Bản dịch
THA -ap472 — Ký Sự về Trưởng Lão Nimittavyākaraṇiya
Nimittabyākaraṇiyattheraapadāna
BJT 4922Khi ấy, tôi đã đi sâu vào núi Hi-mã-lạp rồi đọc tụng chú thuật. Năm mươi bốn ngàn người đệ tử đã phục vụ tôi.
BJT 4923Là những vị hiểu biết về kinh Vệ-đà, tất cả đã học thuộc lòng, đã đạt đến sự toàn hảo về sáu chi phần. Được hỗ trợ bởi những sự hiểu biết của chính bản thân, các vị ấy sống ở núi Hi-mã-lạp.
BJT 4924Sau khi mệnh chung từ tập thể cõi trời Đâu Suất, vị Thiên tử có danh vọng lớn lao đã sanh vào bụng mẹ với sự nhận biết và có niệm.
BJT 4925Khi bậc Toàn Giác đang được sanh ra, mười ngàn thế giới đã chuyển động. Khi đấng Lãnh Đạo đang được sanh ra, những người mù đã đạt được thị giác.
BJT 4926Toàn bộ quả đất này đã chuyển động với mọi hình thức. Sau khi nghe được tiếng gầm thét, đám đông dân chúng đã hoảng hốt.
BJT 4927Tất cả mọi người đã tập trung lại và đã đi đến gặp tôi (hỏi rằng): “Quả đất này đã chuyển động, sẽ có hậu quả gì đây?”
BJT 4928Khi ấy, tôi đã nói với họ rằng: “Các người chớ sợ hãi, sự nguy hại không có cho các người. Tất cả cũng nên tự tin, sự xuất hiện này là có điều tốt đẹp.
BJT 4929Bị tác động bởi tám nguyên nhân, quả đất này chuyển động. Các điều báo hiệu như thế này được nhìn thấy, có ánh sáng bao la vĩ đại.
BJT 4930Không còn nghi ngờ nữa, đức Phật tối thượng, bậc Hữu Nhãn sẽ hiện khởi.” Sau khi làm cho dân chúng biết rõ, tôi đã thuyết giảng về năm giới cấm.
BJT 4931Sau khi lắng nghe về năm giới cấm và về sự xuất hiện của đức Phật là điều hy hữu, họ đã trở nên hớn hở vui mừng với niềm phấn khởi đã được sanh lên, với tâm ý vui mừng.
BJT 4932(Kể từ khi) tôi đã giải thích về điềm báo hiệu trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc giải thích.
BJT 4933Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 4934Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 4935Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Nimittavyākaraṇiya đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Nimittavyākaraṇiya là phần thứ mười.
Phần Tóm Lược:
Vị trưởng lão liên quan đến bông hoa sālā, luôn cả vị cúng dường (giàn hỏa thiêu), và vị làm nguội (giàn hỏa thiêu), vị dâng cúng cây cầu, vị có cây quạt, (vị dâng lên) trái avaṇṭa, vị dâng lên trái mít, (vị dâng lên) trái sung, vị ca ngợi, và vị Bà-la-môn liên quan việc giải thích. Có bảy mươi hai câu kệ đã được tính đếm bởi các bậc trí.
Phẩm Sālakusumiya là phẩm thứ bốn mươi bảy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
10. Nimittabyākaraṇiyattheraapadānaṃ
10. The Apadāna of the Elder Nimittabyākaraṇiya
10. Thánh tích về trưởng lão Nimittabyākaraṇiya
59.
59.
59.
‘‘Ajjhogāhetvā himavaṃ, mante vāce mahaṃ tadā;
Catupaññāsasahassāni, sissā mayhaṃ upaṭṭhahuṃ.
Having entered the Himālaya, I was then teaching the sacred verses; fifty-four thousand pupils attended on me.
Khi ấy, sau khi đã đi vào Hy-mã-lạp sơn, tôi đã giảng dạy kinh Vệ-đà. Năm mươi bốn ngàn đệ tử đã phục vụ tôi.
60.
60.
60.
‘‘Adhitā vedagū sabbe, chaḷaṅge pāramiṃ gatā;
Sakavijjāhupatthaddhā, himavante vasanti te.
All were learned, masters of the Vedas, having reached perfection in the six auxiliary disciplines. Stiff with their own knowledge, they dwelt in the Himālaya.
Tất cả (các đệ tử) đều đã học, là những người thông thạo Vệ-đà, đã đạt đến sự hoàn hảo trong sáu nhánh (của Vệ-đà). Được hỗ trợ bởi kiến thức của chính mình, họ sống ở Hy-mã-lạp sơn.
61.
61.
61.
‘‘Cavitvā tusitā kāyā, devaputto mahāyaso;
Uppajji mātukucchismiṃ, sampajāno patissato.
Having passed away from the Tusita host, the devaputta of great fame was reborn in his mother’s womb, mindful and clearly comprehending.
Vị thiên tử có danh tiếng lẫy lừng, sau khi mệnh chung từ cõi trời Đâu-suất, đã tái sanh vào lòng mẹ, với sự tỉnh giác và chánh niệm.
62.
62.
62.
‘‘Sambuddhe upapajjante, dasasahassi kampatha;
Andhā cakkhuṃ alabhiṃsu, uppajjantamhi nāyake.
When the Perfectly Enlightened One was being conceived, the ten-thousand-fold world system quaked. The blind received their sight when the Leader was being conceived.
Khi bậc Toàn Giác đang tái sanh, mười ngàn (thế giới) đã rung chuyển. Khi vị Lãnh đạo đang tái sanh, người mù đã được thấy.
63.
63.
63.
