Bản dịch
THA -ap468 — Ký Sự về Trưởng Lão Avaṇṭaphaliya
6 Avaṭaphaliyattheraapadāna
BJT 4889Đức Thế Tôn, đấng Tự Chủ, bậc không bị đánh bại tên là Sataraṁsī. Có ước muốn độc cư, đấng Toàn Giác đã ra đi về việc khất thực.
BJT 4890Có trái cây ở tay, tôi đã nhìn thấy và đã đi đến gặp đấng Nhân Ngưu. Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã dâng cúng trái avaṇṭa.
BJT 4891Trước đây chín mươi bốn kiếp, kể từ khi tôi đã dâng cúng trái cây tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 4892Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 4893Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 4894Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Avaṇṭaphaliyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Avaṇṭaphaliya là phần thứ sáu.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
6. Avaṭaphaliyattheraapadānaṃ
6. The Apadāna of the Elder Avaṭaphaliya
6. Thánh tích về Trưởng lão Avaṭaphaliya
26.
26.
26.
‘‘Sataraṃsī nāma bhagavā, sayambhū aparājito;
Vivekakāmo sambuddho, gocarāyābhinikkhami.
The Blessed One named Sataraṃsī, the Self-arisen, the Unconquered, the Perfectly Enlightened One who delights in solitude, went forth for his alms-round.
Bậc Thế Tôn tên là Sataraṃsī, là bậc Tự Sanh, là bậc Bất Bại, là bậc Toàn Giác ưa thích sự độc cư, đã đi ra để khất thực.
27.
27.
27.
‘‘Phalahattho ahaṃ disvā, upagacchiṃ narāsabhaṃ;
Pasannacitto sumano, adāsiṃ avaṭaṃ phalaṃ.
With fruit in hand, having seen the Bull among Men, I approached him. With a devout and joyful mind, I gave an avaṭa fruit.
Tôi, người có trái cây trong tay, sau khi nhìn thấy bậc Nhân Ngưu, đã đi đến gần. Với tâm ý trong sạch và hoan hỷ, tôi đã dâng cúng trái cây avaṭa.
28.
28.
28.
‘‘Catunnavutito kappe, yaṃ phalaṃ adadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, phaladānassidaṃ phalaṃ.
Ninety-four eons ago from now, I gave that fruit; I have known no woeful state since then. This is the fruit of the gift of fruit.
Kể từ kiếp thứ chín mươi bốn tính từ đây, vào lúc bấy giờ tôi đã dâng cúng quả ấy. Tôi không còn biết đến khổ cảnh, đây là quả của việc dâng cúng trái cây.
29.
29.
29.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burned up… I dwell taintless.
Các phiền não của tôi đã được đốt sạch... (dấu tỉnh lược)... tôi sống không còn lậu hoặc.
30.
30.
30.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Indeed, my coming was a welcome one… the teaching of the Buddha has been fulfilled.
Thật vậy, sự quang lâm của tôi là tốt đẹp... (dấu tỉnh lược)... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
31.
31.
31.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the teaching of the Buddha has been fulfilled.
Bốn Tuệ Phân Tích... (dấu tỉnh lược)... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā avaṭaphaliyo thero imā gāthāyo
Thus, indeed, the Venerable Elder Avaṭaphaliya...
Như vậy, quả thật Trưởng lão Avaṭaphaliya đã nói lên những câu kệ này:
Abhāsitthāti.
He spoke thus.
Đã nói như vậy.
Avaṭaphaliyattherassāpadānaṃ chaṭṭhaṃ.
The sixth Apadāna of the Elder Avaṭaphaliya is concluded.
Thánh tích về Trưởng lão Avaṭaphaliya, câu chuyện thứ sáu.