Bản dịch
THA -ap45 — Ký Sự về Trưởng Lão Kāḷigodhāputtabhaddiya
3 Kāḷigodhāputtabhaddiyattheraapadāna
BJT 1168Tất cả mọi người đi đến đức Toàn Giác Padumuttara, bậc Đại Hiền Trí có tâm từ ái, đấng Lãnh Đạo cao cả của toàn thể thế gian.
BJT 1169Tất cả (mọi người) dâng cúng vải vóc, luôn cả chỗ nằm ngồi, thực phẩm, thức ăn và nước uống đến bậc Đạo Sư (và) ở Phước Điền vô thượng.
BJT 1170(Nghĩ rằng): “Ta cũng sẽ dâng cúng vật thí đến vị Trời của chư Thiên như thế ấy,” tôi đã thỉnh mời đức Phật tối thượng và luôn cả Hội Chúng vô thượng.
BJT 1171Và được tôi khích lệ những người này đã thỉnh mời đức Như Lai và toàn thể Hội Chúng tỳ khưu là Phước Điền vô thượng.
BJT 1172Tôi đã sửa soạn chiếc ghế bành bằng vàng (trị giá) một trăm ngàn, được phủ thảm lông cừu, (được làm) bằng sợi len, bông gòn, chỉ lanh, và bông vải, là chỗ ngồi vô cùng giá trị xứng đáng với đức Phật.
BJT 1173Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị Trời của chư Thiên, đấng Nhân Ngưu, được vây quanh bởi Hội Chúng tỳ khưu đã đi đến cửa nhà của tôi.
BJT 1174Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã đi ra tiếp đón bậc Toàn Giác, đấng Bảo Hộ Thế Gian có danh tiếng, và đã rước Ngài vào căn nhà của mình.
BJT 1175Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã làm toại ý đức Phật, đấng Lãnh Đạo Thế Gian, và một trăm ngàn vị tỳ khưu với món cơm thượng hạng.
BJT 1176Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, sau khi ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu đã nói lên những lời kệ này:
BJT 1177“Người nào đã dâng cúng chỗ ngồi bằng vàng được phủ thảm len lông cừu này, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói.
BJT 1178Người ấy sẽ cai quản Thiên quốc bảy mươi bốn lần và sẽ thọ hưởng sự thành đạt, được các tiên nữ trọng vọng.
BJT 1179(Người ấy) sẽ ngự trị một ngàn xứ sở vương quốc ở trái đất và sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương năm mươi mốt lần.
BJT 1180(Người ấy) sẽ là người có gia tộc cao sang trọng số tất cả các dòng dõi xuất thân. Và về sau, được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, người ấy sẽ xuất gia và sẽ trở thành vị Thinh Văn của bậc Đạo Sư, có tên là Bhaddiya.”
BJT 1181Gắn bó với sự độc cư, tôi đã cư ngụ ở nơi thanh vắng. Và tất cả các Quả vị đã được tôi chứng đạt, giờ đây tôi có điều ô nhiễm đã được dứt bỏ.
BJT 1182Biết rõ mọi việc của tôi, đấng Toàn Tri, bậc Lãnh Đạo Thế Gian sau khi ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu đã thiết lập tôi vào vị thế tối thắng.
BJT 1183Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Bhaddiya Kāḷigodhāyaputta đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Bhaddiya Kāḷigodhāputta là phần thứ ba.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3. Kāḷigodhāputtabhaddiyattheraapadānaṃ
3. The Apadāna of the Elder Bhaddiya, Son of Kāḷigodhā
3. Phẩm Hạnh Cảnh của Trưởng lão Bhaddiya, con trai của bà Kāḷigodhā
54.
54.
54.
‘‘Padumuttarasambuddhaṃ, mettacittaṃ mahāmuniṃ;
Upeti janatā sabbā, sabbalokagganāyakaṃ.
All people approach Padumuttara, the Perfectly Enlightened One, the great sage with a mind of loving-kindness, the foremost leader of all the world.
Toàn thể chúng sanh đi đến với đức Chánh Đẳng Giác Padumuttara, bậc Đại ẩn sĩ có tâm từ, vị Lãnh đạo tối cao của tất cả thế gian.
55.
55.
55.
