nhìn thấy đấng Chánh Đẳng Giác, là bậc đã vượt qua bộc lưu, là vị không còn lậu hoặc.
3.
3.
3.
‘‘Pasannacitto sumano, naḷamālamapūjayiṃ;
Dakkhiṇeyyaṃ mahāvīraṃ, sabbalokānukampakaṃ.
With a devoted and joyful mind, I offered a reed garland to the one worthy of noble offerings, the one of great energy, the one compassionate to the entire world.
Với tâm ý trong sạch và hoan hỷ, ta đã cúng dường vòng hoa lau đến bậc Đại Hùng, là vị đáng tiếp nhận vật cúng dường, là đấng bi mẫn đến tất cả thế gian.
4.
4.
4.
‘‘Ekatiṃse ito kappe, yaṃ mālamabhiropayiṃ †;
Duggatiṃ nābhijānāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
In the thirty-first aeon from this one, since I offered that garland, I know of no woeful state; this is the fruit of worshipping the Buddha.
Cách đây ba mươi mốt kiếp, kể từ kiếp này, ta đã dâng cúng vòng hoa nào; (kể từ lúc ấy), ta không còn biết đến đọa xứ. Đây là quả của việc cúng dường đến đức Phật.
5.
5.
5.