‘‘Sabbākāraṃ pakampittha, kevalā vasudhā ayaṃ;
Nigghosasaddaṃ sutvāna, ubbijjiṃsu † mahājanā.
This entire earth quaked in every way; having heard the roaring sound, the great mass of people were alarmed.
Toàn bộ trái đất này đã rung chuyển về mọi phương diện. Nghe thấy tiếng động lớn, đám đông dân chúng đã kinh hãi.
64.
64.
64.
‘‘Sabbe janā samāgamma, āgacchuṃ mama santikaṃ;
Vasudhāyaṃ pakampittha, kiṃ vipāko bhavissati.
All the people assembled and came into my presence, asking: ‘This earth has quaked; what will be its result?’
Tất cả mọi người đã tụ tập lại và đến gặp tôi: ‘Trái đất này đã rung chuyển. Kết quả sẽ là gì?’
65.
65.
65.
‘‘Avacāsiṃ † tadā tesaṃ, mā bhetha † natthi vo bhayaṃ;
Visaṭṭhā hotha sabbepi, uppādoyaṃ suvatthiko †.
I then said to them: ‘Do not fear, there is no danger for you. All of you, be at ease; this occurrence is for your well-being.’
Khi ấy, tôi đã nói với họ: ‘Đừng sợ hãi, không có gì nguy hiểm cho các vị. Tất cả hãy yên tâm. Điềm báo này là điềm lành.’
66.
66.
66.
‘‘Aṭṭhahetūhi samphussa †, vasudhāyaṃ pakampati;
Tathā nimittā dissanti, obhāso vipulo mahā.
‘This earth quakes due to eight causes. Likewise, omens are seen, and a great, vast radiance appears.’
‘Trái đất này rung chuyển do tám nguyên nhân. Tương tự, các điềm báo được nhìn thấy, và có một ánh sáng lớn, lan rộng.’
67.
67.
67.
‘‘Asaṃsayaṃ buddhaseṭṭho, uppajjissati cakkhumā;
Saññāpetvāna janataṃ, pañcasīle kathesahaṃ.
‘Without a doubt, the excellent Buddha, the one possessing the five eyes, will arise.’ Having made the people understand, I taught the five precepts.
‘Không còn nghi ngờ gì nữa, bậc Phật tối thượng, bậc Hữu-nhãn, sẽ xuất hiện.’ Sau khi đã thông báo cho dân chúng, tôi đã thuyết giảng về năm giới.
68.
68.
68.
‘‘Sutvāna pañca sīlāni, buddhuppādañca dullabhaṃ;
Ubbegajātā sumanā, tuṭṭhahaṭṭhā ahaṃsu te.
Having heard the five precepts and the rare appearance of a Buddha, they became thrilled, gladdened, pleased, and delighted.
Sau khi nghe về năm giới và sự xuất hiện hiếm có của một vị Phật, họ trở nên phấn chấn, vui vẻ, hoan hỷ và hân hoan.
69.
69.
69.
‘‘Dvenavute ito kappe, yaṃ nimittaṃ viyākariṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, byākaraṇassidaṃ phalaṃ.
In the ninety-second aeon from this one, I declared that omen; since then, I have not known a bad destination. This is the fruit of that declaration.
Cách đây chín mươi hai kiếp, kể từ kiếp này, ta đã giải thích điềm triệu nào; (kể từ lúc ấy), ta không còn biết đến đọa xứ. Đây là quả của việc giải thích.
70.
70.
70.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burnt up … I dwell taintless.
Các phiền não của ta đã được đốt sạch... v.v... ta sống không còn lậu hoặc.
71.
71.
71.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
A good coming it was for me … the Buddha’s teaching has been done.
Sự đến của ta thật là khéo đến... v.v... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
72.
72.
72.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges … the Buddha’s teaching has been done.
Bốn Tuệ Phân Tích... v.v... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā nimittabyākaraṇiyo thero imā
Thus indeed the Venerable Nimittabyākaraṇiya the Elder
Như thế, quả thật trưởng lão Nimittabyākaraṇiya đã nói lên những câu kệ này:
Gāthāyo abhāsitthāti.
uttered these verses.
(kết thúc câu trên).
Nimittabyākaraṇiyattherassāpadānaṃ dasamaṃ.
The tenth Apadāna of the Elder Nimittabyākaraṇiya.
Thiên truyện về trưởng lão Nimittabyākaraṇiya là phần thứ mười.
The Sālakusumiya Chapter, the forty-seventh.
Phẩm Sālakusumiya là phẩm thứ bốn mươi bảy.
Tassuddānaṃ –
The summary:
Phần kệ tóm tắt của phẩm ấy:
Sālakusumiyo thero, pūjā nibbāpakopi ca;
Setudo tālavaṇṭī ca, avaṭalabujappado.
The Elder Sālakusumiya, Citakapūjaka, Citakanibbāpaka, Setudāyaka, Sumanatālavaṇḍiya, Avaṭaphaliya, and Labujaphaladāyaka,
Trưởng lão Sālakusumiya, và cả Pūjā, Nibbāpaka, Setuda, Tālavaṇṭī, Avaṭa, Labujappado.
Pilakkhapaṭibhānī ca, veyyākaraṇiyo dijo;
Dvesattati ca gāthāyo, gaṇitāyo vibhāvibhi.
Pilakkhaphaladāyaka, Sayaṃpaṭibhāniya, and the brahmin who was an interpreter of omens. The verses are reckoned by the wise as seventy-two.
Và Pilakkha, Paṭibhānī, vị Bà-la-môn Veyyākaraṇiya. Các câu kệ đã được các bậc hiền trí đếm là bảy mươi hai.