‘‘Sattukañca baddhakañca †, āmisaṃ pānabhojanaṃ;
Dadanti satthuno sabbe, puññakkhette anuttare.
All of them give flour-cakes and sweets, material offerings of food and drink, to the Teacher, the unsurpassed field of merit.
Tất cả mọi người dâng cúng đến bậc Đạo Sư, là ruộng phước vô song, các loại bánh, các loại thực phẩm, vật thực, đồ uống và đồ ăn.
56.
56.
56.
‘‘Ahampi dānaṃ dassāmi, devadevassa tādino;
Buddhaseṭṭhaṃ nimantetvā, saṅghampi ca anuttaraṃ.
Having invited the best of Buddhas and also the unsurpassed Saṅgha, I too will give a gift to the god of gods, the Such-like One.
Sau khi thỉnh mời bậc Tối Thắng Giác Ngộ và cả Tăng chúng vô song, tôi cũng sẽ thực hiện việc bố thí đến bậc Thiên Nhân Sư, bậc Tādin (bất động).
57.
57.
57.
‘‘Uyyojitā mayā cete, nimantesuṃ tathāgataṃ;
Kevalaṃ bhikkhusaṅghañca, puññakkhettaṃ anuttaraṃ.
And these, having been dispatched by me, invited the Tathāgata and the entire Saṅgha of bhikkhus, the unsurpassed field of merit.
Và những người này, được tôi phái đi, đã thỉnh mời đức Như Lai và toàn thể Tăng chúng Tỳ khưu, là ruộng phước vô song.
58.
58.
58.
‘‘Satasahassapallaṅkaṃ, sovaṇṇaṃ gonakatthataṃ;
Tūlikāpaṭalikāya, khomakappāsikehi ca;
Mahārahaṃ paññāpayiṃ, āsanaṃ buddhayuttakaṃ.
I prepared a golden couch worth one hundred thousand, spread with a woolen rug, with a cotton-filled mattress, and with linen and cotton cloths—a seat of great value, suitable for the Buddha.
Tôi đã cho sửa soạn một trăm ngàn chiếc ngai vàng được trải bằng thảm len, với nệm bông và vải bọc, bằng vải gai và vải bông; là chỗ ngồi cao quý, xứng đáng với đức Phật.
59.
59.
59.
‘‘Padumuttaro lokavidū, devadevo narāsabho;
Bhikkhusaṅghaparibyūḷho, mama dvāramupāgami.
Padumuttara, knower of the world, god of gods, bull among men, surrounded by the Saṅgha of bhikkhus, approached my door.
Đức Padumuttara, bậc Thông Suốt Thế Gian, bậc Thiên Nhân Sư, bậc Ngưu Vương trong loài người, được Tăng chúng Tỳ khưu vây quanh, đã đi đến cửa nhà của tôi.
60.
60.
60.
‘‘Paccuggantvāna sambuddhaṃ, lokanāthaṃ yasassinaṃ;
Pasannacitto sumano, abhināmayiṃ saṅgharaṃ †.
Having gone out to meet the Perfectly Enlightened One, the protector of the world, the glorious one, with a serene and joyful mind, I led him to my own house.
Sau khi đi ra đón rước đức Chánh Đẳng Giác, bậc Hộ Trì Thế Gian, đấng lừng danh; với tâm tín thành, ý hoan hỷ, tôi đã dẫn Ngài vào nhà của mình.
61.
61.
61.
‘‘Bhikkhūnaṃ satasahassaṃ, buddhañca lokanāyakaṃ;
Pasannacitto sumano, paramannena tappayiṃ.
With a serene and joyful mind, I satisfied the one hundred thousand bhikkhus and the Buddha, the leader of the world, with the finest food.
Với tâm tín thành, ý hoan hỷ, tôi đã làm cho một trăm ngàn vị Tỳ khưu và đức Phật, bậc Lãnh Đạo Thế Gian, được thỏa thích với vật thực thượng hạng.
62.
62.
62.
‘‘Padumuttaro lokavidū, āhutīnaṃ paṭiggaho;
Bhikkhusaṅghe nisīditvā, imā gāthā abhāsatha.
Padumuttara, knower of the world, worthy recipient of offerings, having sat down amidst the Saṅgha of bhikkhus, spoke these verses:
Đức Padumuttara, bậc Thông Suốt Thế Gian, bậc xứng đáng nhận lễ vật cúng dường; sau khi ngự trong Tăng chúng Tỳ khưu, Ngài đã nói lên những câu kệ này.
