Bản dịch
THA -ap44 — Ký Sự về Trưởng Lão Soṇakoṭikaṇṇa
2 Soṇakoḷivisattheraapadāna
BJT 1140Tôi đã thực hiện sự tô trét bằng vôi bột và đã cho xây dựng đường kinh hành của bậc Hiền Trí Anomadassī, đấng Trưởng Thượng của thế gian như thế ấy.
BJT 1141Tôi đã trải lót đường kinh hành với những bông hoa có màu sắc khác nhau. Sau khi thực hiện mái che ở không trung, tôi đã chăm lo bữa ăn đến đức Phật tối thượng.
BJT 1142Tôi đã chắp tay lên và đã đảnh lễ bậc có sự hành trì tốt đẹp. Khi ấy, tôi đã dâng tặng ngôi giảng đường dài đến đức Thế Tôn.
BJT 1143Biết được ý định của tôi, bậc Đạo Sư đấng Vô Thượng ở thế gian, đức Thế Tôn, bậc Hữu Nhãn đã thọ nhận, vì lòng bi mẫn.
BJT 1144Sau khi thọ nhận, đấng Toàn Giác bậc xứng đáng cúng dường (ở thế gian) luôn cả chư Thiên đã ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu và đã nói lên những lời kệ này:
BJT 1145“Người nào với tâm mừng rỡ đã thực hiện ngôi giảng đường dài cho Ta, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói.
BJT 1146Vào thời điểm tử biệt của người có được nghiệp phước thiện này, ngay lập tức sẽ hiện diện cỗ xe ngựa được thắng một ngàn con.
BJT 1147Người nam này sẽ đi đến thế giới chư Thiên bằng cỗ xe ấy. Khi sự việc tốt lành được thành tựu, chư Thiên sẽ tùy hỷ.
BJT 1148(Người này) sẽ cư ngụ ở cung điện có các nhà mái nhọn cao quý, vô cùng giá trị, đứng đầu trong các cung điện, có vữa tô là châu báu và đất sét.
BJT 1149(Người này) sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong ba mươi ngàn kiếp, và sẽ trở thành vị Thiên Vương trong hai mươi lăm kiếp.
BJT 1150Và (người này) sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương bảy mươi bảy lần. Tất cả các vị ấy đều có chung một tên là Yasodhara với cùng ý nghĩa.
BJT 1151Sau khi thọ hưởng hai sự thành tựu và gom góp sự tích lũy về phước thiện, (người này) sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương ở kiếp thứ hai mươi tám.
BJT 1152Cũng ở tại nơi ấy, có cung điện quý cao đã được hóa hiện ra bởi vị Trời Vissakamma. (Người này) sẽ cư ngụ tại thành phố được náo nhiệt với mười loại tiếng động ấy.
BJT 1153Vô lượng kiếp về sau, (người này) với tên là Okkāka sẽ là vị vua ở trong xứ sở, là đấng bảo hộ trái đất có đại thần lực.
BJT 1154Và người nữ quý cao ấy trong số tất cả 16.000 nữ nhân, là vị nữ Sát-đế-lỵ đã được sanh ra cao quý, sẽ hạ sanh chín người con.
BJT 1155Sau khi sanh chín người con, người nữ Sát-đế-lỵ sẽ chết đi. Một người nữ khác trẻ trung và yêu dấu sẽ làm hoàng hậu chánh cung.
BJT 1156Sau khi làm đức vua Okkāka vui thích, người con gái sẽ đạt được sự ưu đãi. Sau khi đạt được sự ưu đãi, người con gái ấy sẽ lưu đày các người con.
BJT 1157Và những người con bị lưu đày ấy sẽ đi đến ngọn núi (Hi-mã-lạp) tối thượng. Do nỗi lo sợ vì sự chia lìa dòng dõi, tất cả bọn họ đã sống chung với các người chị.
BJT 1158Và một người con gái sẽ bị thương tổn bởi nhiều căn bệnh. Các vị Sát-đế-lỵ sẽ vùi lấp (nàng ở trong hố đất, nói rằng): ‘Chớ tách rời dòng dõi của chúng ta.’
BJT 1159Có vị Sát-đế-lỵ sẽ đưa nàng ấy đi rồi sống cùng với nàng ấy. Lúc bấy giờ, sự chia lìa có nguồn gốc gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện.
