Bản dịch
THA -ap46 — Ký Sự về Trưởng Lão Sanniṭṭhāpaka
Sanniṭṭhāpakattheraapadāna
BJT 1184Sau khi tạo nên một liêu cốc nhỏ ở trong rừng, tôi sống ở trong vùng đồi núi, tự hài lòng với việc có hay không có, với việc có được danh tiếng hay không có danh tiếng.
BJT 1185Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, cùng với một trăm ngàn vị có năng lực đã đi đến khu vực của tôi.
BJT 1186Khi bậc Đại Hùng tên Padumuttara đi đến gần, tôi đã chuẩn bị tấm thảm cỏ và đã dâng cúng đến bậc Đạo Sư.
BJT 1187Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, với tâm ý trong sạch, tôi đã dâng cúng trái āmaṇḍa và nước uống đến bậc có bản thể chính trực.
BJT 1188Kể từ khi tôi đã dâng cúng vật thí trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của trái āmaṇḍa.
BJT 1189Trước đây bốn mươi mốt kiếp, tôi đã là vị Arindama độc nhất, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1190Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Sanniṭṭhāpaka đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Sanniṭṭhāpaka là phần thứ tư.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
4. Sanniṭṭhāpakattheraapadānaṃ
4. The Apadāna of the Elder Sanniṭṭhāpaka
4. Phẩm Hạnh Cảnh của Trưởng lão Sanniṭṭhāpaka
70.
70.
70.
‘‘Araññe kuṭikaṃ katvā, vasāmi pabbatantare;
Lābhālābhena santuṭṭho, yasena ayasena ca.
Having made a hut in the forest, I dwell in a mountain pass, content with gain and no-gain, and with fame and lack of fame.
Sau khi làm một cái am ở trong rừng, tôi sống ở giữa các ngọn núi; tôi biết đủ với được và không được, với danh thơm và tiếng xấu.
71.
71.
71.
‘‘Padumuttaro lokavidū, āhutīnaṃ paṭiggaho;
Vasīsatasahassehi †, āgacchi mama santikaṃ.
Padumuttara, the knower of the worlds, worthy of receiving offerings, came to my presence with one hundred thousand masters.
Đức Padumuttara, bậc Thông Suốt Thế Gian, bậc xứng đáng nhận lễ vật cúng dường; cùng với một trăm ngàn vị đã tự chủ, Ngài đã đến nơi ở của tôi.
72.
72.
72.
‘‘Upāgataṃ mahānāgaṃ †, jalajuttamanāmakaṃ;
Tiṇasantharaṃ † paññāpetvā, adāsiṃ satthuno ahaṃ.
To the great being who had arrived, the one named ‘Supreme Lotus,’ I, having spread a grass mat, gave it to the Teacher.
Đến bậc Đại Long Tượng đã quang lâm, vị có tên là Bông Sen Tối Thắng; sau khi sửa soạn một tấm lót bằng cỏ, tôi đã dâng cúng đến bậc Đạo Sư.
73.
73.
73.
‘‘Pasannacitto sumano, āmaṇḍaṃ pānīyañcahaṃ;
Adāsiṃ ujubhūtassa, vippasannena cetasā.
With a devoted and joyful mind, I gave a melon and drinking water to the upright one with an exceedingly clear mind.
Với tâm tín thành, ý hoan hỷ, tôi đã dâng cúng trái dưa và nước uống đến bậc ngay thẳng, với tâm ý vô cùng trong sạch.
74.
74.
74.
‘‘Satasahassito kappe †, yaṃ dānamadadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, āmaṇḍassa idaṃ phalaṃ.
One hundred thousand kappas ago, for the gift I gave then, I have not since known an unhappy destination; this is the fruit of offering the melon.
Cách đây một trăm ngàn kiếp, vào lúc ấy tôi đã thực hiện việc bố thí nào; (kể từ đó) tôi không hề biết đến đọa xứ. Đây là quả phước của (việc cúng dường) trái dưa gang.
75.
75.
75.
‘‘Ekatālīsakappamhi, eko āsiṃ arindamo;
Sattaratanasampanno, cakkavattī mahabbalo.
Forty-one kappas ago, I was a wheel-turning monarch named Arindama, endowed with the seven treasures and of great military strength.
Vào kiếp thứ bốn mươi mốt (kể từ đây), có một vị vua tên là Arindama, là đấng Chuyển Luân vương có đại oai lực, được thành tựu bảy báu vật.
76.
76.
76.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal powers have been realized. The teaching of the Buddha has been fulfilled.
Bốn Tuệ phân tích ... (v.v.) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā sanniṭṭhāpako † thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the venerable Elder Sanniṭṭhāpaka spoke these verses.
Như thế, quả thật trưởng lão Sanniṭṭhāpaka đã nói những câu kệ này.
Sanniṭṭhāpakattherassāpadānaṃ catutthaṃ.
The fourth Apadāna of the Elder Sanniṭṭhāpaka is concluded.
Thiên sử về trưởng lão Sanniṭṭhāpaka là phần thứ tư.