63.
63.
63.
‘‘‘Yenidaṃ āsanaṃ dinnaṃ, sovaṇṇaṃ gonakatthataṃ;
Tamahaṃ kittayissāmi, suṇātha mama bhāsato.
I shall speak in praise of the one who gave this golden seat spread with a woolen rug. Listen to me as I speak.
‘Vị nào đã dâng cúng chỗ ngồi này, bằng vàng, được trải bằng thảm len; Ta sẽ tán dương vị ấy, các ngươi hãy lắng nghe lời Ta nói.’
64.
64.
64.
‘‘‘Catusattatikkhattuṃ so, devarajjaṃ karissati;
Anubhossati sampattiṃ, accharāhi purakkhato.
Seventy-four times he will exercise the kingship of the gods; attended by celestial nymphs, he will enjoy great prosperity.
‘Vị ấy sẽ làm vua cõi trời bảy mươi bốn lần; được các thiên nữ vây quanh, vị ấy sẽ hưởng thụ tài sản (cõi trời).’
65.
65.
65.
‘‘‘Padesarajjaṃ sahassaṃ, vasudhaṃ āvasissati;
Ekapaññāsakkhattuñca, cakkavattī bhavissati.
A thousand times he will rule the earth as a regional king; and fifty-one times he will be a wheel-turning monarch.
‘Một ngàn lần, vị ấy sẽ cai quản trái đất (với tư cách là tiểu vương); và năm mươi mốt lần, vị ấy sẽ là vị Chuyển Luân Vương.’
66.
66.
66.
‘‘‘Sabbāsu bhavayonīsu, uccākulī † bhavissati;
So ca pacchā pabbajitvā, sukkamūlena codito;
Bhaddiyo nāma nāmena, hessati satthu sāvako.
In all births and realms of existence, he will be of a high family. And later, having gone forth, urged on by a wholesome root, he will become a disciple of the Teacher by the name of Bhaddiya.
‘Trong tất cả các cảnh giới và các loài, vị ấy sẽ thuộc dòng dõi cao quý. Về sau, vị ấy sẽ xuất gia, được thúc đẩy bởi cội rễ thiện lành; với danh xưng là Bhaddiya, vị ấy sẽ là vị Thinh Văn của bậc Đạo Sư.’
67.
67.
67.
‘‘‘Vivekamanuyuttomhi, pantasenanivāsahaṃ;
Phalañcādhigataṃ sabbaṃ, cattaklesomhi ajjahaṃ.
I am devoted to seclusion, one who dwells in remote lodgings. All the fruits have been attained, and today I am one who has abandoned the defilements.
‘Tôi chuyên tâm về độc cư, tôi sống ở nơi trú ngụ xa vắng. Tất cả quả vị đã được chứng đắc, hôm nay tôi là người đã từ bỏ các phiền não.’
68.
68.
68.
‘‘‘Mama sabbaṃ † abhiññāya, sabbaññū lokanāyako;
Bhikkhusaṅghe nisīditvā, etadagge ṭhapesi maṃ’.
The all-knowing leader of the world, having directly known all my qualities, sat down amidst the Saṅgha of bhikkhus and placed me in the foremost position.
‘Bậc Toàn Tri, bậc Lãnh Đạo Thế Gian, sau khi đã biết rõ tất cả về tôi; ngự trong Tăng chúng Tỳ khưu, Ngài đã đặt tôi vào địa vị đệ nhất.’
69.
69.
69.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the Buddha’s teaching has been done.
Bốn Tuệ Phân Tích ... (v.v.) ... giáo huấn của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā bhaddiyo kāḷigodhāya putto thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus the Venerable Elder Bhaddiya, son of Kāḷigodhā, spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Tôn giả Bhaddiya, con trai của bà Kāḷigodhā, đã nói lên những câu kệ này.
Bhaddiyassa kāḷigodhāya puttattherassāpadānaṃ tatiyaṃ.
The third Apadāna of the Elder Bhaddiya, son of Kāḷigodhā.
Phẩm Hạnh Cảnh của Trưởng lão Bhaddiya, con trai của bà Kāḷigodhā, phần thứ ba.