BJT 1160Hậu duệ của hai vị ấy sẽ thuộc về dòng dõi tên là Koliya. Họ thọ hưởng của cải thuộc về nhân loại ở tại nơi ấy không phải là ít.
BJT 1161Sau khi mệnh chung từ xác thân ấy, (người này) sẽ đi đến thế giới chư Thiên. Cũng ở tại nơi ấy, (người này) sẽ có được cung điện quý cao, thích ý.
BJT 1162Được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, sau khi mệnh chung từ thế giới chư Thiên, (người này) sẽ đi đến bản thể loài người và sẽ có tên là Soṇa.
BJT 1163Có sự ra sức tinh tấn, có tính khẳng quyết, trong khi đang nỗ lực ở trong Giáo Pháp của bậc Đạo Sư, (người này) sẽ biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc và sẽ Niết Bàn không còn lậu hoặc.
BJT 1164Đức Thế Tôn Gotama, bậc Cao Quý dòng Sakya, vị có sự thấy không giới hạn, bậc có sự biết toàn diện, đấng Đại Hùng sẽ thiết lập (người này) vào vị thế tối thắng.”
BJT 1165Tôi đã được rèn luyện trong sự rèn luyện tối thượng, tâm của tôi đã khéo được củng cố, tất cả nhiệm vụ đã được đặt xuống, tôi đã Niết Bàn không còn lậu hoặc.
BJT 1166Đấng Long Tượng dòng dõi Aṅgīrasa, tợ như con sư tử đã được sanh ra tốt đẹp, sau khi ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu đã thiết lập tôi vào vị thế tối thắng.
BJT 1167Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Soṇa Koṭikaṇṇa đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Soṇakoṭikaṇṇa là phần thứ nhì.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
2. Soṇakoḷivisattheraapadānaṃ
2. The Second Apadāna: The Elder Soṇakoḷivisa
2. Thiên sự của Trưởng lão Soṇakoḷivisa
25.
25.
25.
‘‘Anomadassissa munino, lokajeṭṭhassa tādino;
Sudhāya lepanaṃ katvā, caṅkamaṃ kārayiṃ ahaṃ.
For the sage Anomadassī, the foremost in the world, the steadfast one, having made a plastering with stucco, I caused a promenade to be made.
“Đối với bậc ẩn sĩ Anomadassī, bậc tối thượng trong thế gian, bậc Tādī, sau khi thực hiện việc trát vữa, tôi đã cho làm một kinh hành đường.”
26.
26.
26.
‘‘Nānāvaṇehi pupphehi, caṅkamaṃ santhariṃ ahaṃ;
Ākāse vitānaṃ katvā, bhojayiṃ buddhamuttamaṃ.
With flowers of various colors, I strewed the promenade; having made a canopy in the sky, I fed the supreme Buddha.
“Tôi đã trải kinh hành đường với các loài hoa nhiều màu sắc. Sau khi làm một lọng che ở trên không, tôi đã cúng dường vật thực đến đức Phật tối thượng.”
27.
27.
27.
‘‘Añjaliṃ paggahetvāna, abhivādetvāna subbataṃ †;
Dīghasālaṃ bhagavato, niyyādesimahaṃ tadā.
Having raised my hands in añjali and paid homage to the one of good vows, I then dedicated the long promenade to the Blessed One.
“Khi ấy, sau khi chắp tay và đảnh lễ bậc có giới hạnh tốt đẹp, tôi đã dâng cúng đến đức Thế Tôn con đường dài.”
28.
28.
28.
‘‘Mama saṅkappamaññāya, satthā loke anuttaro;
Paṭiggahesi bhagavā, anukampāya cakkhumā.
Knowing my intention, the Teacher, unsurpassed in the world, the Blessed One, the one with vision, accepted it out of compassion.
“Bậc Đạo Sư vô thượng ở thế gian, sau khi biết được ý định của tôi, đức Thế Tôn, bậc có Mắt, đã thọ nhận do lòng bi mẫn.”
29.
29.
29.
‘‘Paṭiggahetvāna sambuddho, dakkhiṇeyyo sadevake;
Bhikkhusaṅghe nisīditvā, imā gāthā abhāsatha.
Having accepted it, the Perfectly Enlightened One, worthy of offerings in the world with its devas, sat down in the assembly of monks and spoke these verses:
“Bậc Chánh Đẳng Giác, bậc đáng được cúng dường ở thế gian cùng với chư Thiên, sau khi đã thọ nhận, đã ngự trong hội chúng Tỳ-khưu và đã nói lên những câu kệ này:”
30.
30.
30.
‘‘‘Yo so haṭṭhena cittena, dīghasālaṃ adāsi † me;
Tamahaṃ kittayissāmi, suṇātha mama bhāsato.
‘Whoever with a joyful mind gave me the long promenade, I shall proclaim him; listen to me as I speak.
“‘Người nào với tâm hoan hỷ đã dâng cúng con đường dài đến cho ta, ta sẽ tán dương người ấy. Trong khi ta nói, các ngươi hãy lắng nghe.’”
31.
31.
31.
‘‘‘Imassa maccukālamhi, puññakammasamaṅgino;
Sahassayuttassaratho, upaṭṭhissati tāvade.
‘For this one who is endowed with meritorious kamma, at the time of death, a horse chariot yoked with a thousand will appear at that very moment.
“‘Vào lúc lâm chung của người này, người được thành tựu nghiệp phước thiện, cỗ xe ngựa được thắng bằng một ngàn con sẽ hiện ra ngay khi ấy.’”
32.
32.
32.
‘‘‘Tena yānenayaṃ poso, devalokaṃ gamissati;
Anumodissare devā, sampatte kusalabbhave †.
‘By that vehicle, this person will go to the deva world. When he, who is born of merit, arrives, the devas will rejoice.
“‘Với cỗ xe ấy, người này sẽ đi đến cõi trời. Khi người có được sự hiện hữu tốt đẹp đã đến nơi, chư Thiên sẽ tùy hỷ.’”
33.
33.
33.
‘‘‘Mahārahaṃ byamhaṃ seṭṭhaṃ, ratanamattikalepanaṃ;
Kūṭāgāravarūpetaṃ, byamhaṃ ajjhāvasissati.
‘He will dwell in a supreme celestial mansion, worthy of great beings, plastered with jeweled clay, and endowed with excellent gabled chambers.
“‘Người ấy sẽ trú ngụ trong lâu đài cao quý, tốt đẹp, được trát bằng đất sét châu báu, được trang bị các gian phòng có chóp đỉnh tuyệt vời.’”
34.
34.
34.
‘‘‘Tiṃsakappasahassāni, devaloke ramissati;
Pañcavīsati kappāni, devarājā bhavissati.
‘For thirty thousand eons, he will delight in the deva world; for twenty-five eons, he will be a king of devas.
“‘Trong ba mươi ngàn kiếp, người ấy sẽ vui hưởng ở cõi trời. Trong hai mươi lăm kiếp, người ấy sẽ là vua trời.’”
35.
35.
35.
‘‘‘Sattasattatikkhattuñca, cakkavattī bhavissati;
Yasodharasanāmā † te, sabbepi ekanāmakā.
‘And seventy-seven times he will be a wheel-turning monarch. All of them will have the same name, being named Yasodhara.
“‘Và bảy mươi bảy lần, người ấy sẽ là vị Chuyển Luân vương. Tất cả các vị ấy đều có cùng một tên là Yasodhara.’”
36.
36.
36.
‘‘‘Dve sampattī anubhotvā, vaḍḍhetvā † puññasañcayaṃ;
Aṭṭhavīsatikappamhi, cakkavattī bhavissati.
‘Having experienced the two fortunes and having increased his accumulation of merit, in the twenty-eighth eon he will be a wheel-turning monarch.
“‘Sau khi hưởng thụ hai loại tài sản, sau khi làm cho sự tích lũy phước thiện được tăng trưởng, vào kiếp thứ hai mươi tám, người ấy sẽ là vị Chuyển Luân vương.’”
37.
37.
37.
‘‘‘Tatrāpi byamhaṃ pavaraṃ, vissakammena māpitaṃ;
Dasasaddāvivittaṃ taṃ, puramajjhāvasissati.
‘There also will be an excellent celestial mansion created by Vissakamma. He will dwell in that city, which is not devoid of the ten sounds.
“‘Ở nơi ấy cũng sẽ có lâu đài tuyệt vời được tạo ra bởi thần Vissakamma. Người ấy sẽ trú ngụ ở thành phố ấy, nơi không vắng mười loại âm thanh.’”
38.
38.
38.
‘‘‘Aparimeyye ito kappe, bhūmipālo mahiddhiko;
Okkāko nāma nāmena, rājā raṭṭhe bhavissati.
‘In an immeasurable eon from now, a protector of the earth, a king of great power named Okkāka, will be in the kingdom.
“‘Vào một kiếp không thể đo lường được kể từ đây, vị vua hộ trì quốc độ, có đại thần lực, tên là Okkāka sẽ có mặt ở vương quốc.’”
39.
39.
39.
‘‘‘Soḷasitthisahassānaṃ, sabbāsaṃ pavarā ca sā †;
Abhijātā khattiyānī, nava putte janessati.
‘She, a Khattiya queen of high birth, the most excellent of all the sixteen thousand women, will give birth to nine sons.
“‘Vị ấy là người cao quý nhất trong tất cả mười sáu ngàn phụ nữ, là hoàng hậu thuộc dòng dõi Sát-đế-lỵ, có dòng dõi cao quý, sẽ sanh ra chín người con trai.’”
40.
40.
40.
‘‘‘Nava putte janetvāna, khattiyānī marissati;
Taruṇī ca piyā kaññā, mahesittaṃ karissati.
‘Having given birth to nine sons, the Khattiya queen will die. A young and beloved maiden will then become the chief queen.
“‘Sau khi sanh ra chín người con trai, vị hoàng hậu sẽ mệnh chung. Một thiếu nữ trẻ tuổi và khả ái sẽ làm hoàng hậu.’”
41.
41.
41.
‘‘‘Okkākaṃ tosayitvāna, varaṃ kaññā labhissati;
Varaṃ laddhāna sā kaññā, putte pabbājayissati.
Having pleased Okkāka, the maiden will receive a boon. Having received the boon, that maiden will banish the sons.
“‘Sau khi làm cho vua Okkāka được hài lòng, thiếu nữ ấy sẽ nhận được điều ân huệ. Sau khi nhận được điều ân huệ, thiếu nữ ấy sẽ trục xuất các người con trai.’”
42.
42.
42.
‘‘‘Pabbājitā ca te sabbe, gamissanti naguttamaṃ;
Jātibhedabhayā sabbe, bhaginīhi vasissare †.
Having been banished, all of them will go to the excellent mountain. Out of fear of breaking their lineage, they will all cohabit with their sisters.
“‘Và tất cả những người ấy sau khi bị trục xuất sẽ đi đến ngọn núi cao quý. Do sợ hãi sự pha trộn dòng dõi, tất cả sẽ chung sống với các chị em gái.’”
43.
43.
43.
‘‘‘Ekā ca kaññā byādhīhi, bhavissati parikkhatā †;
Mā no jāti pabhijjīti, nikhaṇissanti khattiyā.
And one maiden will be afflicted with disease. Thinking, ‘May our lineage not be broken!’, the Khattiyas will bury her in a pit.
“‘Và một thiếu nữ sẽ bị các chứng bệnh hành hạ. Với ý nghĩ: ‘Mong rằng dòng dõi của chúng ta không bị pha trộn,’ các vị Sát-đế-lỵ sẽ chôn (nàng) xuống đất.’”
44.
44.
44.
‘‘‘Khattiyo nīharitvāna, tāya saddhiṃ vasissati;
Bhavissati tadā bhedo, okkākakulasambhavo.
A Khattiya, having taken her out, will cohabit with her. Then there will be a break in the lineage originating from the Okkāka clan.
“‘Một vị Sát-đế-lỵ sau khi đưa (nàng) ra sẽ chung sống cùng với nàng. Khi ấy, sẽ có sự pha trộn dòng dõi phát sanh từ gia tộc Okkāka.’”
45.
45.
45.
‘‘‘Tesaṃ pajā bhavissanti, koḷiyā nāma jātiyā;
Tattha mānusakaṃ bhogaṃ, anubhossatinappakaṃ.
Their offspring will be known as the Koḷiyas by birth. There, he will enjoy no small amount of human wealth.
“‘Con cháu của họ sẽ là dòng dõi Koḷiyā theo tên gọi. Ở nơi ấy, người ấy sẽ hưởng thụ tài sản không ít ỏi của loài người.’”
46.
46.
46.
‘‘‘Tamhā kāyā cavitvāna, devalokaṃ gamissati;
Tatrāpi pavaraṃ byamhaṃ, labhissati manoramaṃ.
Passing away from that body, he will go to the deva world. There also, he will obtain an excellent and delightful celestial mansion.
“‘Sau khi từ bỏ thân xác ấy, người ấy sẽ đi đến cõi trời. Ở nơi ấy cũng sẽ có được lâu đài tuyệt vời, làm vui thích tâm ý.’”
47.
47.
47.
‘‘‘Devalokā cavitvāna, sukkamūlena codito;
Āgantvāna manussattaṃ, soṇo nāma bhavissati.
Having passed away from the deva world, impelled by a wholesome root, he will come to a human state and will be named Soṇa.
“‘Sau khi từ bỏ cõi trời, được thúc đẩy bởi căn lành trong sạch, sau khi đi đến trạng thái làm người, người ấy sẽ có tên là Soṇa.’”
48.
48.
48.
‘‘‘Āraddhavīriyo pahitatto, padahaṃ satthu sāsane;
Sabbāsave pariññāya, nibbāyissatināsavo.
With energy aroused and mind directed, striving in the Teacher’s dispensation, having fully understood all the taints, he, being taintless, will attain final Nibbāna.
“‘Với tinh tấn được khởi lên, với tâm được hướng đến, trong khi nỗ lực ở giáo pháp của bậc Đạo Sư, sau khi liễu tri tất cả các lậu hoặc, người ấy sẽ tịch duyệt Niết-bàn, là bậc vô lậu.’”
49.
49.
49.
‘‘‘Anantadassī bhagavā, gotamo sakyapuṅgavo;
Visesaññū mahāvīro, aggaṭṭhāne ṭhapessati’.
The Blessed One, Gotama, seer of the limitless, bull among the Sakyans, the knower of distinctions, the great hero, will place him in the foremost position.
“‘Đức Thế Tôn Gotama, bậc thấy được vô biên, bậc ngưu vương của dòng họ Sakya, bậc biết rõ sự đặc biệt, bậc Đại Hùng, sẽ đặt (người ấy) vào địa vị tối thắng.’”
50.
50.
50.
‘‘Vuṭṭhamhi deve caturaṅgulamhi, tiṇe anileritaaṅgaṇamhi;
Ṭhatvāna yogassa payuttatādino, tatottariṃ pāramatā na vijjati.
When the rain has fallen and the grass is four fingers high, in a courtyard unstirred by the wind, for one who stands steadfast, devoted to the practice, there is no higher excellence beyond that.
Khi trời đã mưa, cỏ mọc cao bốn lóng tay, tại khoảng sân được gió thổi nhẹ; sau khi đã đứng vững, đối với vị đã nỗ lực thực hành pháp hành, không có sự vui thích nào vượt hơn điều ấy.
51.
51.
51.
‘‘Uttame damathe danto, cittaṃ me supaṇīhitaṃ;
Bhāro me ohito sabbo, nibbutomhi anāsavo.
Tamed in the supreme taming, my mind is well-directed. My entire burden has been laid down; I am extinguished, taintless.
Đã được thuần hóa trong sự huấn luyện tối thượng, tâm của tôi được khéo định tĩnh. Tất cả gánh nặng đã được tôi đặt xuống, tôi đã được tịch tịnh, không còn lậu hoặc.
52.
52.
52.
‘‘Aṅgīraso mahānāgo, abhijātova kesarī;
Bhikkhusaṅghe nisīditvā, etadagge ṭhapesi maṃ.
The Resplendent One, the great being, like a well-born lion, having sat down amidst the community of monks, placed me in the foremost position.
Vị Aṅgīrasa, bậc Đại Long Tượng, giống như sư tử vương cao quý; sau khi ngự trong Tăng chúng Tỳ khưu, Ngài đã đặt tôi vào địa vị đệ nhất.
53.
53.
53.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the Buddha’s teaching has been done.
Bốn Tuệ Phân Tích ... (v.v.) ... giáo huấn của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā soṇo koḷiviso † thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus the Venerable Elder Soṇa Koḷivisa spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Tôn giả Soṇa Koḷivisa đã nói lên những câu kệ này.
Soṇakoḷivisattherassāpadānaṃ dutiyaṃ.
The second Apadāna of the Elder Soṇa Koḷivisa.
Phẩm Hạnh Cảnh của Trưởng lão Soṇa Koḷivisa, phần thứ hai.